|
(Soạn giả: Đại đức Thiện Minh - Cư sĩ Đức Tài) * Dựa Theo,Tác Phẩm, Dịch Phẩm,Tài Liệu, chú giải của Ngài Ḥa thượng TỊNH SỰ (Mahā Thero San -Takicco) * Tài liệu tham khảo THẮNG PHÁP TẬP YẾU LUẬN của Ḥa thượng MINH CHÂU |
||||||||||||||||||||
Sắc pháp được dịch từ phạn ngữ pāli Dhammarūpa là một phần trong bốn phần pháp chân đế: Tâm (citta), sở hữu tâm (cetasika), sắc pháp (dhammarūpa) và níp bàn (nibbāna). Vậy Dhammarūpa - sắc pháp có nghĩa lư như thế nào? chúng ta cùng t́m hiểu! * Sắc pháp: là pháp có bản thể thật gồm nhiều thành phần vật chất vô tri, hay thể chất vô tri giác hằng tiêu hoại đổi thay, hoặc có đặc tính tính cách thay đổi và hoại diệt. Trong đó, ta phải cảm nhận hoặc có thể thấy, mới nhận hiểu các phần tử vật chất đó rất rất nhỏ, có thể quan sát hoặc cảm nhận được. Nói theo tính cách khoa học, là hàm chứa cả về vật lư ẩn bên trong phần tử vật chất đó. Như: một sắc có ít nhất 8 thành phần sắc cộng lại là sắc đất, sắc nước, sắc lửa, sắc gió (địa, thuỷ, hoả, phong), sắc cảnh sắc, sắc cảnh khí, sắc cảnh vị và sắc vật thực (nội). * Về sự tiêu hoại đổi thay: “Tâm qua 17, sắc nhào một khi”. Ở đây là nói đến sự tồn tại của một sắc (pháp) được tính nương theo phần tâm (citta) sanh diệt = 17 sát na th́ sắc pháp sanh diệt một lần (17 sát na x 3 (sát na tiểu: sanh, trụ, diệt) = 51 sát na tiểu). Điều cần biết là ḍng tâm thức diệt sanh rồi sanh diệt là vô cùng nhanh hay diễn biến cực kỳ mau lẹ. Theo chú giải một khảy núng tay, tâm sanh diệt 1.666.666.666 cái, ta h́nh dung dù chậm 17 lần so với tâm, nhưng cũng quá đủ để thấy sắc pháp hoại tiêu đổi thay nhanh như thế nào. Ngoài ra, sắc pháp biến hoại thay đổi do tác động ảnh hưởng bởi: nghiệp (kamma), tâm (citta), quí tiết (utujarūpakalāpa) và vật thực (āhārajarūpakalāpa). Cách hằng tiêu hoại biến đổi của thành phần vật chất vô tri giác này (sắc pháp) chịu sự chi phối bên trong thân, bên ngoài thân của bốn nhân tố: sắc nghiệp + sắc tâm + sắc quí tiết + sắc vật thực. Sắc pháp cùng danh pháp là hai yếu tố kết hợp cấu tạo thành sự luân chuyển cho một kiếp sống chúng sanh trong cơi hữu tâm, hữu sắc, hoặc riêng phần sắc pháp th́ hiện hữu cả 27 cơi hữu sắc. Sắc pháp Dhammarūpa, ta phải thẩm nghiệm phân biệt và cảm nhận biết cho thật kỷ, bởi dễ nhận định lệch đi, hay sai lầm giữa chơn đế và tục đế, giữa siêu lư và chế định, v́ sắc pháp vừa thực tế vừa vi tế. Sự nhận xét này, ta xem phần chú giải phân định về sắc pháp như sau: * Một hạt bụi rất nhỏ mà mắt thường (ư nói mắt của ta) có thể nh́n thấy được qua luồng ánh sáng gọi là Ratharina. * Một ratharina có thể phân ra làm 16 tajjāris * Một tajjāris lại đem phân ra làm 16 Anu * Một Anu tiếp tục phân ra làm 16 Paramanu. Một hạt bụi nhỏ ta nh́n thấy được bao gồm bởi 4096 paramanu. Tóm tắt: 1 hạt bụi rất nhỏ = 1 ratharinu Lấy 1 ratharinu phân ra 16 = 1/16 tajjāris Lấy 1/16 tajjāris phân ra 16 = 1/256 Anu Lấy 1/256 Anu phân ra 16 = 1/4096 paramanu Rút gọn 1 ratharinu phân ra 16 = 1/16 tajjāris; phân 16 = 1/256 Anu; phân 16 = 1/4096 paramanu Theo các nhà khoa học hiện nay th́ nguyên tử là phần tử nhỏ nhất của vật chất bất khả phân chia......., c̣n vào thời Đức Phật trước dương lịch 574 năm, Paramanu là một đơn vị vi tế nhất của vật chất, mà con người không thể tiếp tục phân tách ra được nữa. Nhưng với nhăn quang siêu phàm, Bậc toàn tri nhăn (Samantacakkhu) tức Nhất thế chủng trí (Sabbaññañāna) Đức Phật, Ngài đă nh́n thấy 1 Paramanu được cấu tạo bởi bốn đại hay bốn nguyên chất. Bốn đại hay bốn nguyên chất đó là: - Địa đại (sắc đất - Paṭhavī Phatu). - Thuỷ đại (sắc nước – Apo Phatu) - Hoả đại (sắc lửa – Tejo Phatu) - Phong đại (sắc gió – Vājo Phatu) Đồng thời nương theo bốn sắc đại trên, sinh ra 24 thứ sắc khác nhau gọi là sắc y đại sinh (sắc nương vào tứ đại sinh ra) loại sắc nương theo sinh ra là: - Sắc thanh triệt có 5 sắc - Sắc cảnh giới có 4 sắc - Sắc tính có 2 sắc - Sắc ư vật có 1 sắc - Sắc mạng quyền có 1 sắc - Sắc vật thực có 1 sắc - Sắc giao giới có 1 sắc - Sắc biểu tri có 2 sắc - Sắc kỳ dị có 3 sắc - Sắc tứ tướng có 4 sắc Sắc nương sinh (sắc y đại sinh) = 24 sắc Trước khi t́m hiểu đặc tính và tính năng của các thứ sắc nêu trên, ta cần biết thêm tám tính chất của sắc pháp như sau (hay cách gọi về sắc pháp có 8 ư nghĩa): 1. Pháp hiệp thế (Lokiya): là một trong năm uẩn (sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn), bởi chúng phụ thuộc (nằm trong) năm uẩn. 2. Pháp dục giới (Kāmāvacara): do lấy hết 28 sắc, v́ chúng nằm trong phạm vi của cơi dục lạc (cơi dục giới) 3. Pháp vô nhân hay pháp phi nhân (Ahetuva): v́ là thành phần vật chất vô tri giác, nên không có nhân tương ưng (tham, sân, si, vô tham, vô sân, vô si). 