V̀ SAO ĐẾN VỚI PHẬT GIÁO
T̀M VỀ CỘI NGUỒN NGUYÊN THUỶ
Phật Tử Hạt Cát
Câu hỏi của Sư Siêu Minh: “V́ sao đến với Phật Giáo?” khiến tôi phải ngồi lại, lục t́m trong kư ức rời rạc những kỷ niệm mỏng manh xa xưa nào đó mà tôi cũng đă quên khuấy tự bao giờ cái nguyên nhân tối sơ đă đưa tôi về với căn nhà Phật giáo.
Nếu phải dùng chữ đến để diễn tả việc theo Phật, học Phật, th́ quả thật tôi không có chỗ bắt đầu, bởi v́ từ khi tôi biết nhận thức những sự việc xảy ra chung quanh, bằng trí óc non nớt bé bỏng của ḿnh, th́ tôi đă thấy trong nhà có một ông Phật. À, không phải một mà tới ba ông Phật. Lúc bé, tôi nào biết đó là Phật ǵ, th́ cứ cho là ba ông đi. Chư Phật đứng trong khung kính lớn, màu sắc rực rỡ, được trịnh trọng đặt sát vách trên tủ thờ cao, ở chính giữa nhà, ngang với tầm nh́n đứng của một người lớn. Trên tủ thờ, tôi thấy có bát lư hương, cặp chân đèn bằng đồng chạm trổ mỹ thuật, một bên là b́nh hoa, một bên là chiếc đĩa men lam to, xem chừng như đă rất cũ kỹ, kê trên một chiếc giá gỗ thấp. Chỉ những ngày lễ, Tết, tôi mới thấy có hoa có trái chưng bày đầy đủ. Tất cả những thứ ấy được che kín đằng sau bức màn nền hoa nhu nhă, rũ xuống từ một sợi dây kẽm, giăng ngang trên cao giữa hai cây cột nhà. Phía trước bàn thờ là một chiếc bàn con, thấp hơn tủ thờ, vừa tầm ngồi, chỉ đủ chỗ cho chuông mơ hai bên, chính giữa là một quyển kinh nằm ngay ngắn. Chiều chiều khoảng năm, sáu giờ, sau khi làm vệ sinh, tắm táp sạch sẽ, ba tôi trịnh trọng thay vào bộ đồ màu lam cố hữu, vén tấm màn sang hai bên, cột lại gọn gàng bằng hai sợi dây cùng loại vải với bức màn, rồi ông thắp mấy nén hương, nghiêm trang khấn nguyện lễ bái. Lễ xong, cụ không vội bỏ màn xuống ngay mà đợi đến lúc chị em chúng tôi, trước khi đi ngủ, tới bàn Phật đứng chấp tay tụng bài sám nguyện xong th́ cụ mới trịnh trọng buông màn phủ kín tủ thờ lại. Tôi cũng không nhớ là lúc ḿnh mấy tuổi th́ ông cụ bắt tôi đứng chung hàng với các anh chị lớn, cùng đọc bài sám ấy, bài sám nguyện: “Đệ tử chúng con từ vô thỉ, gây bao tội ác bởi lầm mê, đắm trong sinh tử đă bao đời, nay đến trước đài vô thượng giác v.v…” Lúc ấy tôi c̣n nhỏ lắm, có lẻ 6, 7 tuổi ǵ đó, đọc chẳng hiểu ǵ hết, nhưng âm hưởng của bài sám này đă ăn sâu trong kư ức tôi, theo tôi đi suốt cả cuộc đời. Cho đến bây giờ, mỗi lần có dịp đến chùa, có dịp nghe lại bài sám nguyện đó, trong ḷng tôi dâng lên một cảm giác lâng lâng, cái cảm giác êm đềm của thời thơ ấu.
Vào những ngày rằm, mồng một, tôi thấy trên bàn thờ c̣n có thêm hoa tươi, nải chuối hay trái dừa đặt trên cái đĩa men lam cũ kỹ ấy. Thường th́ ông cụ chưng các loại hoa mà ở nhà quê người ta gọi là bông Trang, bông Điệp, bông Huệ cắt từ trong vườn. Những ngày rằm lớn hay giỗ chạp, Tết nhất, b́nh hoa khởi sắc hơn, với hoa Huệ trắng ngào ngạt toả hương, đôi khi có thêm nhành dương liễu mà mẹ tôi mua ở chợ về, và chưng bày lên tủ thờ từ tối hôm trước. Những ngày đó, vào lúc chúng tôi c̣n mơ màng giấc điệp trên giường, khoảng 4 giờ sáng th́ ba tôi đă thức dậy, làm vệ sinh và lại thay đổi y phục. Người kính cẩn thắp hương, đốt nến, lễ bái và sau đó tụng một thời kinh. Trong giấc điệp mơ màng, tôi nghe tiếng chuông, tiếng mơ hoà lẫn giọng ê a của ba, lại thêm mùi hương chiên đàn thoang thoảng phất vào mũi, tạo cho tôi một cảm giác êm ả mộc mạc, sảng khoái, đưa tôi lăng đăng lạc vào thế giới thần tiên mộng mị xa xôi.
