TẠI SAO TÔI THEO PHẬT GIÁO
NHƯ QUANG
(Canada)
Là đứa con áp út trong gia đ́nh, tôi thường quấn quưt bên mẹ. Ngày đó tôi c̣n nhỏ lắm, khoảng 6, 7 tuổi và mẹ tôi lúc đó cũng là một thiếu phụ mới ngoài bốn mươi. Mỗi đêm tôi theo mẹ đến một ngôi chùa nhỏ trong xóm để tụng kinh. Đứa con gái nhỏ cầm chiếc đèn pin soi đường cho mẹ, băng qua chiếc cầu nhỏ gập ghềnh, những lối quẹo quanh co. Khi người mẹ nghiêm trang trong chiếc áo tràng xám đảnh lể Phật, miệng đọc kinh theo tiếng chuông mỏ nhịp nhàng th́ đứa con gái cũng lẩm nhẩm những lời kinh quá cao siêu so với số tuổi của nó: Xá-Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, h́nh, thức, diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử, Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm… (Xin mở ngoặc nơi đây, tôi biết đọc từ năm lên bốn, lên năm ǵ đó và khi đến tuổi đi học th́ vào học ngay lớp tư là lớp hai bây giờ, thay v́ học lớp năm, tức là lớp một) Những buổi tụng kinh như thế bổng trở nên hữu ích khi cha tôi nằm xuống. Sau một cơn bạo bệnh, ông qua đời năm tôi lên bảy. Đó là sự thay đổi lớn lao nhất trong đời tôi. Cha tôi rất thương tôi. Như người đời thường ví von, tôi là đứa con gái rượu của cha. Đi đâu cha cũng dắt tôi theo. H́nh như ư cha là để khoe đứa con gái giống cha như đúc, lại thông minh, sáng dạ. Bảy tuổi đời c̣n quá nhỏ mà cái tang th́ quá lớn. Thương cha, tôi chỉ biết nh́n quan tài cha mà khóc. Khi thầy đến tụng kinh cầu siêu cho cha, thầy bảo phải có thân nhân cùng tụng th́ nhà tôi lại không có ai. Mẹ th́ bận bịu với những chuyện quan trọng hơn. Thế là tôi ngồi cạnh thầy cùng tụng trong suốt mấy thời kinh và trong suốt thời gian quan tài cha c̣n quàng ở nhà. Một đứa trẻ bảy tuổi, ăn chưa no, lo chưa tới mà đêm nào cũng cũng thức khuya tụng kinh cho cha làm ai cũng mủi ḷng. Chính tôi cũng khóc mỗi khi tôi đọc đến mấy câu: Hồi nào mẹ, mẹ, cha, cha. Bây giờ nhắm mắt mà ra ngoài đồng. Hồi nào vợ, vợ, chồng, chồng…
Sau đám tang cha, mẹ t́m về nương tựa Phật. Một thiếu phụ trẻ, đẹp, mới ngoài bốn mươi mà phải một ḿnh nuôi bầy con dại đang tuổi ham ăn, mê ngủ, nếu không nương tựa Phật th́ c̣n chỗ dựa nào an toàn hơn? Cũng sau đám tang, mẹ được Bác Hai tôi giới thiệu đến Phật giáo Nam Tông. Mẹ như người t́m ra chánh pháp, tin tưởng vào đạo Phật mạnh mẽ hơn. Mẹ đến ngôi chùa Nam Tông, cũng nằm trong xóm, rất thường xuyên. Thương mẹ goá bụa, cô đơn, tôi vẫn lẽo đẽo theo mẹ và tin vào những ǵ mẹ ḿnh tin. Cho đến một hôm, mẹ sai tôi đem gạo đến chùa cúng dường. Tôi vâng lời mẹ đi giữa trưa nắng cháy. Người tu nữ trụ tŕ chùa đi vắng, chỉ c̣n một sa di. Khi tôi chào vị sa di để ra về th́ vị sa di âu yếm nắm lấy tay tôi. Lúc đó tôi vừa mới lớn, khoảng 13, 14 tuổi. Những hiểu biết từ bao nhiêu năm đi chùa và khái niệm về giới tính của một đứa trẻ dậy th́ cho tôi biết hành động này không đứng đắn. Tôi rút tay lại, chạy vội về nhà nói với mẹ th́ bị mẹ mắng không nên nói những điều như thế với một người tu. Tôi sợ mẹ nên im nhưng ḷng tin đă bị hao hụt. Tôi tránh không đến ngôi chùa đó nữa. Về sau mẹ nghe thêm nhiều chuyện không tốt về vị sa di này nên mẹ cũng ít đến chùa đó hơn.