4. Pháp hữu duyên (sappaccaya): vẫn có, hay bị tác động duyên trợ tạo, tức do nghiệp (kamma), tâm (citta), quí tiết (utu) và vật thực (āhāra) giúp tạo ra. 5. Pháp hữu vi (Sankhāra): sắc pháp bị chi phối bởi bốn nhân trợ tạo kamma, citta, utu và āhāra. 6. Pháp hữu lậu (Sāsava): là đối tượng hay cảnh của dục vọng (tứ lậu: dục lậu tức sở hữu tham, hữu lậu tức tham bất tương ưng sanh cho người sắc giới – vô sắc và người dục giới đắc thiền, tà kiến lậu tức sở hữu tà kiến và vô minh lậu tức sở hữu si). 7. Pháp vô cảnh (Anārammaṇam): ở đây ư nói không tự nhận biết cảnh, mà chỉ làm chỗ nương cho tâm thức biết cảnh, hoặc là gọi pháp phi sở duyên, chỉ làm chỗ dựa cho ư thức biết cảnh. 8. Pháp phi trừ (Appahātabba): khác với danh pháp (cần đoạn trừ phiền năo), sắc pháp không thể đoạn diệt các kiết sử như phần danh pháp; tuy nhiên vẫn phải bị luật vô thường chi phối, chỉ khi “Vô dư níp bàn” th́ sắc pháp tự diệt mất (không c̣n sanh diệt). I. PHẦN ĐẶC TÍNH, TÍNH CHẤT CỦA 28 SẮC: hay nghĩa lư của sắc pháp – phân ra làm 28 thứ sắc: A. NHÓM SẮC TỨ ĐẠI 1. SẮC ĐỊA ĐẠI HAY ĐỊA GIỚI HOẶC SẮC ĐẤT (PAṬHAVĪ PHATU): Mahapaṭhavī Phaturūpa dịch là sắc địa đại, hay sắc địa giới, hoặc sắc đất đại hiển. Bởi sắc này là một trong bốn sắc (đất, nước, lửa, gió) h́nh thành nên sắc uẩn, tức loại sắc cùng ba sắc kia kết hợp lại tạo ra một khối, một nhóm tương tác lẫn nhau, và cũng là một trong bốn thành phần chánh, nên gọi là đại hay địa đại. * Sắc Địa Đại có đặc tính như sau: - Về trạng thái: cứng hoặc mềm - Về phận sự: là duy tŕ (tạo vị trí, chỗ dựa cho sắc đồng sinh). - Về thành tựu: hứng chịu, chứa đựng. - Về nhân cần thiết: có 3 kia (nước, lửa, gió) cùng tương tác. Như vậy: sắc đất hay địa đại là bản thể chơn tướng “cứng hoặc mềm” lại làm chỗ chứa đựng các sắc đồng sinh. Nên có pāli chú giải như vầy: Sahapātarūpāni pathanti patiṭṭhahanti etthāti = PAṬHAVĪ sắc nào làm chỗ, thành chỗ để cho các pháp đồng sinh để nhờ đó gọi là đất. Hoặc: sắc đất là yếu tố nâng đỡ và vật làm nền tảng cho các sắc khác (nói chung là sắc pháp, nói riêng là ba sắc đại c̣n lại) nương chỗ dể nhờ mà tồn tại. Tức sắc có đặc tính, tính năng thành nơi để, để nhờ của những sắc đồng sinh hoà hợp, đây gọi là đất hay sắc đất. Tóm lại: Sắc đất: phần vật chất có bản thể chơn tướng chứa đựng – duy tŕ với dạng cứng và mềm. 2. SẮC THỦY ĐẠI HAY THỦY GIỚI HOẶC SẮC NƯỚC (ĀPO PHATU): Mahā Āpo Phaturūpa dịch là sắc thuỷ đại hay sắc thuỷ giới hoặc sắc nước đại hiển. Sắc này cũng là một trong bốn sắc chánh (tứ đại), tương tác nên sắc uẩn. Sắc thủy đại hay sắc nước, có đặc tính như sau: - Về trạng thái: chảy ra hay trạng thái quến lại - Về phận sự: có cách tiến hoá, nhờ sự chảy ra hay quến lại của nước. - Về thành tựu: tóm siết chặt lại tức kết tụ kết hợp lại. - Về nhân cần thiết: có ba đại c̣n lại (đất, lửa, gió) Như vậy: sắc thuỷ đại hay sắc nước đại hiển là bản thể chơn tướng “chảy tan ra và quến tụ lại” hoặc theo cách chảy ra đượm nhuần cho các sắc đồng sinh. Hay là: sắc này (nước) làm cho các phần tử rời rạc, kết hợp lại với nhau, mà ta nhận biết về một h́nh thể, như các vật chất chung quanh: tấm giấy, cái bàn, chiếc nón...... nếu không có đặc tính của sắc nước (thủy đại) làm tính năng kết dính (quến lại) th́ mănh giấy, cái bàn, chiếc nón sẽ không h́nh thành, có ra h́nh thể để cho chúng ta biết được, mà trở nên những phần tử rời rạc không đồng nhất. Theo pāli, có chú giải về sắc thủy đại như sau: - Āpeti sahajātarupesu byāpetvā tiṭṭhitīti = Āpo: sắc mà làm đượm nhuần khắp cả pháp đồng sinh gọi là nước. - Appāyati sahajātarupāni suṭṭhu bruheti vaddhe tīti = Āpo: sắc mà làm cho những sắc đồng sinh tiến hoá, tươi tốt, tốt đẹp đó gọi là nước. - Sahajātarupāni avippakiññāni katvā thuso pāti rakkhatīti = Āpo: sắc mà quến lại (kết chặt) bảo tŕ cho sắc đồng sinh đặng chặt chẻ, không cho hoại tán rời ră, sắc ấy gọi là nước. Tóm lại: Sắc nước: phần vật chất chảy ra, quến tụ, thấm, rịn, tươm, ướt, hoà tan và gom lại. 3. SẮC HỎA ĐẠI HAY HỎA GIỚI HOẶC SẮC LỬA (TEJO PHATU): Mahā Tejo Phaturūpa dịch là sắc hoả đại hay sắc hoả giới hoặc sắc lửa đại hiển; đây là sắc chánh thứ ba trong sắc tứ đại hiển; và đồng