
Bản Pāli: Acariya Buddhaghosa thera
Bản dịch Anh ngữ: Yang Gyu An
Bản dịch Việt ngữ: Tỳ Khưu Siêu MinhTôi đã sử dụng ấn bản của Hội Thánh Điển Pāli: tập Sumaṅgala-vilasini (XB. W. Stede, tập II. Luân Đôn, 1971, tr. 516-615)
Kính dâng
Cố Hoà thượng Siêu Việt
Thượng toạ Thiện Nhân
Thượng toạ Bửu Đức
Thượng toạ Tăng Định
Kính dâng
Cha Nguyễn văn Ba
Mẹ Nguyễn thị Tại
Chú Nguyễn Thanh Quang
Chú Nguyễn Thanh Minh
Bs. Hồ Hồng Phước
Bs. Nguyễn Thị Phụng
MỤC LỤC
* LỜI NÓI ĐẦU
* CHƯƠNG 1
1. Chú giải nhập đề
2. Chú giải về những điều kiện tạo hạnh phúc trong Vương Quốc
3. Chú giải điều kiện xã hội chư vị Tỳ khưu nhận được
4. Chú giải những hiểm nguy do hành vi bất thiện đem lại
5. Chú giải về công việc kiến thiết thành Pāṭaliputta .
* CHƯƠNG 2
1. Chú giải về Tứ diệu đế
2. Chú giải về được đi đến giác ngộ không tái phạm nữa
3. Chú giải gương Chánh pháp
4. Chú giải về tình tiết dâm nữ Ambapālī
5. Chú giải về việc nhập kiết hạ tại ngôi làng Beluva
* CHƯƠNG 3
1. Chú giải về đoạn gồm những lời gợi ý
2. Chú giải về tình tiết Ma Vương đưa ra yêu cầu
3. Chú giải về từ bỏ sanh mệnh
4. Chú giải cuộc động đất lớn
5. Chú giải về tám tăng đoàn
6. Chú giải tám thắng xứ
7. Chú giải tám mối giải thoát
* CHƯƠNG 4
1. Chú giải cái nhìn từ biệt của Voi chúa
2. Chú giải về bốn điều đại liên quan
3. Chú giải về đoạn kinh người thợ bạc Cunda
4. Chú giải về việc lấy nước
5. Chú giải về giai thoại nói về Malla Pukkusa
* CHƯƠNG 5
1. Chú giải về hai cây Sāla song thọ
2. Chú giải về bốn cõi dành cho cảm thọ
3. Chú giải về chuyện kể những câu hỏi của trưởng lão Ānanda
4. Chú giải về những người đáng trưng bày trong bảo tháp
5. Chú giải những phẩm chất tuyệt vời nơi trưởng lão Ānanda
6. Chú giải giáo pháp về kinh Mahāsudassana
7. Chú giải về lời thần dân Mallas chào hỏi Đức Phật
8. Chú giải câu chuyện kể về hành giả Subbadha
* CHƯƠNG 6
1. Chú giải lời dạy cuối cùng của vị Như Lai
2. Chú giải chuyện kể Vô dư níp bàn
3. Chú giải về việc tôn kính Xá Lợi của Đức Phật
4. Chú giải đoạn kể về trưởng lão Mahākassapa
5. Chú giải về việc phân phát Xá Lợi của Đức Phật
6. Chú giải về việc kính lễ bảo tháp trưng bày Xá Lợi của Đức Phật
Lời nói đầu
CƠ SỞ BẢN DỊCH NÀY
Tôi đã sử dụng ấn bản của Hội Thánh Điển Pāli: tập Sumaṅgala-vilasini (XB. W. Stede, tập II. Luân Đôn, 1971, tr. 516-615). Tôi chỉ tìm thấy một vài sơ xuất nhỏ trong ấn bản này. Vì đa phần các đoạn văn trong tập chú giải MPS này đều lặp lại các tập chú giải trong Kinh Pāli và trong các tác phẩm hậu Kinh Điển (xin đọc dưới đây) những phiên bản tương đương này cũng đã được so sánh. Các vị biên tập những ấn bản tương đương này cũng sử dụng độc lập một số bản chép tay, chính vì thế tôi không cần phải tìm kiếm thêm nữa. Tuy nhiên, tôi cũng đã tham khảo các ấn bản Nava Nālandā Mahāvihāra (XB, Mahesh Tiwary, Nalanda, 1975, tập II tr. 215-331). Và hai ấn bản trên đĩa CD-ROM: Chaṭṭha Saṅgāyana Tipiṭaka CD-ROM (Igatpuri, India: Viện Nghiên Cứu Thiền Minh Sát (Vipassana), 1997); BUDSIR ghi trên CD-ROM (Bangkok; Đại Học Mahidol, 1994). Tôi cũng đã tận dụng những nguồn tư liệu này để gợi ý những tu chỉnh bản văn của Hội Thánh Điển Pāli.