Năm tôi mười sáu tuổi, mẹ mua cho tôi chiếc xe Honda PC màu xanh lá mạ. Ngoài những lúc đến trường, tôi có nhiệm vụ phải đưa mẹ đi chùa. Khi th́ chùa Kỳ Viên, khi th́ chùa Pháp Quang. Thường nhất là chùa Pháp Quang v́ mẹ thọ giới với ngài Thiện Luật là trụ tŕ chùa Pháp Quang lúc đó. Mẹ tu tập rất là tinh tấn. Mẹ thường thọ bát quan trai giới, trai tăng, phóng sanh… Duyên lành đưa đến, tôi rất hoan hỷ với ngài Thiện Luật nên lại tiếp tục theo đạo. Lúc đó tôi c̣n có cơ duyên tiếp xúc với các vị cao tăng như ngài Hộ Tông, Ngài Giới Nghiêm, v..v…Không bao giờ tôi bỏ lở dịp Hạnh đầu đà hay tụng kinh sám hối. Đến năm tôi học Đệ nhị th́ một duyên lành khác đưa đến. Đại Đức Narada sang thăm Việt Nam ngụ tại chùa Xá Lợi, cách trường tôi chỉ một con đường. Sáng tôi đi học sớm, hoặc khi tan trường, tôi thường ghé qua chùa đảnh lể ngài, phụ giúp ngài một vài việc lặt vặt như lấy muổng, nỉa, dọn bửa ăn trưa, t́m quyển kinh, hay thông dịch một vài câu tiếng Anh đơn giản cho quư bác đến viếng ngài. Tôi may mắn được thọ giới với ngài, được ngài đặt cho pháp danh, và nghe những thời pháp quư báu của ngài qua lời thông dịch của Bác Phạm Kim Khánh. Mỗi lần ngài Narada đến Việt Nam tôi đều có mặt hàng ngày nơi chùa ngài tạm trú, hoặc Xá Lợi hoặc Kỳ Viên. Tôi cảm được cái tâm từ vô lượng và phạm hạnh của ngài nên thấy rất an vui khi ở cạnh ngài.
Không may cho tôi, niềm tin vào đạo Phật của tôi một lần nữa bị lung lay. Trước ngày lên đường vượt biên, tôi đến chùa lể một vị sư. Sư có cử chỉ và lời nói không được trang nhă nên tôi nản ḷng. Tôi bỏ quên đạo Phật từ dạo đó dù trong ḷng tôi vẫn c̣n những hạt giống tin yêu của chánh pháp.
Cuộc sống nơi xứ người mấy chục năm ṛng không thấy bóng một chiếc y cà sa làm ḷng tôi cứ ray rứt. Tôi nhớ những lúc đội mâm tứ vật dụng đi ṿng nhiễu Phật ở các cảnh chùa vào dịp lể dâng y Kathina, nhớ lời kệ Pali vang vang trên núi Bửu Long, nhớ khu vườn nhỏ sau chùa Pháp Quang, nhớ cốc ngài Thiện Luật, nhớ dăy tăng xá phấp phới lá y vàng ... Thỉnh thoảng, tôi ngâm nga một vài câu kệ mà tôi c̣n nhớ được: Cà sa oai đức chi bằng. Sắc vàng thanh bạch của hàng sa môn…Tôi càng nhớ những bậc thang dẫn lên pḥng ngài Narada ở chùa Xá Lợi, nhớ giọng nói từ bi của ngài. Tôi nhớ những buổi sáng chúa Nhật đến chùa thính pháp, thấy như trước mắt ḿnh c̣n tấm bảng ghi XIN ĐỂ GIÀY DÉP NƠI ĐÂY.