thời là một trong bốn tác nhân h́nh thành sắc uẩn. * Sắc hoả đại hay sắc lửa, có đặc tính như sau: - Về trạng thái: cách nóng cách lạnh. - Về phận sự: làm cho chính. - Về thành tựu: làm cho ấm áp. - Về nhân cần thiết: ba đại c̣n lại (đất, nước, gió). Như vậy: sắc hoả đại hay sắc lửa là bản thể chơn tướng “nóng hay lạnh”; tức làm cho các sắc đồng sinh sẽ khô chín, không hư hoại. Hay là: sự nóng, sự lạnh làm cho chín gọi là lửa, nói nôm na lửa nóng và lửa lạnh. Sắc lửa ở đây phải được hiểu là thành phần nóng lạnh trong vật chất tức lạnh cũng là một h́nh thức của lửa). Sự tạo tác của sắc lửa là làm cho vật chất trở nên sinh động, linh hoạt và nhu nhuyến. Nói cách khác, lửa giúp sắc pháp tăng trưởng tồn tại hoặc huỷ hoại đều do yếu tố lửa gây ra. Trong tứ đại sắc lửa là yếu tố có tính năng làm cho vật chất tự hồi sinh. Pāli có chú giải về sắc lửa như sau: Tejeti patipacetīti = Tejo làm cho chín gọi là lửa. Vấn đề “làm chín”, về phần lạnh cũng khô chín. Tức, động tác lửa nóng hay lạnh là phần vật chất có nhiệm vụ nung chín về cả hai mặt. * Lửa hoạt động trong thân có 5 cách: - Là chất ấm trong thân (hơi ấm) - Là chất nóng trong thân hơi nhiều (sốt vừa) - Là chất nóng quá độ (sốt cao) - Là lửa làm cho thân già (lăo hoá) - Là lửa làm cho tiêu hoá vật thực. Tóm lại: Sắc lửa: Phần vật chất có đặc tính âm dương bằng cách “làm chín” với hai dạng “nóng và lạnh”. 4. SẮC PHONG ĐẠI HAY SẮC PHONG GIỚI HOẶC SẮC GIÓ (VAYO PHATU): MahāvayoPhaturūpa dịch là sắc phong đại hay sắc phong giới hoặc sắc gió đại hiển. Đây sắc thứ tư trong sắc tứ đại h́nh thành nên sắc uẩn, nên không thể thiếu sắc gió này, khi kết hợp khối uẩn thuộc về sắc tức sắc uẩn. * Sắc gió hay sắc phong đại, có đặc tính như sau: - Về trạng thái: cách lay động hoặc trạng thái căng ra. - Về phận sự: làm cho chuyển động khua động có âm thanh. - Về thành tựu: vật chất khác di chuyển, kéo đi dời chỗ sắc khác. - Về nhân cần thiết: ba đại c̣n lại (đất, nước, lửa). Như vậy: Sắc phong đại hay sắc gió là bản thể chơn tướng “lay động và căng ra”. Tức sắc này với tính năng làm cho các sắc đồng sanh rung chuyển, chuyển động đổi chỗ và đồng thời gió cũng làm cho cứng vững, căng ra. Hay là: sự kéo đi di dời, cách căng ra, cứng vững tạo năng lực di động cho pháp đồng sinh di chuyển theo, gọi đây là gió, tức sắc phong đại. Nhờ vào phần vật chất gió mà vật chất lửa (nói riêng) di chuyển được khắp châu thân, hay đi khắp mọi nơi. * Sắc phong đại có pāli chú giải như vầy: - Vāyati sahajātadhamme apatamāne katvā vahatīti = Vāyo: sắc mà kiềm sắc đồng sinh cứng vững không lay động gọi là gió. - Vāyati desantaruppatti hetubhāvena bhutalaṅ ghātaṃ paretīti = Vāyo: sắc làm nhân lay động sắc đồng sanh thay đổi chỗ gọi đây là gió. * Gió hoạt động trong thân có 6 cách: - Là gió thổi lên - Là gió thổi xuống - Là gió thổi trong bụng - Là gió thổi trong ruột già - Là gió đi khắp châu thân (thân thể) - Là hơi thở ra vô. Tóm lại: sắc phong đại - sắc gió: là phần vật chất có đặc tính “lay động và căng ra”. Năng động của gió tạo sự di dời vật chất khác và thêm phần cứng vững trước mọi rung động, hay mọi áp lực của sắc pháp đều do bản thể chơn tướng gió làm chủ động. PHẦN ĐÚC KẾT BỐN SẮC TRÊN: Bốn loại sắc vừa nêu trên Đất, Nước, Lửa, Gió. Ngoài các tên gọi là: sắc tứ đại, sắc tứ đại hiển, c̣n có danh xưng “sắc tứ đại minh”, hoặc sắc tứ đại chủng. Gọi sắc tứ đại minh bởi nghĩa lớn lao và rơ rệt, có pāli chú giải như vầy: Mahantāṇi hutvā bhutāni pātu thutanīti = Mahābhutāni: sắc có chơn tướng hiện bày rất rơ rệt gọi là đại minh hay tứ đại minh tức: đất, nước, lửa, gió. - Sắc tứ đại chủng cũng dịch từ Mahābhutāni. SƠ ĐỒ: SẮC TỨ ĐẠI. (Đề cập sắc đại nào Hiện – 3 sắc kia sẽ ẩn, Kém, B́nh)
* Do nương nhờ sắc tứ đại, mà sanh ra đặng, sắc đó gọi là sắc y sinh, tức sắc y đại sinh (do nương sắc tứ đại mà sanh ra). Sắc y đại sinh lại được phân thành 24 thứ sắc, nằm trong 10 phần, hoặc 10 nhóm như sau: B. NHÓM THỨ NHẤT GỌI LÀ SẮC THANH TRIỆT (PASĀDARŪPA). Sắc thanh triệt c̣n được gọi sắc thần kinh, nhưng theo nghĩa lư th́ gọi sắc thanh triệt thấy chuẩn hơn. Bởi có pāli chú giải như vầy: Pasīdatīti = Pasādo: sự trong ngần của sắc (tứ đại) gọi là thanh triệt (thanh triệt theo nghĩa Hán Việt là trong ngần); hoặc Pasīdantīti = Pasādā: trong ngần đó gọi là thanh triệt; tức là sắc thanh triệt, mà sắc thanh triệt là cách thâu cảnh và khêu khích – thúc đẩy cho tâm lộ sanh ra. * Sắc thanh triệt có 5 thứ sắc: - Sắc nhăn thanh triệt - Sắc nhĩ thanh triệt - Sắc tỷ thanh triệt - Sắc thiệt thanh triệt - Sắc thân thanh triệt Tóm lại: sắc thanh triệt là sự trong ngần (tứ đại), sự nhạy, sự thâu cảnh, tịnh sắc, là cầu nối chỗ nương nhờ của lộ ngũ. (kể từ sắc nhăn thanh, sẽ tính tiếp theo thứ tự 28 sắc (pháp), phần liệt kê nhóm là để biết thêm 10 phần của sắc y đại sinh). 