Rồi một khung cảnh khác cũng gây cho tôi nhiều ấn tượng êm đềm khó quên đối với thời thơ dại của ḿnh về một niềm tin tâm linh và vẫn sống cùng tôi suốt tháng ngày ấy cho đến hôm nay. Hồi ấy, trước nhà tôi là một mảnh vườn con. Đứng dưới mái hiên trước nhà, thấp thoáng qua cây cối thưa thớt trên mảnh vườn đó, tôi có thể nh́n thấy quốc lộ 13. Phía bên kia quốc lộ là một khu vườn khác. Xuyên qua cây cối trong khu vườn bên kia quốc lộ, tôi lại có thể nh́n thấy nóc Quan Âm Các với khuôn mặt mờ mờ của Phật Bà Quan Âm màu trắng, vươn cao lên trên những cḥm cây xanh biếc trong khu vườn mới lập đó. Mấy chị em tôi trong những lúc rảnh rổi vẫn ưa chạy qua bên đó chơi trong khung cảnh mà tôi cho là thần tiên, với đủ loại hoa kiểng chưng bày quanh Quan Âm Các. Trụ tŕ am đường là một Sư Bà mà tôi quen gọi là Bà Chín. Bà sống ở đó một ḿnh. Thỉnh thoảng tôi thấy có một vài người đến thăm trong chốc lát rồi ra về. Am đường đó không biết được xây dựng từ bao giờ v́ nó rất cũ kỹ, vách ván, mái ngói rêu phong đơn sơ và nhỏ bé, duy có Quan Âm Các lộ thiên ở sân trước, th́ dường như vừa được kiến tạo nên c̣n mới mẽ lắm. Lối kiến trúc cũng hiện đại theo thời ấy như nền gạch hoa, mái ngói lưu ly… Tượng Quan Âm màu trắng với khuôn mặt từ bi là nơi tôi t́m thấy cả một sự b́nh an thanh thản của tâm hồn. Ngài cao to hơn người thật gấp rưỡi, tay cầm b́nh nước Cam lồ, đứng trên đài sen nh́n ra quốc lộ. Quanh Quan Âm Các đầy hoa kiểng xinh xắn uốn nắn h́nh rồng, dáng phụng. Trong khoảnh vườn đó, đa số cây ăn trái đều c̣n nhỏ, chưa thấy có trái nào, duy có cây ngọc lan là lâu đời hơn cả. Cây không cao lắm nhưng tàng lá xum xuê xanh biếc, chen lẫn những đoá hoa màu trắng nơn nà, như búp măng bàn tay con gái, toả hương thoang thoảng. Chúng tôi thích nhất chiều chiều được Sư Bà giao cho nhiệm vụ hái hoa dâng lên cúng Phật. Có một dạo, không biết ǵ lư do ǵ Sư Bà xin ba tôi cho hai chị em tôi qua đó ngủ lại có bạn với Sư Bà. Dạo ấy, khi nằm dưới chân tượng Phật Quan Âm, ngắm trời trăng đêm rằm, và ngủ lơ mơ trong hương ngọc lan, hoà quyện với hương trầm thoang thoảng, bên tai văng vẳng tiếng kệ kinh, tôi đă mường tượng ra h́nh ảnh những cô tiên nữ xinh đẹp, dịu dàng, nương gót làn mây bồng bềnh trắng xoá hư không, đang vẫy tay mỉm cười với tôi dưới mái Quan Âm Các.
