NIỀM HẠNH PHÚC ĐƯỢC LÀM MỘT NI CÔ

Thượng tọa Ni Sangye Khadro

Nguyễn Văn Sáu biên dịch

 

Giới thiệu: Thượng tọa Ni Sangye Khadro (Kathleen Mcdonald) sinh tại Hoa Kỳ năm 1952 và theo học đại học California tại Davis. Bà nhận đại thọ giới tại thiền viện Kopan, Nepal vào năm 1974 và sau được thụ phong cao hơn tại chùa Hsi Lai Los Angeles vào năm 1988. Thượng tọa Ni Sangye đă giảng dạy Phật học tại Âu Châu, Bắc Mỹ và Uùc. Bà c̣n là tác giả cuốn sách rất nổi tiếng “Hành thiền như thế nào” (how to meditate)

 

Tôi sanh ra tại Sacramento, California vào năm 1952.  Tương tự như nhiều người Mỹ, tổ tiên tôi thuộc dạng pha tạp: về phía cha tôi, ông thuộc ḍng máu lai Tô Cách Lan - Ái Nhĩ Lan - Hà Lan, c̣n mẹ tôi thuộc ḍng Đức-Pháp. Cha tôi sanh tại Iowa, và đă phải trải qua nhiều cơ cực trong cuộc sống. Ông nội tôi qua đời khi cha tôi mới mười tám tuổi. Vào khoảng thời gian đại suy thoái kinh tế thế giới (great depression), thay v́ tới trường đại học ông phải đi làm để hỗ trợ tiền bạc cho mẹ và hai em gái. Cha tôi di chuyển đến Los Angeles vào năm 1936, ở đó ông t́m được việc làm và tiếp tục theo học trường đêm để hoàn tất kiến thức học vấn vào đầu những năm 1940, ông bị nhiễm lao và phải điều trị tại bệnh viện gần hai năm trời.

Cuộc sống của mẹ có phần dễ chịu hơn đôi chút, là đứa con duy nhất trong gia đ́nh, mẹ sanh ra tại Illanois, nhưng gia đ́nh của mẹ đă di chuyển đến Los Angeles khi mẹ mới lên ba tuổi. Mẹ đă theo học nhạc và đang chơi tại ban ḥa nhạc vào thời điểm mẹ gặp bố tôi. Sau đó, họ đă cưới nhau. Cha mẹ tôi lại di chuyển đến Sacramento, tại đó ba tôi bắt đầu làm công việc kế toán, c̣n mẹ tôi bắt đầu sanh em bé. Cha mẹ tôi có năm người con, ba trai hai gái. Tôi là con gái thứ hai trong gia đ́nh.

Cả hai cha mẹ tôi đều là người Công giáo đạo đức, và tất cả chúng tôi, các con trong gia đ́nh được theo học tại trường Công giáo. Cha mẹ tôi rất nghiêm khắc đối với con cái. Ông bà đă điều chỉnh lượng thời gian chơi, xem truyền h́nh và luôn bảo đảm cho chúng tôi đều hoàn tất bài làm ở nhà. Chúng tôi không giàu có ǵ cho cam (học phí đă ngốn hết một khoản chi trả của cha tôi) nhưng toàn bộ những nhu cầu thiết yếu của chúng tôi đều được chăm sóc kỹ càng.

Tôn giáo là một phần không thể thiếu trong cuộc sống chúng tôi. Toàn bộ gia đ́nh đến nhà thờ vào các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ quan trọng. Những đứa lớn đi với cha tôi để xưng tội vào các ngày thứ Bảy. Điều này là kể những tội lỗi bạn đă phạm với một vị Linh mục, rồi sẽ nhận được những lời khuyên để tự cải tiến. Cha đôi  cũng có khi tham dự các buổi tĩnh tâm (retreat) vào cuối tuần tại một tu viện. Ở đó, những người tham dự được hướng dẫn để cầu nguyện và suy niệm.