5. SẮC NHĂN THANH TRIỆT – PĀSĀDARŪPA: - Sắc nhăn: nơi, chỗ, thuộc về vật chất của mắt, sắc nằm trong con mắt. - Thanh triệt: trong ngần (ám chỉ sắc tứ đại). Như vậy: cách trong ngần nương trong mắt, con mắt, mà làm chỗ dựa cho tâm biết cảnh sắc ấy gọi là sắc nhăn thanh triệt. Nói cách khác sắc có trong con ngươi (mắt) do nhờ tứ đại mà sinh ra được và ư thức làm chỗ nương nhờ biết cảnh sắc (các màu), đây gọi là sắc nhăn thanh triệt. Hoặc là: chỗ nương của nhăn thức đặng biết cảnh sắc, với tính năng thâu được cảnh thuộc về màu (sắc), sắc đó gọi là sắc nhăn thanh triệt. Theo pāli có chú giải về nhăn thanh như sau: * Cakkhatīti = cakkhu: chỗ để cho thấy cảnh sắc gọi là nhăn, tức là nhăn nhục (Maṅsacakkhu): mắt thịt. * Chú giải về h́nh tướng nhăn thanh giống như “đầu con chí đực” nằm trong bảy lớp mạc (vơng mạc) ở giữa tṛng đen; c̣n về hiện tượng th́ bao gồm tất cả bộ phận mắt (con mắt). Trên phương diện đặc tính th́ sắc nhăn thanh triệt có 4 ư nghĩa như sau: - Trạng thái: sự trong ngần của sắc tứ đại mà thâu cảnh sắc (màu) đặng. - Phận sự: t́m kiếm cảnh sắc. - Thành tựu: chỗ nương nhờ của nhăn thức. - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại sanh từ nghiệp tham ái chấp trước (trong các đời trước). * Khi nói về nhăn theo chú giải phân thành hai loại: - Nhục nhăn (Maṅsacakkhu) - Trí nhăn (Paññācakkhu) a. Nhục Nhăn: Tức là mắt thịt, ám chỉ sắc nhăn thanh triệt và nhăn hiện tượng (đă phân tích nghĩa lư đoạn trên). b. Trí Nhăn: hay c̣n gọi là huệ nhăn, tuệ nhăn, có 5 thứ như sau:- Phật nhăn: huệ biết tánh nết chúng sanh - Toàn tri nhăn: tức nhất thế chủng trí - Huệ nhăn: huệ đạo của bậc tứ quả - Thiện nhăn: nhăn thông hay nhăn thần thông. - Pháp nhăn: huệ đạo của bậc thánh hữu học. Tóm lại: gọi sắc nhăn thanh triệt, bởi v́ làm chỗ nương của nhăn thức, và có bản chất (mường tượng) chỉ cho nhăn thức biết cảnh tốt xấu. Sắc này c̣n gọi là nhăn quyền, nhăn môn, nhăn vật, nhăn căn. 6. SẮC NHĨ THANH TRIỆT – SOTĀPASĀDA: - Sắc nhĩ: nơi, chỗ thuộc về tính chất (sắc) nằm trong lỗ tai. - Thanh triệt: đă định nghĩa. Như vậy: sắc có cách trong ngần của sắc nghiệp tứ đại mà thâu tiếng cho nhĩ thức đặng nghe, gọi là sắc nhĩ thanh triệt. Hay là: Bản thể vật chất của tứ đại sắc, làm chỗ nương nhờ cho nhĩ thức thâu nhận đặng biết cảnh thinh, nên gọi sắc nhĩ thanh triệt. Theo pāli có chú giải như sau: - Sonātīti = sotaṃ: có thể (làm cho) nghe đặng gọi là nhĩ. - Saddaṃ sunanti etenāti = sotaṃ: nghe tiếng đặng nhờ sắc ấy; vậy sắc ấy là sắc nhĩ, tức sắc nhĩ thanh triệt. Nhĩ có hai thứ: - Sắc nhĩ thanh triệt (vật chất trong ngần của sắc tứ đại nằm trong màn nhĩ). - Nhĩ hiện tượng: tức là lỗ tai, bộ phận cho nhĩ thanh triệt nương. * Hiện tượng hay h́nh thức sắc nhĩ giống như lông con Cừu. Trên phương diện đặc tính, th́ sắc nhĩ thanh triệt có 4 ư nghĩa như sau: - Trạng thái: sự trong ngần của sắc tứ đại mà thâu đặng cảnh thinh. - Phận sự: cách đưa đến hứng chịu cảnh thinh đối chiếu. - Thành tựu: chỗ nương nhờ cho nhĩ thức. - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại sanh từ nghiệp tham ái thinh từ trước, nhiều đời trước. Tóm lại: Saddaṃ sunanti etenāti = sotaṃ: tất cả chúng sanh (trừ vô tưởng và vô sắc giới) nghe đặng tiếng do nhờ sắc ấy, nên sắc ấy gọi là sắc nhĩ - tức sắc nhĩ thanh triệt. 7. SẮC TỶ THANH TRIỆT – GHĀNAPASĀDARŪPA: - Sắc tỷ: chỗ, nơi thuộc về vật chất (sắc) nằm trong lỗ mũi. - Thanh triệt: đă định nghĩa. Như vậy: sắc tỷ thanh triệt là sự trong ngần của sắc tứ đại thuộc về sắc nghiệp mà thâu hay đối chiếu cảnh khí đặng. Hay là: Sắc dạng tinh chất của tứ đại nằm trong lỗ mũi, mà tỷ thức nương vào ngửi biết mùi, sắc đó gọi là sắc tỷ thanh triệt. Theo pāli có chú giải như sau: - Ghāyatīti = ghānaṃ: có cách hít, ngửi, hưởi gọi là tỷ. - Ghāyanti etenāti = ghānaṃ: sắc nào làm chỗ nương hay nguyên do hít, ngửi đặng, sắc đó gọi là sắc tỷ thanh triệt. Tỷ có 2 thứ: - Bản thể tỷ (sắc tỷ): tức là sắc tỷ thanh triệt, nương trong xương lỗ mũi. - Cụ thể tỷ: tất cả bộ phận hiện tượng mũi (lỗ mũi) để cho tỷ thanh triệt nương. * Bản thể tỷ: h́nh dáng giống như móng chân con Dê. Trên phương diện đặc tính, th́ sắc tỷ thanh triệt có 4 ư nghĩa như sau: - Trạng thái: cách trong ngần của sắc tứ đại nghiệp mà thâu đặng cảnh khí (mùi). - Phận sự: soi theo chiếu đến cảnh khí - Thành tựu: chỗ nương nhờ cho tỷ thức. - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại sanh từ nghiệp tham ái khí. Tóm lại: sắc nào làm chỗ dựa, chỗ nương cho tỷ thức biết đặng mùi (cảnh khí), sắc đó gọi là sắc tỷ thanh triệt. 