Trong lúc dịch thuật, tôi cũng đã tham khảo các bản dịch tiếng Anh của MPS do T.W, và C.A.F. Rhys Davids, Tu Nữ Vajira và tác phẩm Những ngày cuối cùng của Đức Phật (Last Days of the Buddha.) Và tác phẩm của Maurice Walshe, những bài thuyết pháp dài của Đức Phật (The Long Discourses of the Buddha) Tôi cũng tận dụng tối đa tập chú giải phụ của ngài Dhammapāla, tức tập Dīgha-nikāya-aṭṭhakathā-ṭikā (XB Lily De Silva, Tập II, PTS, 1970. tr. 158-247).
TỰA CÁC CHƯƠNG
Không giống các ấn bản khác, ấn bản PTS không ghi tựa đề cho các chương, ngay cả trong MPS cũng như trong tập chú giải phụ. Những tựa đề cho các chương rất có thể được thêm vào sau này mà thôi; nhưng xét thấy rất cần thiết phải đặt tựa cho các chương. Tôi đã lồng vào trong bản mục lục.
Tựa đề các chương tương ứng với các tựa trong MPS trong hầu hết các ấn bản. Thêm vào trong suốt từ vaṇṇanā. Thêm vào đó, MPS lại đưa ra hai tựa đề cho chương một: vassakāra-brahmaṇo và Sariputta sihanado trong tập chú giải, CSCD lại bỏ qua tựa đề nidana-vaṇṇanā và BUDSIR giải thích là aṭṭha-maha-bhumicala-vaṇṇanā thay cho maha-bhumicala-vaṇṇanā và buddha-sarīra-dhātu-vibhajana thế cho sarīra-dhātu-vibhajana.
CÁC BẢN VĂN LIÊN QUAN ĐẾN TẬP CHÚ GIẢI
Hầu như hai phần ba bản văn MPS đều thấy trong các bản văn kinh điển khác, chính vì thế những phần chính của tập chú giải đều xuất hiện trong các tập chú giải khác hay trong các tác phẩm hậu kinh điển. Các bản văn tương đương cũng được liệt kê trong phần phụ lục. Phần cuối của tập chú giải được tái tạo trong tập Thūpavaṃsa, xuất hiện muộn hơn các tập chú giải khác. Chính vì rất khó để quyết định xem MPS đã mượn các bản văn đó trong Nikayas, cũng khó để xác định được tập chú giải MPS được biên soạn trước các tập chú giải khác hay không.
Buddhaghosa thường hay tham khảo Visuddhimagga và Samanta-pāsādikā mà không đưa ra bất kỳ bình luận nào, nhằm xác định hai tác phẩm được gán cho ngài làm tác giả được soạn thảo trước tập chú giải này. Trong lúc bình luận về những Ân Đức của Đức Thế Tôn (Sv. I 146) ngài đã tham khảo Thanh Tịnh Đạo (tr. 197-213) song cũng không bình luận gì về điểm này. Bình luận về các Thiền Chi (Sv II 562. 563; tr. 110. 111 dưới đây). Ngài đã tham khảo tác phẩm Carita-niddesa trong Thanh Tịnh Đạo tr. 101-10. Bình luận về các Giác chi dẫn đến Giác Ngộ (Sv. II 564; tr. 114 dưới đây), ngài tham khảo Ñaṇadassana-visuddhi-niddesa trong tập Thanh Tịnh Đạo (tr. 678-81). Trong lúc bình luận về bahussutā (Sv II 530; tr. 36tt, dưới đây) ngài cũng đã tham khảo Ovādavagga trong tập Samantapāsādikā (Sp IV 788-90). Bình luận về Hình phạt (brahmadanda) (Sv II 593; tr. 186 dưới đây) ngài tham khảo Samantapāsādika (Sp VII 1403). Bình luật về các tiểu giới luật (khuddaka và anukhuddaka) (Sv II 592-93; tr. 184tt, dưới đây), ngài tham khảo Samantapāsādikā (Sp VI 1296) trong lúc khẳng định rằng tư liệu được truyền lại trong Sangīti (kết tập) (Sp VI 592; tr. 184 dưới đây) và cũng đề cập đến cuộc đàm đạo của nhà vua Milinda với Tỳ khưu Nagasena trong Mil.tr. 144.
