Chương 23
Các phiền năo được phân loại bằng nhiều cách khác nhau và mỗi cách phân loại nhắc nhở chúng ta điều bất thiện nguy hiểm đến nhường nào. Lại c̣n có một nhóm phiền năo khác, khác hoàn toàn, đó là nhóm các khuynh hướng tiềm tàng hay là Pháp tuỳ miên (Anusayas).
Trong tác phẩm Pháp Tụ th́ các khuynh hướng tiềm tàng không được sắp loại thành một nhóm. Chỉ có tham là “khuynh hướng thiên về thành kiếm tiềm ẩn”, Pháp tùy miên đă được đề cập đến một cách đặc biệt trong nhiều khía cạnh của tham (§1059). Chú giải Bộ Pháp Tụ (Atthasàliń II, phần II chương II, 366) có b́nh luận “tham dục tùy miên tồn tại thường xuyên trong ta như là một khuynh hướng mạnh mẽ”. Không chỉ có khuynh hướng tiềm ẩn tham, nhưng c̣n có tới bảy pháp bất thiện có thể được phân loại thành các khuynh hướng tiềm ẩn tiềm tàng trong ta như là những thiên hướng mạnh mẽ. Chúng ta đọc thấy trong cuốn Phân tích (vibhanga, chương 17, §949) có tới bảy Pháp tuỳ miên[137] như sau:
Tham dục tùy miên (Kamaraganusaya)
Sân hận tùy miên (Patighanusaya)
Ngă mạn tùy miên (Mananusaya)
Tà kiến tùy miên (Ditthanusaya)
Hoài nghi tùy miên (Vicikicchanusaya)
Hữu tham tùy miên (Bhava-raganusaya)
Khuynh hướng tiềm ẩn về vô minh (Avijjanusaya)
Vô minh tùy miên (Avijjanusaya)
Phân loại các pháp bất thiện bằng các tùy miên nhắc nhở chúng ta về tính ương ngạnh, tính cố chấp. Các khuynh hướng này như vi-rút bao vây thân thể ta. Chúng nằm yên trong đó nhưng hoạt động trở lại vào bất kỳ sát-na nào khi có duyên hệ thuận lợi,[138] các tùy miên rất khó dứt bỏ được.
Chúng ta đọc thấy trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga XXII, 60) về tính ương ngạnh nơi các tùy miên như sau:
... do tính thâm căn cố đế nơi các tùy miên nên ta gọi chúng là tiềm ẩn (Anusenti) đây chính là nguyên nhân làm cho tham dục v.v… luôn xảy ra liên tục.
Các tùy miên “bám sâu” trong ta, có nghĩa là các khuynh hướng này được đủa vào cách vững chắc, trong một thời gian dài, và khó ḷng tận diệt được.
Rất có thể chúng ta sẽ ngạc nhiên tại sao tất cả các pháp bất thiện lại không được phân loại thành các tùy miên. Chẳng phải các pháp này đă không được tích lũy từ đời nọ sang đời kia hay sao? Chúng ta nên nhớ rằng bảy tùy miên rất cứng đầu cứng cổ và chi phối các phiền năo khác khi chúng xuất hiện.
Cho đến khi nào các tùy miên không bị tận diệt, chúng vẫn có thể xuất hiện dài dài. Thí dụ khi người nào đó được tái sanh nơi các cơi Phạm thiên, th́ không c̣n duyên hệ để có ác cảm trong cơi đó nữa. Tuy nhiên, khi nào tùy miên chưa được tận diệt th́ ác cảm buộc phải xuất hiện trở lại khi người đó tái sanh nơi cơi Dục giới. sau khi tuổi thọ tối đa của họ nơi cơi Phạm thiên đó chấm dứt.
Các tùy miên được tận diệt ở nhiều giai đoạn giác ngộ[139] khác nhau. Tâm đạo của vị thánh Nhập lưu diệt được tà kiến tùy miên và hoài nghi và như vậy các pháp bất thiện này chẳng c̣n bao giờ trổi dậy được nữa. Tâm đạo của bậc thánh Nhất lai không tận diệt hoàn toàn được bất kỳ tùy miên nào cả, nhưng làm giảm nhẹ tham dục tùy miên và sân hận tùy miên. Như Chú giải Bộ Pháp Tụ (Atthasàliń) đă khẳng định.[140]
Như chúng ta đă thấy, phiền năo lại có nhiều mức độ khác nhau, chúng có vẻ thô thiển hay tinh tế hơn. các bậc thánh Nhất lai cũng vẫn c̣n các tham dục tùy miên và ác cảm, nhưng đă suy yếu đôi chút. Chính v́ vậy so với các vị thánh Nhập lưu th́ các tùy miên này có phần kém thô thiển và tinh tế hơn một chút. Nhóm các tùy miên nói chung có thể được coi như là các phiền năo tinh tế. Chúng tinh tế chỉ khi nào c̣n tiềm ẩn ; chúng chỉ tinh tế so với tâm tham căn, tâm tham sân, hay tâm si bất thiện khi xuất hiện mà thôi, và có thể gọi là các “phiền năo bậc trung” và so với các tâm bất thiện có cường độ để thôi thúc các hành động ác thân, khẩu và ư, gọi là các “phiền năo thô thiển”. Tuy nhiên, từ “tinh tế” có thể khiến ta nhầm lẫn. Các tùy miên rất hiểm độc, ngoan cường, khó ḷng tận diệt được tận gốc. Chúng luôn chi phối các pháp bất thiện khi xuất hiện.