8. SẮC THIỆT THANH TRIỆT – JIVHĀ PASĀDARŪPA: - Sắc thiệt: là sắc có bản thể vật chất (tứ đại) nằm phía trên lưỡi (cái lưỡi). - Thanh triệt: đă định nghĩa. Như vậy: sắc có sự trong ngần của tứ đại, mà thuộc sắc nghiệp, làm chỗ nương cho thiệt thức biết cảnh vị, sắc đó gọi là sắc thiệt thanh triệt. Hay là: khả năng có thể nếm (nằm trong lưỡi), mà thiệt thức nương để nhận biết cảnh vị, đây gọi là sắc thiệt thanh triệt. Theo pāli chú giải như sau: - Sāyanatachena = Jivhā: có thể nếm vị đặng gọi là thiệt. - Jivitaṃ avhāyatīti = Jivhā: hưởng nhân thọ mạng gọi là thiệt thức thâu cảnh vị, đó là thiệt thanh triệt. “Hưởng nhân thọ mạng” là nguyên do từ lưỡi nếm vật thực, dùng thức ăn, thuốc uống để nuôi mạng cho sống c̣n. Nói về thiệt (lưỡi) có 2 thứ: - Bản thể lưỡi: tức là thanh triệt của lưỡi. - Cụ thể lưỡi: tức là cái lưỡi. Bản thể thiệt: nương phía trên giữa lưỡi như bông sen, hoặc có h́nh thức như đầu lông con Nhím. Trên phương diện đặc tính, th́ sắc thiệt thanh triệt có 4 ư nghĩa như sau: - Trạng thái: cách trong ngần của sắc tứ đại nghiệp mà thâu cảnh vị đặng. - Phận sự: là soi theo chiếu đến cảnh vị - Thành tựu: chỗ nương của thiệt thức - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại sanh từ nơi nghiệp tham ái vị. Tóm lại: vật chất có từ tính chất trong ngần của sắc tứ đại, nằm trong lưỡi mà thiệt thức nương nhờ thâu nhận cảnh vị, gọi đây là sắc thiệt thanh triệt. 9. SẮC THÂN THANH TRIỆT – PASĀDAKĀYARŪPA: - Sắc thân: ở đây là sắc có bản thể vật chất của tứ đại, tức là tất cả bộ phận thân thể chúng sanh. - Thanh triệt: đă định nghĩa. Như vậy: sắc có tính chất trong ngần của tứ đại, mà có khắp châu thân (thân thể) để làm chỗ nương cho tâm thân thức biết cảnh xúc, sắc đó gọi là sắc thân thanh triệt. Hay là: bản thể sắc có tứ đại hiển hoặc tứ đại minh phát sanh từ nghiệp tham ái cảnh xúc trong quá khứ (đời trước), mà hiện tại làm chỗ dựa cho thâu bắt biết cảnh xúc (đụng chạm), sắc này là sắc thân thanh triệt. * Theo pāli có chú giải sắc thân thanh triệt như sau: - Kucchitānaṃ ayoti = kāyo: (khối, đống) chứa vật bất tịnh gọi là thân (thân thể). - Kucchitānaṃ kesādīnaṃ pāpadhammā naṇca āyoti = kāyo: chất (nơi) chứa đồ bất tịnh như là tóc, lông, móng........ và kết hợp, hợp tác phạm tội đó gọi là thân (châu thân). * Nói về thân (kāya) có 2 thứ: - Thân bản thể: tức sắc thân thanh triệt – pasādakāya - Thân cụ thể: cái thân, toàn thân, các bộ phận thân thể. Hai căn trên là chỉ cái thân cụ thể. * Bản thể thân thanh triệt là nương toàn châu thân, không có h́nh thức riêng biệt và không có vị trí nhất định như 4 sắc thanh triệt khác. * Trên phương diện đặc tính, th́ sắc thân thanh triệt có 4 ư nghĩa: - Trạng thái: sự trong ngần của sắc tứ đại thâu đặng cảnh xúc. - Phận sự: soi theo chiếu đến cảnh xúc. - Thành tựu: chỗ nương của tâm thân thức. - Nhân cần thiết: có cảnh xúc (sự đụng, cách chạm.......) Tóm lại: vật chất có bản thể trong ngần của sắc tứ đại, nằm khắp thân thể mà thân thức nương nhờ đặng biết cảnh xúc, đây gọi là sắc thân thanh triệt. C. NHÓM THỨ HAI GỌI LÀ SẮC CẢNH GIỚI – GOCARARŪPA: Sắc cảnh giới – Gocararupaṃ hay sắc cảnh – Visayarūpa. - Thế nào là sắc cảnh giới? - Và sao gọi là sắc cảnh? * Sắc cảnh giới – Gocararūpa: Sắc làm cảnh hay là đối tượng của sắc thanh triệt trong cách hạn định (giới) như: sắc cảnh sắc đối tượng của nhăn thanh, sắc cảnh thinh đối tượng của nhĩ thanh, sắc cảnh khí đối tượng của tỷ thanh, sắc cảnh vị đối tượng của thiệt thanh (riêng về cảnh xúc, do thuỷ đại tức nước là sắc có bản thể rất tế nhị, nên không thể đối chiếu với thân thanh triệt; c̣n lại đất, lửa, gió là cảnh xúc nên ở đây nói riêng). Như vậy: sắc nào mà làm cho tâm và sở hữu, do có sự đối chiếu, sắc ấy gọi là sắc cảnh giới, hoặc gọi là sắc dạo, bởi có pāli chú giải như vầy: Gocarasadisāti = gocarā: chỗ mà nhiều cách dạo đi, nơi chỗ ấy, cũng như sắc mà làm cho tâm biết