Đó, vậy đó, buổi ban sơ của tôi đến với Phật pháp là như thế. Rồi tôi lớn hơn một chút, vào năm tôi học lớp nh́ lớp nhất, khi bắt đầu yêu thích những bài học thuộc ḷng có vần có điệu, yêu thích đọc những câu truyện cổ tích có bà tiên giáng trần ban phước, giải nạn cho những người tốt lành gặp phải tai ương, th́ tôi cũng bắt đầu ṭ ṃ lôi mớ kinh kệ của ba tôi chứa trong tủ thờ ra đọc vào những khi rảnh rổi. Đó là cách sinh hoạt của tôi ngoài nếp sinh hoạt nghiêm khắc mà hằng ngày ba tôi giáo dục cho con cái theo khuynh hướng của một nhà nho - tuy ông cụ là người biết chữ tây nhiều hơn chữ nho - Sau khi đọc hết số kinh, kệ trong tủ thờ của ba, dù không hiểu hết, tôi bắt đầu biết ông Phật nhiều hơn một chút. Tôi hiểu lơm bơm rằng, ông Phật dạy người ta làm lành lánh dữ, hễ ai làm việc lành th́ sẽ gặp quả báo tốt, ai làm ác sẽ nhận lấy kết quả không lành, đơn giản vậy thôi. Tuy nhiên, tôi vẫn không hiểu tại sao mỗi lần vào những kỳ rằm lớn, thấy mẹ khệ nệ tay xách nách mang, chuẩn bị đi viếng thăm ngôi chùa nào đó, ở lại vài ngày làm công quả th́ ba tôi vẫn thường hay nửa đùa nửa thật bảo rằng “Phật ở tại tâm chứ đâu mà đi t́m đi kiếm.” Nhà tôi hồi đó nửa chợ nửa quê, gần đấy không có một ngôi tự viện nào lớn lao để cho Phật tử lui tới sinh hoạt lễ bái vào những kỳ rằm lớn hay vào dịp Tết nên mẹ tôi vẫn thường đi những ngôi chùa ở rất xa. Có khi tôi được tháp tùng, có khi là các anh chị em khác của tôi. Tôi có dịp nh́n thấy tôn tượng Phật to lớn, nghiêm trang, được thờ phụng trong chính điện của những ngôi chùa mà mẹ dắt tôi tới. Tôi thắc mắc, ông Phật sao lại có thể ở trong tâm của người ta được nhỉ? Ḿnh thấy ông Phật rất to ở trên bàn thờ mà. Vậy th́ ông Phật thật lớn cở nào…? cũng giống như tôi đă từng thắc mắc “Tại sao người ta có thể chui vào cái radio để mà nói được vậy?”
Không có nhiều cơ hội được gần gũi với sinh hoạt của nhà chùa nên bao nhiêu hiểu biết về đạo Phật của tôi đều gói trọn qua số kinh kệ ít oi trong nhà mà tôi đă đọc v́ trí óc ṭ ṃ của tuổi ấu thơ, để rồi từ đấy, dù đi đâu, ở đâu, làm ǵ, nói ǵ tôi cũng e dè, đắn đo, nghĩ ngợi coi việc ḿnh sẽ làm, sẽ nói có đúng không, có xúc phạm ai không, có làm đau ḷng ai không, tương lai sẽ phải nhận lấy nghiệp quả xấu ác nào không .v.v..? Làm ǵ tôi cũng sợ mang tội nên tôi hay bị chê trách, bị mắng mỏ là khờ khạo, nhút nhát. Hồi đó, khi bị chê bai, bị mắng mỏ như vậy, tôi chỉ biết tủi thân, buồn bă, âm thầm thút thít một ḿnh.
Và rồi tuổi thơ cũng êm đềm qua đi. Tôi lớn lên và lập gia đ́nh. Thời buổi ấy t́nh h́nh an ninh trong xă hội ngày càng trở nên bất thường nên tôi càng không có nhiều dịp gần gũi với những sinh hoạt nơi cửa Phật, nhưng hằng ngày, qua truyền thông báo chí, mắt thấy đổ nát tang thương, tai nghe sinh ly tử biệt, cộng thêm thân phận của người phụ nữ khóc nhiều hơn cười trong xă hội đang xáo trộn khiến tôi càng nghĩ ngợi nhiều hơn về nhân quả. Có khi đối đầu với những hoàn cảnh ngang trái éo le, ngoài sự nhận định bằng con mắt nhân quả, tôi không thấy nguyên nhân nào khác để có thể giải thích những t́nh huống mà mọi người cho là vô lư, hoàn toàn không thể hiểu tại sao sự việc lại có thể xảy ra như vậy, như vậy v.v…có khi cho bản thân tôi và cho người ngoài cuộc nào đó.
Rồi th́, sự thay đổi diện mạo của đất nước đẩy đưa tôi xa rời nơi chôn nhau cắt rún, xa xôi cả một đại dương mênh mông, cách biệt cả nửa ṿng trái đất. Những năm đầu trên đất lạ quê người, sau những giờ mệt mỏi bươn chải kiếm sống, thời giờ c̣n lại là những chuỗi ngày nhớ nhà nhớ quê, nhớ ngôn ngữ, thèm được nghe, được nói tiếng mẹ đẻ đă khiến xui tôi lần ḍ t́m đến cộng đồng Phật Giáo VN tại địa phương, t́m đến một ngôi chùa khiêm tốn mới được thành lập do công, của đóng góp bởi đồng bào Phật tử tại thành phố và các vùng phụ cận. Sự thương nhớ quê hương khiến người ta thấy ấm ḷng khi quây quần với nhau trong một ngôi tam bảo. Ngôi chùa được h́nh thành là v́ vậy. Tôi cũng như đa số Phật tử khác, v́ bận rộn với con cái c̣n nhỏ dại, với việc kiếm sống thường nhật nên chỉ có thể dành thời giờ đến chùa sinh hoạt vào ngày cuối tuần. Tuy vậy, tôi cũng đă lấy làm hoan hỷ v́ có cơ hội được đóng góp phần nào năng lực nhỏ nhoi của ḿnh trong công việc vun bồi, phát triển ngôi tam bảo ngày càng vững vàng trong một giai đoạn khá lâu. Thuở ấy, điều kiện tài chánh của Phật tử và ngân quỹ của chùa hăy c̣n eo hẹp nên việc ấn tống không mấy dễ dàng, v́ vậy kinh điển rất hiếm hoi, quư giá. Thỉnh được quyển kinh nào về nhà là tôi đọc ngấu nghiến, cũng như đọc tất cả các loại văn hoá phẩm khác mà tôi có thể t́m thấy chung quanh ḿnh.