SÁCH LƯỢC DỊCH THUẬT
Tôi cố gắng hết sức mình để đưa ra một giải thích chính xác từng từ ngữ một. Trong các chú thích đi kèm với bản dịch này. Tôi cũng đã đưa ra rất nhiều chi tiết cần thiết những thông tin mang tính chất bình luận, ngữ pháp và từ vựng sẽ giúp độc giả theo dõi bản dịch dễ dàng hơn. Trước tiên tôi cố gắng truyền đạt chính xác ý nghĩa những lời bình luận của ngài Buddhaghosa. Tôi cũng đưa ra những chú thích mang tính chất giải thích về các từ Phật học chuyên biệt, như bhavaṅga. Buddhaghosa coi như độc giả đã biết toàn bộ những từ đó. Chính vì thế ngài không bận tâm giải thích các từ đó một cách chi tiết. Tôi cũng thêm vào những chú thích chính xác về tên riêng để giúp độc giả theo dõi tập chú giải của ngài Buddhaghosa không gặp mấy khó khăn. Tôi cũng quyết định không dịch các từ như nibbāna, và parinibbāna, được dùng trong tiếng Anh. Và các từ như jhāna, samādhi, dhamma và vinaya cũng để nguyên trong bản văn được sử dụng trong đó chính xác chỉ là các từ chuyên môn. Những cố gắng dịch các từ này chỉ nhằm tạo lộn xộn thay vì giúp hiểu rõ các từ đó.
Để có thể hiểu rõ một số lời bình của ngài Buddhaghosa tôi cũng đã tham khảo các ấn bản khác trong MPS: một bằng tiếng Phạn, năm bản bằng tiếng Trung Hoa, một bằng tiếng Tây Tạng, những khác biệt giữa các ấn bản này đều được ghi lại trong những ghi chú. Thí dụ Buddhaghosa cho rằng bữa tiệc cuối cùng đã không tạo bệnh hoạn cho Đức Phật, và các ấn bản khác cũng đồng ý với quan điểm của ngài.
Để có được một thảo luận đầy đủ về những quan điểm cá biệt nơi ngài Buddhaghosa trong tập chú giải này, và đặc biệt quan điểm của ngài về bản chất của Đức Phật. Tôi đã hướng dẫn độc giả đến phần giới thiệu của luận án tiến sĩ của tôi (Oxford, 1998) các tham khảo về “Phần giới thiệu này” được ghi lại trong các chú thích tiếp theo trong đề tài luận án này.
LỜI CÁM ƠN
Tôi vô cùng cám ơn Giáo Sư Gombrich vì đã giám sát công trình luận án Tiến sĩ của tôi. Và đã cố gắng rất nhiều để giúp in tập chú giải này và biên tập lời giới thiệu. Đối với sự trợ giúp hết sức rộng lượng trong suốt quá trình tôi thực hiện khoá học tiến sĩ này. Tôi cũng hết sức cám ơn Hội Korea Foundation for the Advanced Studies, quỹ Boden, quĩ Max Muler Memorial; và đại học đường Wolfen. Tôi cũng phải tri ân đến ngài Vinita Tseng, Sarah Norman, Peter Jackson, và L.S. Cousins vì đã giúp tôi với nhiều trợ giúp đắc lực để xuất bản cuốn sách này.