được bằng vào sự đối chiếu ở hạn định: thấy, nghe, ngửi, nếm, sắc này gọi là sắc dạo – Gocara, hoặc sắc cảnh giới. * Sắc cảnh – Visayarūpa: Tức là sắc làm đối tượng hay làm cảnh, mà tâm thức nương vào sắc thanh triệt biết được: màu (sắc), âm thanh (tiếng), hơi, mùi và nếm biết chua, cay, mặn, ngọt...........các sắc đó gọi sắc cảnh – Visayarūpa. Có pāli chú giải như sau: - Gāvo caranti etthāti = Gocaraṃ: chỗ hay nơi du hành của lục quyền (căn quyền Indrīya) như thế gọi là sắc cảnh. * Sắc cảnh – Visayarūpa: có 5 thứ sắc là - cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị và cảnh xúc (cảnh xúc là đất, lửa, gió đă đề cập và phân giải), nên nhóm này chỉ kể: sắc cảnh sắc, sắc cảnh thinh, sắc cảnh khí và sắc cảnh vị. 10. SẮC CẢNH SẮC - RŪPĀRAMMAṆARŪPA: * Sắc mà bị tâm nhăn thức biết, gọi là sắc cảnh sắc, hay là: cảnh thuộc về tất cả màu, để nhăn thức biết đặng, sắc đó là sắc cảnh sắc. Hoặc là: Rūpayati dabbaṃ pakāsetīti = rupaṃ: sắc mà (nhân) hiện tượng các vật có h́nh thức, gọi là cảnh sắc (ư nói: sắc có tính chất tạo thành ra hiện tượng: xanh, vàng, đỏ, tím...., những hiện tượng này có dáng, có h́nh thức: xanh lè, vàng rực, đỏ chói, tím bầm......hiện tượng và h́nh thức trên gọi là sắc cảnh sắc). * Trên phương diện đặc tính, sắc cảnh sắc có 4 ư nghĩa: - Trạng thái: đối chiếu với thanh triệt nhăn. - Phận sự: làm cảnh cho nhăn thức. - Thành tựu: vật thực hay chỗ dạo của nhăn thức (vật thực, đây ám chỉ mồi câu cho nhăn thức bắt cảnh; chỗ dạo ư nói: nơi phải t́m đến, đi đến, để thâu nạp.........). - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại (chủng). Tóm lại: Tất cả màu, tất cả h́nh sắc đối chiếu với sắc nhăn thanh triệt, mà nhờ đó nhăn thức nương vào nhăn thanh thâu bắt cảnh sắc, gọi sắc này là sắc cảnh sắc. 11. SẮC CẢNH THINH - SADDĀRAMMAṆARŪPA: * Cảnh thinh: các thứ tiếng, các âm thanh....... * Sắc cảnh thinh: sắc bị nghe; sắc bị nghe ở đây là đối tượng của nhĩ thanh triệt, mà nhĩ thanh là chỗ nương của nhĩ thức; cho nên vật nào (các thứ tiếng) tâm nhĩ thức biết đặng, th́ vật đó gọi là sắc cảnh thinh. Theo pāli có chú giải như sau: - Gacchatīti = saddo: sắc mà nhĩ thức biết gọi là sắc cảnh thinh Hay là: - Saddīyati uccārīyatīti = saddo: tất cả tiếng, tất cả âm thanh, gọi là cảnh thinh. Hoặc là: - So yeva ārammaṇanti = saddārammanaṃ: sắc mà làm cho nhĩ thức tiến hoá, gọi sắc cảnh thinh. * Trên phương diện đặc tính, sắc cảnh thinh có 4 ư nghĩa: - Trạng thái: đối chiếu nhĩ thanh triệt - Phận sự: làm cảnh cho nhĩ thức - Thành tựu: vật thực hay chỗ dạo cho nhĩ thức - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại. Tóm lại: sắc có bản chất bị nghe, hay nhĩ thức biết đặng các thứ tiếng; những thứ ấy gọi là cảnh thinh; tức sắc cảnh thinh. 12. SẮC CẢNH KHÍ - GANDHĀRAMMAṆARŪPA: * Cảnh khí: các thứ hơi, các mùi............ * Sắc cảnh khí: sắc bị ngửi, sắc bị tỷ thức biết, tức là sắc này làm đối tượng cho tỷ thanh triệt; cho nên: vật nào (các mùi) mà tâm tỷ thức biết đặng, th́ vật đó gọi là sắc cảnh khí. Theo pāli có chú giải như sau: - Gandhayati attano vatthuṃ sucetīti = Gandho: hơi (mùi) tiết ra và tŕnh bày của tự nó nương, gọi là khí. Hay là: - I damettha atthīti pesuññaṃ garontaṃ viya hoti: ư nói (đạo ư) cảnh khí là cách tợ như báo tin cho biết vật chi chi (hơi, mùi). Như là đi gần đến chỗ bán sầu riêng, dù không thấy ngửi mùi cũng biết. Hoặc là: - So yeva ārammanaṃ = gandhārammanaṃ: cảnh nào là chỗ tiến hoá của tỷ thức, đó gọi là sắc cảnh khí. * Trên phương diện đặc tính, sắc cảnh khí có 4 ư nghĩa: - Trạng thái: cách đối chiếu với tỷ thanh triệt. - Phận sự: làm cảnh cho thiệt thức - Thành tựu: vật thực hay chỗ dạo của thiệt thức - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại. Tóm lại: sắc có bản chất bị ngửi hoặc các mùi mà tỷ thức biết đặng, sắc đó gọi là sắc cảnh khí. 13. SẮC CẢNH VỊ - RASĀRAMMAṆARŪPA: * Cảnh vị: là đối tượng bị nếm, hay chất bị nếm như: các thứ vị chua, cay, mặn, ngọt, lạt..v.v...... * Sắc cảnh vị (Rasārammaṇarūpa): sắc mà thiệt thức nếm gọi là cảnh vị, hoặc vị nào có tính chất như: đắng, ngọt, chát, chua, lạt, mặn.....mà thiệt thức biết được, sắc ấy là sắc cảnh vị. Có pāli chú giải như vầy: So yeva ārammanaṃ = Rasārammanam: sắc nào là nơi tiến hoá của thiệt thức, đó là cảnh vị hay sắc cảnh vị. * Trên phương diện đặc tính, sắc cảnh vị có 4 ư nghĩa: - Trạng thái: đối chiếu với sắc thiệt thanh triệt. - Phận sự: làm cảnh (đối