Tâm đạo của vị thánh A-na-hàm tận diệt được hoàn toàn các tham dục tùy miên và sân hận tùy miên, chúng không bao giờ c̣n xuất hiện được nữa. Tuy nhiên, vị đó đă không tận diệt được tất cả các h́nh thức chấp thủ, và vẫn c̣n hữu tham tùy miên và tái sanh do kết quả hành thiền mà ra. Tâm đạo của vị thánh A-la-hán lại tận diệt được các hữu tham tùy miên, ngă mạn tùy miên và vô minh tùy miên. Khi nào không c̣n “đất dụng vơ” cho các phiền năo phát triển th́ ṿng luân hồi kể như kết thúc.
Các kiết sử hay “Samyojanas” lại là một nhóm pháp bất thiện khác nữa, các kiết sử trói buộc “ngũ uẩn gông cùm” (Fetter-khandhas) (trong cuộc sống đời này) cho đến các ngũ uẩn (khandhas nơi cuộc sống mai hậu) hay trói buộc nghiệp với quả[141] hoặc giả trói buộc chúng sinh phải chịu đau khổ... (Visuddhimagga, XXII.48) qua các kiết sử đó chúng ta bị trói buộc vào trong ṿng luân hồi sanh tử.[142] Trong cuốn Dhammasangani (§1113) chúng ta thấy cách phân loại 10 gông cùm này như sau:
Tham dục (Kama -raga)
Sân hận (Vyapada)
Ngă mạn (Mana)
Tà kiến (Ditthi)
Hoài nghi (Vicikiccha)
Giới cấm thủ (Silabbata-paramasa)
Tật đố (Issa)
Xan tham (Macchariya)
Vô minh (Avijja)
Hữu tham (Bhavaraga)
Trong những cách phân loại kiết sử nêu trên, tà kiến được xếp dưới hai khía cạnh: tà kiến và Giới cấm thủ. Khi không có chánh kiến ta không thể tận diệt được tà kiến “bản ngă” và các phiền năo khác, và như vậy chúng ta bị cùm nơi ṿng luân hồi sinh tử. Khi không c̣n chánh niệm về một thực tại nào đó ngay trong giây phút hiện tại, chúng ta không thể tu luyện được Bát chánh đạo. Cho đến khi nào chúng ta chưa trở thành vị thánh Nhập lưu th́ luôn có tà kiến xảy ra. Tất đố và xan tham cũng là các pháp bất thiện được phân loại căn cứ vào các kiết sử nhưng không nằm trong các nhóm phiền năo khác. Chúng ta nên t́m hiểu xem ganh tị có xuất hiện khi ai đó nhận được bằng khen (Token of honour) hay bằng danh dự khi ta không nhận được hay không. Chấp thủ bản ngă chi phối các điều bất thiện thô thiển như ghen tương. Vị thánh Nhập lưu đă tận diệt được tà kiến “bản ngă” cũng tận diệt được ghen tương và cả bỏn xẻn nữa. Nếu chúng ta tu luyện hiểu biết về danh pháp và sắc pháp hàng ngày, rất có thể chúng ta khởi sự nhận ra cuộc sống thực sự chỉ là một sát-na cảm nghiệm được một cảnh nào đó. Đôi khi cảnh đó rất dễ chịu, đôi khi lại không dễ chịu chút nào, điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào các duyên hệ chi phối cảnh đó. Kinh nghiệm về các cảnh dễ chịu và khó chịu lại do nghiệp chi phối và do những hành động đă được thực hiện. Nếu ta nh́n nhận cuộc sống chỉ là một chuỗi những pháp khác nhau mà mỗi pháp đó xuất hiện là v́ có được những duyên hệ chi phối riêng, th́ sẽ có rất ít duyên hệ ghen tương xảy ra. Khi ta nhận ra bằng cách nào ghen tương luôn luôn có thể khuất phục chúng ta và các pháp bất thiện khác ta có thể sẽ được nhắc nhở cố tu luyện chánh kiến về danh pháp và sắc pháp để tận diệt những điều bất thiện.
C̣n một cách phân loại các kiết sử khác nữa và cách này cho thấy cách phân loại này không hoàn toàn cứng nhắc. Ta thấy có thí dụ trong Sách Phân Tích (Book of Annalysis chương 17, §940)[143] việc phân loại các kiết này giúp nhận ra các “hạ phần kiết sử” và “các thượng phần kiết sử”. Có năm hạ phần kiết sử thường trói buộc các sanh vật thuộc cơi dục giới và năm thượng phần kiết sử lại trói buộc các sanh linh thuộc cơi cao hơn như cơi Phạm thiên sắc giới và các cơi Phạm thiên vô sắc giới.