Khi c̣n nhỏ tuổi, tôi có khuynh hướng tự nhiên rất sùng kính Thiên Chúa. Các thánh và những lời dạy đỗ tôn giáo tôi đă học tại trường. Thánh lễ là một kinh nghiệm rất cảm động: Vị linh mục cử hành những nghi thức trong bộ lễ phục rất đẹp. Tiếng ca cầu kinh bằng tiếng cổ ngữ Latin. Ca đoàn và tiếng đàn điện tràn ngập thánh đường với những bài ca ngợi khen Thiên Chúa. Rồi lễ dâng nến, hoa và hương nhang. Tất cả đều hướng tâm hồn lên gần Thiên Chúa hơn.

Một trong các vị thánh, thánh Têrêsa thành Lisieux, là thần tượng của tôi từ thời tuổi nhỏ. Bà sanh tại Pháp gần cuối thể kỷ qua. Bà đă rất thánh thiện ngay từ thời c̣n nhỏ và trở thành nữ tu vào tuổi mười bốn và từ trần lúc chỉ mới hai mươi mốt tuổi. Cuộc sống của bà là một gương tận hiến cho Chúa và tu luyện  - bà rất khiêm tốn, quảng đại, nhẫn nại, vị tha và luôn luôn tưởng nhớ đến Chúa. Tôi đă muốn trở nên giống như bà và đôi khi cũng có suy nghĩ muốn trở thành một nữ tu. Nhưng tôi h́nh như đă không có được những đức tính tốt, tôi không kiên nhẫn và hay nổi nóng, ích kỷ và tham ăn. Tôi đánh nhau với các em trai và em gái tôi và bực bội với cha mẹ tôi khi không có được những ǵ tôi muốn. Tôi không muốn như thế nhưng tôi không thể, tôi đă sinh ra với tính khí xấu như vậy. Khi lớn lên, càng ngày tôi càng trở nên nản trí hơn v́ không thể là một con người như ư tôi muốn. Theo giáo lư Công giáo, các thánh nhân là những ngươi đặc biệt được Chúa chúc phúc với những phẩm chất tuyệt trần cùng những khả năng siêu phàm -  điều đó là những ǵ con người nhân loại chúng ta không thể kiểm soát nổi. Chúng ta được bảo phải làm tốt, nhưng chúng ta không được bảo cho biết phải làm thế nào để tu luyện phát triển những thái độ đó, nếu chúng ta không có. Tôi đă cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ. Nhưng không nhận thấy chút tiến bộ nào cả. Chính v́ thế thời gian qua đi, đức tin tôn giáo của tôi ngày càng tụt dốc, thay thế vào đó là cảm nhận nản ḷng và rối loạn.

Tôi rất thích đến trường,  những môn học tôi thích nhất là văn chương Anh và tập làm văn, nghệ thuật, địa lư và lịch sử. Tôi không thích tham gia thể thao, nhưng lại thích đọc sách vào các giờ rảnh rỗi. Sách là những cổng ma thuật dẫn vào các thời kỳ khác, các lănh địa khác, và các cách sống khác, cũng chính nhờ sách vở mà tôi tiếp cận được với triết lư Đông Phương. Tôi t́m thấy lư tưởng Phật giáo và Ấn Độ giáo thích hợp với cách thức suy nghĩ của tôi hơn. Một phần v́ tôi trở nên mê hoặc với Tây Tạng, và đọc bất kỳ cuốn sách nào tôi t́m được về quốc gia đó. Tôi bắt đầu mong mỏi đến ngày tôi thực sự có thể du lịch sang Tây Tạng, Ấn Độ và các quốc gia khác, tôi chỉ có thể đọc được mà thôi.

Bốn năm trung học lại là những năm khó khăn nhất trong cuộc sống của tôi. Đó là vào cuối những năm 1960 là giai đoạn khó khăn cho nước Mỹ. Chính quyền bị sa lầy tại chiến tranh Việt Nam, trong khi đó tại quốc nội hàng ngàn người xuống đường biểu t́nh chống đối. Những người da đen lâu nay bị đàn áp cũng biểu t́nh đ̣i quyền lợi cho họ. Những chàng trai trẻ vỡ mộng tụ tập lại San Francisco để t́m kiếm ḥa b́nh, t́nh yêu và những cảm giác lâng lâng. Những tiếng kêu của những người phản đối và những bài ca trữ t́nh rất quen thuộc vào thời đó đă vang vọng lên những vấn nạn và những ngờ vực đang chạy xuyên qua tâm trí tôi:  tại sao lại phải có chiến tranh? Tại sao lại  có một số người bất công ngay cả rất độc ác đối với đồng loại của ḿnh v́ những khác biệt về màu da, tôn giáo, chủng tộc và giới tính? Thực sự có ai đó được gọi là “Thiên Chúa” hay không? Nếu ngài hiện hữu, tại sao ngài không làm điều ǵ đó để giảm bớt đau khổ trên thế gian này? Tại sao chúng ta đang ở vào vị trí số một? Và điều ǵ sẽ xảy đến sau khi chúng ta chết?