tượng cho thiệt thức) - Thành tựu: vật thực (mồi) hay chỗ dạo cho thiệt thức. - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại sanh từ nơi nghiệp tham ái vị. Tóm lại: sắc có bản chất bị nếm, hoặc thiệt thức biết đặng: mặn, ngọt, chua, cay.......gọi là sắc cảnh vị. * Tŕnh bày thêm về cảnh xúc: - Cảnh xúc tức là: cứng hoặc mềm, dùn hay thẳng, nóng và lạnh, ám chỉ cho đất, lửa, gió. - Cảnh xúc: là những chất bị đụng - Cảnh xúc: những chất để xúc chạm làm cho thân thức biết đặng (thân thức tiến hoá thâu bắt cảnh). - Busitabbanti = Phoṭṭhabbārammaṇaṃ: bản chất (những chất) mà sắc thân thanh triệt đụng (tiếp xúc, chạm) đây gọi là xúc, tức sắc cảnh xúc. - Các đặc tính, ư nghĩa của xúc là trong tam đại: đất, lửa, gió. * Lưu ư: Nước (thủy đại) không thể thành xúc (cảnh xúc). Bởi v́ nước ở đây là nước bản thể với tính chất rất vi tế. Có pāli chú giải như vầy: Āpodhātuyā sukhumabhāvena bhusitaṃ asakkuneyyattā vuttaṃ = Nước chơn tướng bản thể là chất rất tế nhị, rất vi tế, nên không thể đối chiếu (làm cảnh, đụng) với sắc thân thanh triệt được. Do đó, không kể nước vào cảnh xúc đặng. D. NHÓM THỨ BA GỌI LÀ SẮC TÍNH – BHĀVARŪPA: Sắc tính tức là: sắc Nam tính và sắc Nữ tính, c̣n gọi sắc trạng thái (sắc trạng thái Nam và sắc trạng thái Nữ). Ở đây đề cập đến bản chất sắc thuộc về Nam tính hoặc Nữ tính được sanh ra từ sắc tứ đại chủng do sắc nghiệp hay sắc thủ sanh ra. Tuy nhiên cũng nương vào h́nh dáng, tư cách, khuôn khổ, hiện tượng nam nữ để tŕnh bày trạng thái Nam hay trạng thái Nữ. Trong bộ Paramatthadīpamītīkā có chú giải như vầy: Bhavanti siṅgādīni pātubhavanti etthatī = Bhāvo: sắc mà tŕnh bày hiện tượng, cách thức, tư cách, nhất là nam căn (sắc nam tính, sắc nữ tính)v.v.....gọi đây là tính (sắc tính) hay trạng thái (hợp thức). Hay nói cách khác: hiện tượng, tư cách của nữ hoặc của nam, đều gọi là sắc tính (sắc hợp thức của nam căn và nữ căn). Sắc tính có hai (tính tiếp thứ tự của sắc y đại sinh là 14 và 15; tức: 1 là 14 và 2 là 15). 14. SẮC NAM TÍNH - PURISABHĀVARŪPA: * Nam tính: là bản thể hay tính chất nam căn, nam quyền, hợp thức nam, trạng thái nam tánh, gốc từ nghiệp tham ái do sắc tứ đại chủng sinh ra, luân chuyển thành nam tánh, hoặc hợp thức là tư cách thuộc nam căn. Vậy: sắc nam tánh là sắc có bản chất và hiện bày cách thức nam tánh, trạng thái nam tánh, tư cách nam căn. Có pāli chú giải như vầy: Pumassa bhāvo = Pumabhāvo: làm nhân thành nam, gọi là (sắc) nam tính. * Nam tính được thể hiện có 4 cách như sau: - Là nam căn (sắc nam tính) liṅga - Là nam tướng – Nimitta (tướng trạng nam, tướng nam nhân.........) - Là tánh nết – kutta nam (thói quen theo nam giới, người nam) - Là hành động – Ākappa (cách, cử chỉ, thao tác nam là cứng cỏi). Trên phương diện đặc tính có 4 ư nghĩa: - Trạng thái: tứ cách nam giới (nam nhân) - Phận sự: hiện bày ra cách thức nam nhân (người nam) - Thành tựu: có sắc nam tính (nam căn) - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại chủng (tứ đại hiển, tứ đại minh). 15. SẮC NỮ TÍNH - IṬṬHIBHĀVA: * Nữ tính: ở đây là ám chỉ bản chất sắc thuộc về nữ căn, cũng từ sắc tứ đại nghiệp tham ái luân chuyển, thành tựu nữ tính; hoặc hợp thức trạng thái tư cách là nữ căn. Vậy: sắc nữ tính là sắc có bản chất và hiện bày cách thức nữ tính, trạng thái nữ tính, tư cách nữ căn. Có pāli chú giải như vầy: Iṭṭhiyā bhāvo = Iṭṭhibhāvo: có thể hiện cách thức nữ căn..........gọi là nữ tính, tức sắc nữ tính. * Nữ tính được thể hiện 4 cách như sau: - Là nữ căn (sắc nữ tính). - Là nữ tướng (tướng trạng nữ, tướng nữ nhân..........). - Là tánh nết (thói quen theo nữ giới, người nữ) - Là hành động (cách, cử chỉ, thao tác nữ là dịu dàng yểu điệu..........) * Trên phương diện đặc tính có 4 ư nghĩa sau: - Trạng thái: khuôn khổ nữ. - Phận sự: tŕnh bày cách nữ. - Thành tựu: có nữ căn (sắc nữ tính). - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại chủng. Tóm lại: Sắc tính là bản thể sắc phân ra 2 thứ: một là sắc nam tính và hai là sắc nữ tính, cùng thể hiện theo cách nam hoặc nữ. So sánh như sau: * Căn (sắc tính) khác nhau là nam căn (nam tánh) và nữ căn (nữ tính). * H́nh tướng (dáng h́nh) khác nhau: là kịch cộm và yểu điệu. * Tánh nết khác nhau: là mạnh mẽ và nhu mỳ. * Hành động khác nhau: là cứng cỏi và yếu ớt. Đ. NHÓM THỨ TƯ CHỈ CÓ 1 SẮC LÀ SẮC Ư VẬT: 16. SẮC Ư VẬT – HADAYA VATTHURŪPA: * Ư vật: là nhục đoàn tâm (Maṅsahadayarūpa) tức trái tim có h́nh thức