Là một người yêu thích thi ca, vào những năm đầu tiên trên đất khách, nỗi nhớ nhà, nhớ quê đă tạo nên chất xúc tác cho tôi cầm bút diễn đạt tâm t́nh của người con tha hương lạc lơng lên giấy trắng mực đen bằng những gịng thơ đậm đà t́nh tự dân tộc. Năm ấy ba mươi tuổi, lang thang trong mớ kinh điển mà tôi được đọc qua, tôi cảm thấy mục đích cuộc đời, mục đích t́m hiểu Phật pháp của ḿnh rất mơ hồ, ngoài những giáo huấn căn bản Tam Quy Ngũ Giới dành cho hàng Phật tử tại gia mà tôi bắt gặp rải rác đó đây, hiểu biết từ khi c̣n bé tí, tôi không t́m thấy một pháp hành cụ thể nào có thể áp dụng để phát triển trí tuệ. Tôi thấy sao ḿnh ngu si quá, đọc hoài bài kinh Bát Nhă mà không biết làm sao để soi cho thấu năm uẩn đều không; tôi không biết làm sao phát huy trí tuệ Bát Nhă của Bồ Tát để mà quán chiếu khi ḿnh hăy c̣n là một phàm phu tục tử. Phân vân lưỡng lự, không biết đâu là lối đi, tôi cảm tác bài thơ Hán Việt đầu tiên.
Huyễn huyễn phong vân tán,
Du du tuế nguyệt thâu.
Bán sinh hành lữ đoản,
Hà xứ ngă chung khâu ?
Ảo ảo thiên yên sắc,
Hư hư hải lăng âm.
Vô thường vô biên tác,
Hà xứ ngă như tâm?
(Gió mây tan tác bên trời,
Xôn xao năm tháng ngậm ngùi xuân xanh.
Quê người nửa kiếp phù sinh,
Biết trăm năm nấm mộ ḿnh nằm đâu?
Chập chờn khói mỏng trời cao,
Mang mang dâu bể sóng xao đêm ngày.
Vô thường đến chẳng riêng ai.
Biết trăm năm cái tâm này đi đâu?)
Nỗi niềm thương nhớ quê nhà, cộng thêm những khác biệt về truyền thống văn hoá bản xứ mà ḿnh khó hoà nhập, khiến tôi chơi vơi, hụt hẫng. Tôi như người trong cơn mộng ảo, ngủ lơ mơ, đi lơ mơ không biết ḿnh phải đi đâu, về đâu …
Diệp lục tịch
khâu tùng khiếu mộ,
Bạch vân thiên lư bạch du du .
Lăng cước phiêu lưu sầu cổ độ,
Hà xứ phong xuy lăo hư vô ?
(Lá xanh g̣ vắng
thông reo mộ,
mây trắng ngàn phương trắng hững hờ .
bước chân du tử sầu cổ độ,
gió từ đâu thổi măi hư vô)
Nh́n quanh hàng xóm láng giềng không cùng màu da tiếng nói với ḿnh, nh́n nếp sinh hoạt rất đỗi lạ kỳ, tôi thấy ngán ngẩm thay một kiếp phù sinh. Ḿnh đang hiện diện nơi đây, những lo toan sáng áo chiều cơm, hè nóng, đông lạnh này có ư nghĩa ǵ không? Cho đến bao giờ th́ ḿnh mới vứt bỏ được hết những lo toan này? Giả sử như ḿnh không có mặt trên cuộc đời th́ nhân gian này có thay đổi ǵ không ? Nhiều lần, tôi tự hỏi ḿnh đă là ai trong tiền kiếp xa xưa …
Bạch sa giang biên phảng phất,
Tạp trần nhân ảnh tà huân.
Tử b́nh phiêu linh giang mộ,
Yên thương tri kỷ thùy luân.?
(Phất phơ lụa trắng bên bờ,
Bóng em thấp thoáng bụi mờ nắng hanh.
Sông chiều bèo tím lênh đênh,
Bâng khuâng khói biếc, biết ḿnh là ai?)
Hỏi rồi tôi tự trả lời, tự nhủ rằng ta bất quá cũng chỉ là một hạt cát trên sa mạc, một áng mây trên bầu trời gió lộng, rồi mây cũng sẽ tan theo nỗi vô thường, và mây vẫn biến vẫn hiện theo duyên diệt duyên sinh, thôi th́…
Đông về thêm áo khoác,
Hạ cứ cỡi trần vai.