Tôi cảm thấy “hệ thống” – chính quyền, giáo hội, xă hội và các tổ chức giáo dục – đă không thể đưa ra được những câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi trên, đôi khi c̣n góp thêm phần rắc rối vào nhưng vấn đề trên thế giới này. Chính v́ thế tôi ngạc nhiên tự hỏi, bạn có thể tin tưởng ai đây? Tôi rất ngạc nhiên đa số các bạn học lại có thể tự mải mê vào những mối bận tâm như quần áo, bạn trai, liên hoàn, thể thao, hầu như hoàn toàn mù tịt về những khó khăn hiện tại. Tôi chỉ t́m thấy một vài người bạn cùng cảm thấy như cách tôi cảm nghiệm được, chính v́ thế tôi thường bị cô đơn lẻ loi và bất hạnh.

Sau khi học xong trung học tôi vào đại học tại California. Khu sân băi Davis không cách xa nhà tôi là mấy.  Chuyên đề chính của tôi tại đại học là Pháp ngữ, nhưng tôi không có ư tưởng rơ ràng ḿnh sẽ làm ǵ trong cuộc sống. Tôi cũng tham gia một số lớp tại các khoa khác như:  tâm lư, nhân chủng học, nghệ thuật và âm nhạc.

Nhưng đó chỉ là những sinh hoạt ngoại khóa và là những đọ sức khiến cho thời gian tại đại học thêm ư nghĩa mà thôi. Tôi thấy nhiều người cũng giống như tôi, họ cũng quan tâm đến những vấn đề ḥa b́nh thế giới và nhân quyền và có cả một số người cũng quan tâm đến các vấn đề siêu nhiên nữa. Tôi quyết định theo lớp Hatha Yoga và thiền do một Thiền sư Ấn Độ phụ trách, và tôi cũng kết bạn với một phụ nữ đang luyện thiền Zen. Bà là Phật tử đầu tiên tôi bắt gặp, bà đă giúp tôi am hiểu đôi chút về Tứ Diệu Đế. Tôi bắt đầu hiểu ra những vấn đề toàn cầu và xă hội tôi đang quan tâm đều xuất phát từ tham lam, hận thù, ích kỷ, ngu dốt (vô minh) và  ở một mức độ sâu xa hơn, chúng xuất phát từ những người không am hiểu sự tồn tại của chính ḿnh và thiên nhiên, như Đức Phật và một số các bậc thầy bên phương Đông đă giải thích làm cách nào để thắng vượt được. Tôi bắt đầu quan tâm nhiều hơn nghiên cứu đến tận nguồn gốc sự thông thái của họ. Trong lúc này tại đại học tôi tiếp tục học hỏi qua sách vở và những buổi tranh luận với bạn bè.

Tuy niên, trong năm thứ hai, mối bận tâm đến tôn giáo phơng Đông trở nên mănh liệt hơn là mối bận tâm đến công việc học hành tại đại học. Tôi bắt đầu cảm thấy ḿnh bị lôi kéo vào một cuộc sống chiêm niệm siêu nhiên và là một cách để cải thiện cá tính của tôi và cũng là cách để t́m kiếm hạnh phúc và là một cách để đóng góp cho ḥa b́nh thế giới. Tôi nhận thấy ḿnh cần phải có một vị Thiền sư để hướng dẫn, chính v́ thế tôi quyết định bỏ học, đi đến Ấn Độ để kiếm một vị Thiền sư cho ḿnh. Cha mẹ tôi rất ngạc nhiên chấp nhận quyết định của tôi. Thái  độ của ông bà đối với con cái là mỗi người có cuộc sống riêng để sống. Chính v́ thế mà ông bà không xen vào quyết định của chúng tôi. Cha mẹ tôi biết tôi không được hạnh phúc đă từ lâu và đang t́m kiếm đôi điều ǵ đó và cha mẹ tôi đă chúc cho tôi may mắn t́m cho ra điều đó. Tuy nhiên ông bà rất buồn thấy tôi ra đi và lo lắng đến điều ǵ sẽ xảy đến với tôi.