tương tợ như bông sen búp. * Sắc ư vật: là bản thể sắc (Vatthuhadayarūpa) mà nương sanh trong nhục đoàn tâm; hay c̣n gọi bản sắc tim hoặc sắc tim. Ở đây là một loại sắc, một thứ sắc nghiệp mà chủ yếu nương sanh trong trái tim (nhục đoàn tâm). Về chú giải th́ hai vị: Ngài Buddhagosa và Nuruddha có đề cập và phân giải là nơi làm chỗ (cứ điểm) cho tâm thức nương đặng bắt cảnh, nơi đó gọi sắc ư vật trong trái tim. Phần pāli chú giải về sắc ư vật (Hadayarūpa) như sau: - Hadaṅti sattā taṃtaṃ etthaṃ (và) onatthaṃ (vā) Rūpenti etanāti = Hadayaṃ: tất cả chúng sanh nhờ sắc nào làm việc lợi ích và không, sắc nhờ ấy gọi là sắc ư vật. Trong bộ Paṭṭhāna (thuộc Tạng Abhidhamma), khi nói về sắc ư vật, chỉ thấy Đức Phật đề cập một cách ngắn gọn “Yaṃrūpanissaya”: nương vào sắc ấy (y cứ trên sắc ấy) Trên phương diện đặc tính, sắc ư vật có 4 ư nghĩa: - Trạng thái: chỗ nương của ư giới và ư thức giới - Phận sự: chứa để những giới (ư giới + ư thức giới) - Thành tựu: bảo vệ những giới vừa nói - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại Tóm lại: Sắc mà có bản chất của trái tim, đặt tên hay gọi là sắc ư vật. E. NHÓM THỨ NĂM CHỈ CÓ MỘT SẮC LÀ SẮC MẠNG QUYỀN 17. SẮC MẠNG QUYỀN – JĪVITINDRIYARŪPA: - Mạng quyền (Jīvitindriya): là cách ǵn giữ sự sống, bảo vệ và tồn tại cho thân (mạng sống) không hư hoại......... - Sắc mạng quyền (Jīvitindriyarūpa): ở đây, nói về sắc mà có quyền hạn cho “sự sống c̣n hay ǵn giữ sắc nghiệp”. Sắc này được gọi là sắc mạng quyền. - Nói theo cách khác, sắc mạng quyền là một loại sắc pháp hay thứ sắc có đặc tính bảo tồn, ǵn giữ cho có sự tồn tại của các sắc pháp đồng sinh được c̣n không bị hoại hư, tức là bảo vệ tồn tại sắc nghiệp c̣n đủ ba sát na. * Nên pāli chú giải như sau: - Jīvitindriyaṃ jīvitarūpaṃ nāma: bảo vệ sự c̣n, gọi là sắc mạng quyền, tức bảo tồn sắc nghiệp c̣n đủ 3 sát na. Hay có thêm câu pāli chú giải nữa như vầy: Jīvanti sahajāta dhammā etenāti = jīvitaṃ: sắc nghiệp đồng sanh nhờ sắc nào đặng c̣n, sắc ấy gọi là mạng sống tức sắc mạng quyền. * Trên phương diện đặc tính, sắc mạng quyền có 4 ư nghĩa: - Trạng thái: bảo vệ sắc đồng sinh - Phận sự: làm cho sắc nghiệp đặng c̣n (tồn tại) - Thành tựu: các hiệp (hợp) lại cho c̣n vững (ư nói cách phối hợp các sắc lại đồng sinh cho bền vững). - Nhân cần thiết: có sắc tứ đại điều hoà Tóm lại: sắc mà có đặc tính bản thể như sau: * Sự c̣n, cách tồn tại và bảo vệ cho các sắc (pháp) đồng sinh được c̣n đủ 3 sát na; sắc ấy gọi là sắc mạng quyền * Và sắc mạng quyền đồng sinh với tâm tái tục và diệt (chấm dứt) cùng lúc với tâm tử (với cách chậm hơn 17 lần là không đáng kể). Lưu ư: “Tâm qua mười bảy sắc nhào một khi”, đây là câu ám chỉ sắc pháp sinh khởi chậm hơn tâm thức 17 lần; nghĩa là tâm sinh đặng 17 cái (sát na) th́ sắc mới sanh lên một cái (sát na). Tuy nhiên, sự sanh diệt của tâm và sắc là cực kỳ vô cùng nhanh, ta so sánh như sau: - Tâm sanh diệt trong 1 giây: 1.000.000.000.000 cái - Sắc sanh diệt trong 1 giây: 58.827.529.411 cái * Hoặc 1 giây đổi ra được 60 sao (hay chia 1 giây thành 60 sao), lấy 1 sao ta có: - Tâm sanh diệt trong 1 sao: 1.666.666.666 cái - Sắc sanh diệt trong 1 sao: 98.039.215 cái Do vậy: sắc mạng quyền đồng sinh với tâm tái tục và diệt hay chấm dứt cùng với tâm tử xin phải được hiểu là: đồng sanh - đồng chấm dứt trên góc độ do quá cực kỳ nhanh của danh và sắc sanh diệt; nhưng vẫn phải biết sắc lúc nào cũng chậm hơn tâm thức 17 lần (khi sanh hoặc diệt). Khi tái tục chỉ có 3 bọn (thai sanh) là bọn thân, bọn ư vật, và bọn sắc tính; nhưng khi nói bọn sắc th́ đă có sắc mạng quyền bởi bọn sắc bao gồm: sắc bất ly (sắc tứ đại, sắc, thinh, khí, vị, vật thực) + sắc mạng quyền + và thân hay ư vật, hoặc sắc tính. C̣n vào tuần lễ đầu, tức tính từ lúc tái tục trong ṿng 7 th́ chánh thức bọn mạng quyền mới sanh (bất định thời gian). F. NHÓM THỨ SÁU CHỈ CÓ MỘT SẮC LÀ SẮC VẬT THỰC: 18. SẮC VẬT THỰC – AHARARŪPA: * Vật thực (Ahara) có tính chất là nuôi dưỡng, chất bổ, miếng ăn, vật chất nuôi sống (thức ăn, đồ uống.......) và cả cách sống, sự sống của danh pháp; nên Ahara thực gồm có 4 loại như sau: - Đoàn thực (Kabaḷīkārāhara): ám chỉ chất bổ dưỡng miếng ăn...... - Xúc thực (Phassāhāra): tức sở hữu xúc - Tư thực (Manosañcetanāhāra): tức sở hữu tư - Thức thực (Viññānāhāra): tức là tâm. Ở đây sắc vật thực tức là đoàn thực, có pāli chú giải như vầy: kabaḷīkaro āhāro āhārarūpaṃ nāma: đoàn thực có tên là sắc vN |