Nhớ cảnh chùa xưa, một hôm tôi đến chùa Bắc Tông gần nhà lể Phật. Trước tượng Phật uy nghi, tôi thấy lại ḿnh ngày mười tám tuổi, áo dài trắng trang nghiêm quỳ trước toà sen vào những dịp lể lớn hay những ngày sám hối. Tôi chợt nghĩ tại sao ḿnh không xin một pháp danh? Tiếc là pháp danh tiếng Pali do ngài Narada đặt cho tôi, tôi không c̣n nhớ. Tôi nhờ chị tôi ở Saigon giới thiệu tôi với một vị sư nào đó hoan hỷ đặt cho tôi pháp danh mới. Chỉ cần gửi đi mấy ḍng e-mail là tôi có được một pháp danh. Sư Thiện Minh đặt pháp danh cho tôi là Như Quang. Có lẻ tôi hữu duyên với sư Thiện Minh nên ba năm trước người nhà gửi cho một số băng giảng pháp của quư sư ở Việt Nam, cuộn băng đầu tiên tôi mở ra nghe là Năm Điều Quán Tưởng do sư thuyết. Bài kệ do sư kệ thật động tâm, nhất là đối với một người có tuổi, lại nghe vào một buổi chiều trên xứ lạnh tuyết rơi lả tả. Tôi nghĩ ḿnh phải tiếp tục đi trên con đường chánh pháp mà ḿnh đă dừng chân nghỉ bước quá lâu. Những chặng đường đă qua quả thật là thú vị tuy cũng có lắm nhọc nhằn. Nếu ngày xưa tôi theo Phật giáo v́ thương cha, thương mẹ th́ ngày nay tôi theo Phật giáo v́ yêu chính bản thân và v́ lời dạy của Như Lai trước khi nhập niết bàn: Tử sinh là việc lớn. Hăy rèn luyện thân khẩu ư cho thanh tịnh. Hăy làm cho sung măn tứ vô lượng tâm. Hăy qua khỏi bờ kia, chẳng nên cam chịu hoài cảnh trầm luân khổ đau sinh diệt nữa. Và bài kệ Năm Điều Quán Tưởng đă làm chất xúc tác giúp tôi đứng lên cất bước đi trên con đường c̣n quá thênh thang.
Đường t́nh yêu của tôi trắc trở như thế nào th́ đường dẫn tôi đến với Phật giáo cũng gập ghềnh như thế ấy. Bây giờ với tuổi đời chồng chất, tôi có cái nh́n khác hơn về những người đại diện cho Đức Thế Tôn. Cho dù có phải rơi vào hoàn cảnh phật ḷng của những năm trẻ dại, tôi cũng không bỏ đạo. Mục đích của tôi là đi cho đến nơi Thế Tôn chỉ ḿnh đến chớ không v́ gai góc trên đường mà quay ngược lại đường ḿnh đă đi qua hay rẻ về lối khác. Tôi đă có bảng dẫn đường là lời chỉ giáo của Như Lai nên không c̣n sợ lạc đường:
Đường đi Như Lai đă chỉ rỏ, thang Như Lai đă cho rồi và bước đi Như Lai cũng đă chỉ rỏ. Như Lai đă tới rồi và đă chỉ rỏ cho các con. Tới hay không là do nơi các con vậy.
[ TRỞ LẠI TRANG CHUYÊN ĐỀ]