Tháng 10 năm 1972, tôi đă ra đi mua vé không khứ hồi tới Luân Đôn (v́ tôi không biết khi nào có thể trở về). Tôi đă dành bảy tháng đầu đến thăm Âu Châu và Bắc Phi. Rồi lại dành ba tháng nữa để đi chu du đến khắp lănh thổ Ấn Độ. Tuy tôi bắt đầu cuộc hành tŕnh chỉ có một ḿnh, tôi thường du hành với một số “du khách ba lô” khác, tôi gặp được tại các nhà trọ thanh niên trên đường đi. Để giảm bớt lo lắng cho cha mẹ, tôi thường xuyên viết thơ cho họ và đều đặn chia sẻ với họ về chuyến mạo hiểm của tôi.

Cuộc tiếp xúc đầu tiên của tôi với văn hóa Phật giáo là tại Bamiyan, thuộc vùng châu thổ giữa Afghanistan, là nơi đạo Phật đă phát triển nhiều thể kỷ trước và là nơi tôi vẫn c̣n được chiêm ngưỡng những tượng Phật khổng lồ được tạc trong vách núi đá (hiện quân Taliban đă tàn phá trong trận chiến tranh vừa qua). Tại đây tôi có dịp đến thăm những căn hầm đă một thời có nhiều vị sư sinh sống. Tôi đă gặp hai người Úc vừa từ Ấn Độ tới và cho tôi biết về Dharamsala, là nơi đức Đạt Lai Lạt Ma và một số dân di cư Tây Tạng đang cư ngụ. Mối quan tâm xa xưa của tôi đối với Tây Tạng lại nổi lên, tôi quyết định tới đó. Nằm về phía tây bắc Ấn Độ, chỉ cần đi xe buưt trong một ngày là dễ dàng đến được Tây Tạng từ phía biên giới Ấn Độ - Pakistan.

Dharamsala là một thành phố nhỏ nằm dưới chân núi Hymalayas, một địa danh với vẻ đẹp ngoạn mục, núi có tuyết phủ trên ngọn nổi lên đàng sau vùng đồng bằng bao la của Ấn Độ trảûi dài xuống. Tại đây các di dân Tây Tạng đă xây dựng một nơi “cư trú” khiêm tốn cho nhà lănh đạo tinh thần của họ. Đức Đạt Lai Lạt Ma, cộng với một số thiền viện được dùng làm những trung tâm nghiên cứu và tu luyện nghệ thuật chữa trị truyền thống, những xưởng sản xuất thảm. Một ngôi làng thiếu nhi - là gia đ́nh và trường học dành cho hàng ngàn trẻ em Tây Tạng và một thư viện gồm các công tŕnh tác phẩm và văn khố Tây Tạng, tại đây người ta có tổ chức những lớp giảng dạy giáo lư Phật giáo bằng tiếng Anh.

Tôi bắt đầu tham gia các lớp học tại thư viện này và  ngay lập tức bị xúc động v́ những chân lư đơn sơ nhưng sâu sắc của những giáo lư như Vô thường, đau khổ và nhu cầu tu luyện “diệt dục” khỏi thế giới bên ngoài và t́nh yêu trong sáng dành cho mọi chúng sanh. Một số điểm khác xem ra có phần khó hơn để hiểu được: đó là bản chất trí tuệ, khả năng của mọi sanh linh đều đạt đến giác ngộ, đến vị tha – nhưng dù sao tôi cảm thấy những tư tưởng này rất thoải mái và rất truyền cảm.