Cần chi mà thắc mắc,
Kiếp trước ḿnh là ai ?
Tôi sống lơ mơ, luôn cảm thấy bơ vơ lạc lơng trong cuộc đời đầy ồn ào náo nhiệt, tháng ngày quanh quẩn không biết ḿnh đang mong đợi một điều ǵ, một điều ǵ đó khó nói và không rơ rệt là điều ǵ cả.
Ba mươi hai tuổi chưa già,
C̣n đen nhánh tóc sao ta ậm ừ.
Đêm ngày cứ đợi Trang Chu,
Mượn đôi cánh mỏng bay mù hạc trăng.
Thời gian âm thầm trôi qua không báo trước, tôi cặm cuội làm việc suốt năm suốt tháng, vẫn nh́n Phật pháp như một món thuốc cứu khổ nhưng tôi chưa gặp cơn bệnh khổ thừa sống thiếu chết nào, nên vẫn chưa chịu thấm nhuần một cách sâu sắc món diệu dược này. Giống như người ỷ y ḿnh có món thuốc gia truyền công hiệu như thần, bệnh sơ sơ ngoài da không thèm sử dụng, mà cứ đợi chừng nào bệnh thấm sâu vào xương vào tuỷ mới chịu mang ra cấp cứu.
Ba mươi mấy c̣n lắm hoặc,
Biết ǵ chân lư cạn sâu.
Xem ra cũng cần học đạo,
Mà t́m không thấy đạo đâu.
Đôi khi tập làm đá gỗ,
Sách xưa đem văn đôi giờ.
Nửa khuya ḷng hoài cổ độ,
Cười khan, lệ chảy vu vơ…
Rồi …ḍng đời cứ trôi, và cũng đến một ngày kia …chợt ngẩng đầu lên tôi không biết khóc hay cười. Công khó nhọc dành dụm biến tan theo sở thích đua đ̣i của người thân thuộc trong gia đ́nh khiến tôi nghẹn lời. Tiếp theo đó nếp sống lại bị thay đổi bởi sự ra đi của một người. Tôi càng chiêm nghiệm thêm ra thế nào là vô thường, là khổ của thân phận con người. Biết th́ biết vậy, Đức Phật đă dạy là cơi ta bà này chứa đựng đầy khổ năo, là vô thường, vô ngă nhưng tôi chưa thực sự nếm được tinh thần vô ngă nên u sầu cứ đeo mang…
Rồi ….tôi bị bứt khỏi những hoạt động Phật sự v́ sinh kế trở nên bận rộn hơn. Tôi tiến tới giai đoạn rẽ một khúc quanh trong cuộc đời. Những tưởng khúc quanh này sẽ đưa ḿnh tới một chân trời êm đềm, bằng phẳng, nhẹ nhàng hơn trên quảng đường c̣n lại. Nhưng không, ngoài những nỗi niềm cay đắng của thân phận hồng nhan, những lo toan, tính toán được mất thiệt hơn trong nghiệp vụ thương mại đă chiếm hết thời gian, tâm trí, tim óc của tôi. Bị cuốn hút với công việc tôi đă không đặt chân tới chùa suốt mười lăm năm dài.
Rồi… cũng đến ngày thêm một biến cố khác xảy ra trong đời sống, cộng thêm tuổi đời chồng chất, tôi càng nhận chân rơ ràng hơn về những ưu bi khổ năo của cuộc đời. Bấy giờ tôi mới thấm thía những ǵ Đức Phật đă từng dạy. Quả thật nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước đại dương. Văn chương kim cổ đă tốn kém biết bao bút mực cho giả thuyết hồng nhan đa truân, mà, tôi không biết ḿnh có hồng nhan không, và cũng không biết giả thuyết này có phù hợp với tinh thần của Phật Giáo không, nhưng sao tôi thấy ḿnh quả là long đong lận đận. Tuy không quá vật vă bứt đầu bứt tai như người khác nhưng tôi vẫn không làm sao tránh khỏi nuốt vào ḷng những giọt lệ đắng cay cộng với sự âm thầm oán thán. Nếu không có niềm tin Phật pháp kề cận bên ḿnh, tôi không tưởng tượng được là lúc đó tôi sẽ ra sao. Tôi đă vật vă khổ đau, đă kêu khóc, đă oán trời trách đất không biết ḿnh đă tạo nên một nghiệp quả oan khiên nào.. Tôi quả thật không biết câu trả lời, chỉ biết là nhờ nương tựa vào Phật pháp mà tôi có thể góp nhặt nghị lực, kiên nhẫn vượt qua ḍng sông khổ ải cho đến ngày nó hoá giải một cách tự nhiên. Tàn cuộc rồi tôi nhận ra ḿnh vẫn thở, vẫn sống một cách b́nh thường .
