|
(Soạn giả: Đại đức Thiện Minh - Cư sĩ Đức Tài) * Dựa Theo,Tác Phẩm, Dịch Phẩm,Tài Liệu, chú giải của Ngài Ḥa thượng TỊNH SỰ (Mahā Thero San -Takicco) * Tài liệu tham khảo THẮNG PHÁP TẬP YẾU LUẬN của Ḥa thượng MINH CHÂU |
|
Phần chế định hay tục đế, đă tŕnh bày sơ lược ở phần đầu định nghĩa về Pháp (Dhamma). Nay phân tích thêm vài khía cạnh khác n
Phần chế định hay tục đế, đă tŕnh bày sơ lược ở phần đầu định nghĩa về Pháp (Dhamma). Nay phân tích thêm vài khía cạnh khác như nghĩa lư, phân chia chế định và bảng tóm tắt. I. NGHĨA LƯ: Để diễn đạt pháp siêu lư (Paramatthasaccadhamma) hay c̣n gọi Pháp chơn đế, th́ cần phải vay mượn vào sự chế định để giải nghĩa, tỷ dụ, dẫn chứng.........mục đích là cho thấu hiểu chơn tướng Pháp siêu lư [bản thể Pháp cao siêu: tâm (citta), sở hữu tâm (cetasika), sắc pháp (dhammarūpa) và níp bàn (nibbāna)] Ngoài ra chế định hay tục đế là sự tất yếu trong cuộc sống đời thường, như định đặt danh xưng, đồ vật, món, loài.......hoặc nghĩa của vạn vật vũ trụ v.v...... Ở đây khi nói về Pháp chế định (Pháp tục đế) là phần pháp nương vào bản thể pháp siêu lư mà chế biến, định đặt ra Danh chế định và Nghĩa chế định (Nāmapaññatti, Aṭṭhapaññatti). II. PHÂN CHIA CHẾ ĐỊNH: Pháp chế định hay pháp tục đế phân ra 2 và có 13 phần như sau: 1. DANH CHẾ ĐỊNH (NĀMAPAÑÑATTI): Là chế định tất cả danh từ, sự định đặt các ngôn từ dùng để xưng hô, kêu gọi, nói chuyện, chỉ vật chi; gồm cả danh chơn và phi danh chơn (tên bản thể thật và tên giả định không có thật). Phần này có 6: a. Danh Chơn Chế Định: Là tên hay lời nói có ám chỉ pháp siêu lư như: tâm trí, sắc pháp, níp bàn........(diễn đạt chỉ bản thể chơn đế). b. Phi Danh Chơn Chế Định: Là tên hay lời nói mà không có ám chỉ pháp siêu lư như: người, cơi, sông, biển......... (tên gọi giả lập, chế đặt) c. Danh Chơn Phi Danh Chơn Chế Định: Là câu văn trước có ám chỉ siêu lư (chơn đế), sau chỉ giả định không đề cập pháp siêu lư như: tâm tánh người ấy, níp bàn vắng lặng, sở hữu phụ thuộc.......(câu trước ám chỉ bản thể chơn đế, sau chế định). d. Phi Danh Chơn Danh Chơn Chế Định: Là dùng câu văn trước không ám chỉ siêu lư, mà đoạn sau có ám chỉ pháp siêu lư như: người hữu tâm, cơi vô sắc, khởi sanh tâm.......(câu văn trước chế định, sau siêu lư). đ. Danh Chơn Danh Chơn Chế Định: Là cách ám chỉ khi câu văn nêu ra trước và sau đều là pháp siêu lư như: tâm thiện, sở hữu trí tuệ, sắc mạng quyền...... (tên định đặt trước và sau đều là bản thể chơn đế). e. Phi Danh Chơn Phi Danh Chơn Chế Định: Là trong câu văn hay lời nói toàn là giả định, định đặt như: chúng sanh, vũ trụ, tôi đi, làm phước........... (tên gọi, đoạn văn, câu nói đều không có ám chỉ pháp siêu lư). * Lưu ư: Sự chế định trong ngôn ngữ, danh từ (câu văn) khi gọi danh chơn là ám chỉ về bản thể chơn đế (tâm, sở hữu, sắc pháp, níp bàn); c̣n phi danh chơn là không thật, tức không có ám chỉ pháp siêu lư. Tuy nhiên, xét về một góc độ khác, th́ không thật ở đây là nói về pháp chân tướng bản thể (paramatthasaccadhamma); c̣n đối với đời thế gian th́ phi danh chơn là thật của tục đế (chế định). 