Những giáo lư đó rất truyền cảm, cũng như các Thiền sư tại đây. Thượng tọa Geshe Ngawang Dhargyey, người đă dạy những lớp đó và các Lạt Ma tôi gặp đă thi thố ḷng vị tha, ḷng chân thực, năng lực và cá tính trí tuệ xuất sắc, mối bận tâm đầy t́nh thương đối với các thiền sinh. Trí tuệ và khiêm tốn – những phẩm chất tôi thấy rất ít các Thiền sư người Mỹ có được. Ngay cả nơi những người thường dân Tây Tạng, mặc dù lao nhọc họ phải trải qua, nhưng sự thường họ rất vui tươi, quảng đại, chân thực và đôn hậu. Trong những cuộc viếng thăm đến các nước khác, tôi thường thất vọng thấy rằng con người ta không sống theo những ǵ niềm tin tôn giáo của họ mách bảo. Chính v́ thế tôi thấy thích thú được nh́n thấy những người Tây Tạng đă thực hành giáo lư của Đức Phật trong cuộc sống hàng ngày.

Tôi lưu lại tại Dramasala trong năm tháng, tham gia các lớp học, đọc các  cuốn sách Phật Pháp và thảo luận các giáo lư đó với các vị đồng nghiệp người Châu Âu. Trong một trường hợp, tôi có diễm phúc gặp được Đạt Lai Lạt Ma:  một cảm nghiệm tuyệt vời đă đánh dấu việc tiếp xúc của tôi với Phật giáo Tây Tạng.

Thế rồi, tôi được phép gia hạn lưu trú tại Ấn Độ. Tôi lại đến Nepal, tại đó tôi học tập với các thầy Lạt Ma Tây Tạng cũng rất dễ dàng. Tôi đă tham gia một khóa huấn luyện đầu tiên kéo dài trong một tháng tại thiền viện Kopan do Thượng tọa Đại đức Lạt Ma Zopa Rinpoche và Lạt Ma Thubten Yesche vào mùa xuân năm 1974. Khóa huấn luyện này là một miệt mài tập trung cao độ vào giáo lư của Đức Phật bàn về chánh đạo dẫn đến giác ngộ; chương tŕnh diễn thuyết, hướng dẫn hành thiền và thảo luận kéo dài từ 5 giờ sáng đến 9 giờ tối mỗi ngày. Những tài liệu được phát tại cuộc hành thiền này không phải trả tiền tại tu viện Dharamsala; tôi cố gắng tự t́m hiểu nhiều lần nhưng không đem lại kết quả nhiều.  Chính v́ thế mà tại Kopan này, tôi đă học được cách hành thiền và cuối cùng đă khám phá ra được thiền ảnh hưởng đến trí tuệ của tôi ra sao, bằng cách nào để thay đổi những hiện trạng tiêu cực dẫn đến kết cục hữu hiệu và tích cực. Đó là những phương pháp tôi đă miệt mài t́m kiếm trong suốt cuộc sống của tôi.

Vào cuối khóa học. Tôi có cảm nhận mạnh mẽ là chẳng có ǵ đáng giá hơn trong cuộc sống là đạt đến được giác ngộ để chăm lo đến hạnh phúc của bá tánh. H́nh như cách ly tục trong cuộc sống là phương cách hữu hiệu nhất đối với công việc này. V́ thế, tôi yêu cầu được nhận thọ đại giới. Họ đồng ư với điều kiện tôi phải được sự đồng ư của cha mẹ. V́ đă nhiều tháng nay tôi đă viết thư rất cảm động về những cuộc gặp gỡ với Phật giáo và các nhà sư cũng như các Ni cô ở đây. Thế nên, họ không ngạc nhiên ǵ về yêu cầu của tôi xin được thọ đại giới trở thành Ni cô. Cha mẹ tôi chấp nhận quyết định của tôi cho là bất kỳ điều ǵ tôi làm cho cuộc sống của tôi không có vấn đề ǵ với cha mẹ tôi cả, một khi điều đó mang lại hạnh phúc cho tôi.

Tháng Năm, năm 1974, tôi nhận thọ đại giới và gia nhập cộng thể các Tăng Ni gồm có sáu mươi Tăng Ni người Tây Tạng và hai mươi người phương Tây tại thiền viện Kopan. Những người phương Tây có một chương tŕnh trong ngày tách biệt gồm cả hành thiền, tụng kinh, học hỏi và làm việc. Ba tháng mùa mưa được dành hết cho khóa huấn luyện hành thiền chuyên sâu, một ḿnh hay chia thành từng nhóm. Tôi lưu lại tại thiền viện Kopan trong ba năm, rồi quay trở lại Hoa Kỳ để thăm gia đ́nh. Kể từ đó trở đi, tôi đến cư trú tại các Tăng già Phật giáo khác nhau tại các quốc gia Châu Á và Châu Âu. Tiếp tục mở mang hiểu biết và thực hành những giáo lư của Đức Phật cũng như giúp đỡ trongviệc điều hành các trung tâm Phật giáo, đứng lớp cho các thiền sinh mới và giúp ấn hành các tài liệu về Phật giáo bằng tiếng Anh.