Dạo ấy, ban ngày quay cuồng với công việc, tôi không thấy thời gian đáng sợ, nhưng đêm về là một ám ảnh thê lương đối với tôi. Tôi từng ước ao phải chi đừng có ban đêm trong thời gian ấy. Đêm từng đêm tôi mở mắt thao láo nh́n lên trần nhà. Sách vở, thi ca, âm nhạc v.v… thứ giải trí nào cũng không xong, tinh thần hoàn toàn bị đông cứng, quên trước quên sau, không có thú vui nào có thể len lỏi vào đầu óc tôi cho được. Viết dài ḍng rồi xé, đọc vài trang sách th́ chợt giật ḿnh, không biết ḿnh đă đọc những ǵ. Tôi luôn tự nhủ “gắng cho qua hết đêm nay rồi mai sẽ tính. Rồi mọi việc sẽ thay đổi, cuộc đời vốn vô thường mà.” Và rồi tôi cứ kiên nhẫn, cứ nằm suy gẫm về cái khổ từng phút từng giây và cứ nuốt lệ vào ḷng chờ đợi đêm qua đêm, ngày qua ngày. Đôi khi tôi cũng tự an ủi ḿnh rằng có lẽ đây là cái nghiệp của ḿnh, thôi th́ ráng trả cho xong. Buồn cũng trả mà vui cũng trả. Ḿnh nên chấp nhận là hơn, cứ thử xem sức ḿnh chịu đựng tới đâu… Và rồi, khi tôi bắt đầu quen dần với những sinh hoạt bất thường này, đầu óc bắt đầu lấy lại quân b́nh th́ mọi việc bỗng dưng kết thúc. Không biết có phải là do tôi đă … quán khổ suốt hai năm dài hay chăng mà sau khi bước qua được chặng đường đó rồi th́ tâm tư của tôi bỗng dưng biến đổi. Tôi cảm thấy cuộc đời chẳng có ǵ là quan trọng nữa. Ḷng bỗng dưng thấy nhẹ nhàng thanh thản như người thoát khỏi một cơn bệnh trầm kha. Tôi dửng dưng với được mất cuộc đời, nhẹ nhàng với nhân t́nh thế thái, quay lưng với tranh cạnh hơn thua. Càng ngày tôi càng thấy thấm thía, gần gũi với Phật pháp hơn .
Thời gian hai năm đối với một người b́nh thường có thể không dài, nhưng đối với tôi hai năm đó trong cuộc đời quả là vô tận. Khi tôi vừa bắt đầu thản nhiên chấp nhận hoàn cảnh th́ hoàn cảnh bỗng dưng thay đổi bất ngờ. Nó cũng lại làm cho tâm trạng của tôi rơi vào một t́nh huống hụt hẫng khác, từ tâm trạng phải luôn luôn phấn đấu với chính ḿnh để tránh gây ra ư nghiệp, khẩu nghiệp, nay không c̣n đối tượng để ḿnh phải ứng xử, tôi thấy dường như đời sống cũng bớt đi phần nào ư nghĩa bên cạnh sự thoải mái của tâm hồn. Tôi đem ư tưởng này nói cho bạn bè nghe th́ bạn bảo tôi điên. Tuy nhiên khi nhắc tới việc đă qua, bạn hỏi tôi sao có thể chịu được nếp sống như thế, tôi đưa bài thơ thay cho câu trả lời…
Ngă do vô bản ngă,
Hà khả đắc bỉ tư,
Tồn vong tuỳ duyên nghiệp
Sắc không, không diệc hư!
(Tôi c̣n không cả chính tôi,
Sao tôi có thể giữ người làm riêng.
Mất c̣n tùy bởi nghiệp duyên,
Có không, không cũng hiển nhiên không mà !)
……………………
Vắng mặt ở cửa chùa mười mấy năm, hôm tôi trở lại, gặp bạn bè hỏi thăm cuộc sống thế nào, tôi cũng không biết trả lời sao cho ổn thoả, thôi th́ mượn tạm một bài thơ làm câu trả lời vậy.
Nhược hựu tương phùng yêu mạc vấn,
Hoán di tân dị hữu vô ma ?
Hu ! Tri bất đáo hà như thuyết !
Ngă phương sinh tử dĩ kinh đa !
Nếu gặp lại nhau xin chớ hỏi,
Có ǵ mới lạ đổi thay không ?
Ôi! Biết làm sao mà tôi nói !
Nơi tôi sinh tử đă bao lần !
Ngày tháng vẫn trôi, tôi vẫn ăn, vẫn thở, vẫn rất gần mà cũng rất xa Phật pháp. Sáng hôm nào ngồi soi gương chải tóc, thấy rụng rơi ít nhiều sợi bạc, chợt nhận ra …
Ngă khán ngă kính trung,
Khán bất kiến ngă dung.
Kiến hồng trần nhất niết,
Bạch vân nhất sắc chung.
(Ta nh́n ta trong kính,
Ta chẳng thấy ta đâu.
Thấy bụi hồng một nắm,
Và mây trắng một màu).
……………………..