2. NGHĨA CHẾ ĐỊNH (AṬṬHAPAÑÑATTI): Khi đă định đặt, chế tạo ra danh từ, ngôn ngữ tức tên gọi, hoặc văn tự hay lời nói, lẽ tất nhiên phải có ư nghĩa của nó; v́ vậy nghĩa chế định (Aṭṭhapaññatti) là một phần giải thích của danh chế định, hay nói cách khác nghĩa chế định là sự qui ước trong thế gian thường t́nh về sự vật, chúng sanh, vũ trụ...........mà đặng hiểu với nhau hay những khái niệm mà nghĩa đặt ra được nhiều người đồng t́nh thuận ư. Nghĩa chế định phân ra 7 loại như sau: a. H́nh Thức Chế Định: Là chế đặt ra h́nh thức hay nương theo h́nh thức mà định đặt tên và có cách dùng như: vuông, tṛn, dài, ngắn, nhỏ, lớn, cắt vuông, sắt móng, sông dài, biển rộng, núi cao.......(cách chế định có nghĩa về h́nh dáng, kiểu mẫu). b. Hiệp Thành Chế Định: Là hợp nhiều thứ thành một cái (phần) đặt tên và định dùng như: chiếc xe phải có nhiều bộ phận mới thành xe và để đi, hay ngôi nhà tất phải có nhiều vật dụng (gui, mè, kèo,cột, tấm lợp....) mới thành căn nhà để ở v,v....[cách đặt ra do nhiều thứ hợp lại (hợp thành) có ư nghĩa]. c. Chúng Sanh Chế Định: Là những danh từ chế ra và khi nêu lên để chỉ vật có thức tánh, loài có sự sống tâm thức, hay mạng quyền như: 12 hạng người gồm người đạo, người quả, người hữu nhân, người vô nhân, người khổ hoặc Phật, chư thiên, nhân loại, thú vật......... (phần định đặt dùng để chỉ “Người” 12 hạng). d. Phương Hướng Chế Định: Là cách dùng để chỉ các hướng (phương hướng), sự diễn đạt đặt ra mà khi nêu lên đặng biết về hướng như: hướng trên, hướng dưới, hướng đông, hướng tây, hướng nam, hướng bắc, hướng trước, hướng sau (tiền, hậu).......... đ. Thời Gian Chế Định (thời tiết chế định): Là những danh từ lời nói chỉ về thời gian hay thời tiết, mà khi đọc hoặc nghe là hiểu nghĩa như: tiết trời se lạnh, mưa dầm, nắng hạn, ngày lành, tháng tốt, năm hên........(sự chế định về thời gian và thời tiết). e. Hư Không Chế Định (huyệt ao chế định): Là phần định đặt về không gian, tức khoảng trống, kẽ hở, hư không như: hang, hố, chỗ hủng trống, lỗ trũng, ao, hồ........(cách chế định về chỗ trống tronng không gian). g. Tiêu Biểu Chế Định (h́nh thức chế định): Là cách nêu bày ra, tiêu biểu, tượng trưng (h́nh tướng) như: đề mục (cảnh, đối tượng trong việc tu thiền), bảng dấu hiệu, chữ viết, kư hiệu......... (chế định sự việc bằng cách tiêu biểu và h́nh tướng mà có nghĩa riêng). Tóm lại: PHÁP CHẾ ĐỊNH (Paññattisaccadhamma) hay c̣n gọi pháp tục đế (Sammuttisaccadhamma) là pháp nương nhờ vào bản thể pháp siêu lư (Paramatthasaccadhamma) mà chế biến, định đặt ra, tuỳ theo mỗi trường hợp cho thích ứng công việc trong đời (thế gian), với mục đích để chuyển tải ngôn ngữ, văn tự, sự vật, sự việc đặng hiểu biết với nhau, thông qua danh chế định và nghĩa chế định. * Danh chế định để biết nghĩa chế định, tức là mượn tiếng chế biến ra tên, cùng lời nói * Nghĩa chế định hiểu đặng (phát sinh) danh chế định, hay là chế biến sửa đổi.
|