Chính v́ thế mà hiện nay, đă mười sáu năm sau lần tiếp cận đầu tiên với nếp sống theo truyền thống Phật giáo tôi đă học hỏi được ǵ? Đối với tôi,  những món quà quí báu nhất Đức Phật để lại cho chúng ta, đó là những phương pháp hành thiền để biến đổi trí tuệ:  chế ngự và cuối cùng là loại trừ được những trạng thái bất an như:  sân hận, ham muốn dâm dục và ích kỷ, đồng thời vun sới các phẩm chất tích cực như ḷng từ tâm (nhân ái), tính xả thi (quảng đại) và trí tuệ (đạt đến Huệ). Tôi đă cố gắng thực hiện những phương pháp trên và thấy chúng mang lại hiểu quả khả quan. Tuy tôi mới chỉ khởi sự theo chánh đạo dẫn đến giác ngộ. Tôi thấy ḿnh bớt sân hận hơn trước và hạnh phúc hơn. B́nh thản hơn và chủ tâm tới người khác hơn. Chính v́ thế tôi hoàn toàn tin tưởng rằng nếu tôi tiếp tục thực hành và tiếp tục làm việc với chính bản thân ḿnh, tôi sẽ có thể tiến tới hơn nữa trong tương lai.

Phật giáo cũng đă giúp tôi vượt thắng được sân hận tôi thường cảm thấy đối với đất nước, tôn giáo và gia đ́nh tôi. Tôi đă học cách đánh giá đúng đắn điều tốt nơi mọi người khác và nơi mọi tổ chức hơn là chỉ nh́n thấy những sai phạm của họ. Phật giáo đă dạy chúng ta phải nhận ra và tinh luyện những lỗi phạm của chính chúng ta, và rằng khi trí tuệ tâm trí chúng ta đă được tinh luyện khỏi mọi lỗi phạm chúng ta sẽ nhận ra mọi sự việc nơi bá tánh là tinh tuyền. Bằng cách đem tư tưởng này ra thực hành tôi thấy các tương quan của tôi với cha mẹ và người khác được cải thiện rơ ràng.

Ngày nay Phật giáo vẫn c̣n thích hợp cũng như đă rất thích hợp hơn 2.500 qua. Khoa khọc hiện đại và tâm lư đang đi đến một suy nghĩ chung, đó là những ǵ Đức Phật đă dạy, được dựa trên những kinh nghiệm trực tiếp của ngài. Đức Phật nhấn mạnh về việc giải quyết những vấn đề của nhân loại phải tiến hành từ bên trong, nghĩa là từ trí tuệ đựơc thấy nhiều nhà tư tưởng thuần lư Tây Phương chấp nhận. Những huấn thị của Đức Phật để đem ra phân tích và đem ra thử nghiệm bất kỳ tư tưởng đạo đức nào, trước khi được chấp nhận đă được tán đồng đối với đa số những người đang nghi ngờ những tín lư. Thông điệp bất bạo động của Đức Phật và tôn trọng tất cả các loại cuộc sống là cống hiến vô cùng quan trọng cho những cố gắng để cứu hành tinh của chúng ta khỏi bị hủy diệt. Cuối cùng, những điều dạy về hành thiền của Đức Phật đă cống hiến nguồn sức khỏe, hạnh phúc thể chất và tâm linh cho nhiều người.

Tôi hy vọng và cầu mong cho cuộc đời của tôi và những công việc tôi đang làm sẽ cống hiến vào việc bảo tồn Buddhadharma Phật pháp và sẽ đem lại lợi ích cho bá tánh. Cầu chúc cho bá tánh được hạnh phúc, được giải thóat khỏi mọi đau khổ và nhanh chóng đạt đến giác ngộ.