Và tôi hoảng hốt. Đôi bờ sanh tử đă gần kề, nước trôi trôi măi không quay lại, sự tồn tại của ḿnh trên cơi đời u mộng này mang ư nghĩa nào đây ?
Bạch nguyệt thước tinh vân biến mộng,
Trụ phong thương tự vọng chung canh.
Lăng minh sinh tử song hàn ngạn,
Thệ thuỷ uyên doanh hốt hoảng kinh !
(Nguyệt bạch sao ngời mây hoá mộng,
Cồn xanh gió đứng đợi năm canh.
Sóng reo sinh tử đôi bờ lạnh,
Nước chảy ghềnh sâu bỗng giật ḿnh!)
Cho đến lúc này th́ tôi vẫn c̣n đứng bên lề ngơ ngác giữa ḍng xe cộ ngược xuôi trên con đường t́m kiếm tâm linh. Tôi ngóng nh́n bốn phương tám hướng, lạc lơng, lạc lơng, bơ vơ, bơ vơ…
Bạch vân phiêu phiêu mộ bán,
Thiên trường đa thiểu hư vô.
Thiểu đa cảm hoài bỉ thử,
Thiểu đa kim cổ ưu tư.
(Lênh đênh mây trắng lưng chiều,
Phương trời nhè nhẹ ít nhiều không hư,
Ít nhiều đây đó riêng tư,
Cổ kim hoài cảm quan ưu ít nhiều.)
…………………….
Phiêu vân bạch mộ không,
Quá kiều hốt tâm vong.
Đạm hà cô phi nhạn,
Hà xứ ngă tâm chung ???
(Chiều hôm mấy trắng lênh đênh,
Qua cầu lơ đăng bỏ quên tâm này.
Chơi vơi nhạn lạc ráng phai,
Biết trăm năm cái tâm hoài ta đâu ???)
…………………..
Thế rồi, phương tiện thông tin đại chúng Internet bùng nổ. Tôi mày ṃ t́m hiểu cách sử dụng phương tiện thông tin này. Tuy chưa được thành thục lắm nhưng tôi cũng t́m ra một số trang nhà tiếng Việt. Lang thang hết trang nhà này đến trang nhà khác từ văn học nghệ thuật cho đến tôn giáo trên mạng lưới Internet, tôi say sưa đọc trong bất cứ thời gian rảnh rổi nào. Và một cơ duyên đưa đẩy, tôi may mắn đọc được pháp thoại của một vị Trưởng Lăo. Giáo ngôn của Người đă khai mở cho tôi một lối đi. Lần đầu tiên tôi được biết thế nào là Phật Giáo Nguyên Thuỷ, hay nói đúng hơn, qua những bài pháp thoại của Người, tôi chú ư nhiều hơn về giáo lư được lưu truyền trong kinh tạng Pali mà từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ có cơ hội được biết đến. Tôi bắt gặp một cảm giác thân thuộc dường như ḿnh đă đánh mất từ lâu lắm. Tôi như một người vừa bừng tỉnh dậy sau cơn mơ, như nắng hạn đổ xuống trận mưa rào. Tôi cảm thấy đây mới chính là điều mà ḿnh mong mỏi t́m kiếm bấy lâu. Thế là bao năm lang thang lưu lạc, hôm nay tôi đă bước chân về đến cổng nhà rồi. Mệt quá, ngồi phệt xuống đất tựa lưng vào cánh cổng mà nghỉ ngơi chút đă, khoan hăy vội vào nhà. Cái cảm giác này cũng thật là dễ chịu lắm.
Khúc phim dĩ văng đă được quay lại cho tôi nh́n thấy một sự thay đổi tâm linh khá lớn lao nơi bản thân của ḿnh. Từ ngày xửa, ngày xưa bé tí, tôi nh́n Đạo Phật như là một lối sống đạo đức căn bản để khỏi phải gặt hái những nghiệp quả không lành, giờ th́ tôi đă hiểu câu nói của ba tôi “ Phật tại tâm” ngày xưa. Quả thật thế gian này chẳng có ǵ trường tồn bất biến cả. Khổ, vô thường nhan nhản quanh ta, mà ta…
Một niệm
đuổi sau một niệm,
Chạy theo chạy muốn hụt hơi .
Quay nh́n tóc, tai, mũi, miệng,
Cái nào mới thực là tôi ?
…. tôi lại hiểu thêm rằng Đức Phật dạy không chỉ có vậy, Ngài đă dạy thế nào là khổ, thế nào là sự diệt khổ, thế nào là cách diệt khổ, làm sao để sống an lạc thanh thản trong hiện tại và mục đích tối thượng là làm sao để vượt thoát khỏi cái ṿng cương toả của sinh tử luân hồi. Ngài đă vẽ một tấm bản đồ, đă trang bị cho hậu thế đủ loại khí giới để chúng ta chiến đấu với đám giặc tham, sân, si triền cái, nhiễm ô mà giành lại chủ quyền sanh già bệnh chết trên trận địa thân, thọ, tâm, pháp, sinh, tử, luân hồi … mờ mịt.
Giờ th́ tôi đă có thể thanh thản, an nhiên tự tại hơn. Hằng ngày tôi vẫn sống giữ ǵn tâm ư như từ thuở bé đến giờ đă từng làm. Thêm vào đó, tôi cũng tập buông bỏ bớt những dính mắc, bao nhiêu nỗi niềm oán thán xưa kia chất chứa trong ḷng bỗng dưng tiêu sạch tự bao giờ. Nh́n lại những người từng gây đau khổ cho ḿnh, tôi thấy tội nghiệp cho họ hơn. Tuy cũng vẫn c̣n phải lo toan sinh kế nhưng cái lo này không ảnh hưởng tới tôi nhiều. Bước ra và đóng sầm cánh cửa văn pḥng lại sau một ngày làm việc là tôi phủi tay và phủi cả những bận bịu tính toán trong đầu. Tôi cũng chán đọc, chán nghe những thứ văn hoá phẩm kêu gào khóc lóc v́ tham ái, chán cả hội hè đ́nh đám rộn ràng, chán những thú vui màu mè giả tạo. Ở sở về là tôi đóng cửa không giao tiếp với ai trên những quan hệ có tính cách phù phiếm thế gian. Tôi giành đa số thời gian c̣n lại trong ngày để học pháp, hành pháp hầu chuẩn bị sẵn sàng cho bước kế tiếp là lên đường xông pha vào trận mạc vén màn vô minh. Bây giờ nh́n thấy người chung quanh ḿnh tất tả ngược xuôi chạy theo dục vọng vật chất rồi đấm ngực, dậm chân, than van, kêu khóc v́ những bất đắc ư xảy ra trong đời, thấy người sôi gan sân hận v́ oán hờn đố kỵ, hiềm nghi soi mói lẫn nhau, tôi ngậm ngùi thương cảm. Tôi ước ao làm sao cho họ có thể hiểu được những điều như ḿnh đă hiểu để giảm bớt khổ đau sầu muộn để thế gian này có thể là thiên đàng hạ giới cho nhân loại, để giáo pháp của Đức Thích Ca măi sáng ngời rạng chiếu trên hành tinh địa cầu này chớ không phải chỉ năm ngàn năm như kinh điển đă ghi chép lại. Tôi cũng cảm thấy sợ hăi trước viễn tượng nằm lăn lộn rên siết trên giường bệnh chờ chết nên tôi muốn hành tŕ sao cho ḿnh có thể ung dung tự tại lúc sống cũng như lúc chết, ung dung tự tại nói với bạn bè thân quyến bên ḿnh. “Tôi quyết định ngày mai, ngày kia là đi đó nha, đừng có ai động tâm xao xuyến buồn rầu v́ tôi đó nha v.v…” Tôi biết là khó lắm, không phải dễ, nhưng nếu tôi không chịu hướng tâm, không chịu nhắc nhở ḿnh mỗi ngày, mỗi ngày th́ làm sao cái nguyện vọng này có thể trở thành hiện thực trong một tương lai gần xa nào đó. Ư tôi muốn nói là không có bước thứ nhất th́ làm sao có bước thứ hai, và muốn làm một chuyến viễn du mà không hoạch định phương hướng, điều nghiên bản đồ cặn kẽ th́ làm sao tới nơi tới chốn an toàn, huống ǵ đây là một chuyến viễn tŕnh t́m về trú sở tâm linh.
Giờ th́ đời sống tôi đă có thể gọi là khá thanh thản. Cho dù vẫn phải lo lắng chuyện áo cơm, cho dù có biến cố ǵ xảy đến cho tôi nữa th́ tôi cũng có thể cười mỉm nhẹ nhàng, cứ thong thả mà ngắm mây trôi viễn phố…
Chưởng trung thư khinh bả,
Mộ xứ tịch huân liêu.
Chẩm mao tùng hạ ngoạ,
Khán thế bạch vân phiêu.
(Trong tay trang sách hững hờ,
Chiều hôm nắng quái cơi bờ mênh mông.
Gối tranh nằm khểnh cội tùng,
Xem nhân thế đó bềnh bồng trắng mây)
…. cứ cười khà sảng khoái một hơi “À ! Ta đă xong món nợ nhân gian rồi đấy.” Giờ chỉ c̣n một việc phải làm là tu tập một pháp hành nào đó có thể sống an nhiên, chết tự tại nữa thôi. V́ vậy tôi hằng ước nguyện rằng mong cho tôi một ngày gần đây rồi tôi cũng sẽ chán ngán tấm thân ngũ uẩn sinh già bệnh chết này để mạnh dạn đứng lên cầm gươm trí tuệ chặt đứt hết năo phiền, triền cái bủa vây mà giành lại chủ quyền làm chủ sinh tử luân hồi trong một tương lai nào đó. Điều tôi mong ước có phải là không tưởng chăng ? Ai đó xin trả lời cho tôi với.