Các hạ phần kiết sử (Orambhagiyasamỵoana) gồm:
Thân kiến (Sakkaya-ditthi)
Hoài nghi (Vicikiccha)
Giới cấm thủ (Silabbata-paramasa)
Dục ái (Kama raga)
Sân (Vyapada)
Các thượng phần kiết sử (Uddhambhagiya-samỵoana) gồm:
Sắc ái (Rupa-raga) nơi các cơi Phạm thiên sắc giới.
Vô sắc ái (Arupa-raga) nơi cơi Phạm thiên vô sắc giới.
Ngă mạn (Mana)
Phóng dật (Uddhacca)
Vô minh (Avijja)
Cách phân loại tà kiến kiểu này lại được sắp thành hai loại: dưới góc độ thân kiến và Giới cấm thủ. Chấp thủ lại được sắp thành ba loại: Chấp thủ dục giới, chấp thủ tái sanh, kết quả của thiền vô sắc giới và chấp thủ tái sanh, kết quả của thiền vô sắc giới. Ganh tỵ và keo kiệt không xuất hiện trong phân loại này.
Tâm đạo của thánh Nhập lưu tận diệt được ba hạ phần kiết sử gồm: Thân kiến, Giới cấm thủ và hoài nghi. Vị thánh Nhập lưu không tận diệt được dục ái và sân, nhưng đối với vị đó những điều này lại không thô thiển như trong trường hợp của phàm phu; chúng không thể dẫn đến tái sanh khổ cảnh.
Tâm đạo của bậc thánh Nhất lai không tận diệt được kiết sử dục ái, nhưng đă suy yếu dần đi. Trí tuệ phải được tu luyện ở mức độ cao hơn để tiêu diệt được dục ái và sân. Vị thánh A-na-hàm tận diệt được cả hai triền cái này. Các hạ phần kiết sử không c̣n trói buộc được ngài nữa, nhưng các thượng phần kiết sử vẫn có thể thực hiện được điều đó. Điều này chứng tỏ cho thấy khó khăn đến mức độ nào để huỷ diệt được các kiết sử. Chỉ có tâm đạo của bậc A-la-hán mới có thể tận diệt tất cả những kiết sử. Vị A-la-hán không bao giờ chấp thủ nữa, ngài không chấp thủ với quả thiền, không chấp thủ với tái sanh nơi bất kỳ cơi hiện thực nào cả. Ngài cũng không c̣n ngă mạn, phóng dật và vô minh. Ngài ta đă tận diệt sạch tất cả các pháp bất thiện. Ngài không c̣n tâm bất thiện cũng như tâm thiện nữa, thay vào đó là tâm tố không gây ra bất kỳ hậu quả nào. Bậc thánh A-la-hán thực sự đă trở thành người hoàn thiện, ngài đă hoàn thành được nhiệm vụ của ḿnh. Ṿng luân hồi sinh tử không c̣n có khả năng ǵ để trói buộc được ngài nữa.
Một nhóm pháp bất thiện khác đó là những phiền năo. Phiền năo thực sự dơ bẩn, lại bẩn thỉu và ô uế. Chúng gây ô uế hay dằn vặt tâm chúng ta. Mười pháp bất thiện sau đây được sắp loại vào danh sách các phiền năo (Dhammasangani §1229)[144] như sau:
Tham (Lobha)
Sân (Dosa)
Si (Moha)
Ngă mạn (Mana)
Tà kiến (Ditthi)
Hoài nghi (Vicikiccha)
Hôn trầm (Thina)
Vô tàm (Ahirika)
Vô quí (Anottappa)
Chúng ta c̣n có thể sử dụng từ phiền năo hay kilesa với một nghĩa rộng hơn và rồi muốn ám chỉ tất cả các pháp bất thiện. Nhưng khi ta phân loại phiền năo dưới dạng một nhóm đặc biệt chỉ gồm các pháp bất thiện đề cập đến ở trên th́ ta mới làm như vậy. Thụy miên, xan tham, hối hận và ganh tỵ không được xếp vào nhóm này. (Visudddhimaaga XXII, 49) khẳng định về phiền năo như sau: “Ta gọi là các phiền năo là v́ chúng tự làm vẩn đục chính ḿnh và c̣n làm vẩn đục những hiện trạng liên quan đến chúng.”
Vô tàm (Ahirika) và vô quí (Anottappa) không được xếp vào một trong số các nhóm khác được phân loại với các phiền năo trên. Vô tàm, tức không mắc cở về điều bất thiện và vô quư lại không sợ những hậu quả của điều bất thiện đó. cả hai đều xuất hiện với tâm bất thiện chúng làm vẩn đục các tâm và các sở hữu đi kèm, vô tàm và vô quí lại có nhiều mức độ khác nhau. Một số người thường bị mắc cở về những phiền năo thô thiển và họ sợ hiệu quả điều bất thiện đó mang lại, nhưng họ không mắc cở đối với tâm bất thiện không có đủ sức mạnh để thôi thúc những hành vi bất thiện. Thí dụ khi chúng ta quên mất những thực tại vào ngay sát-na này như: thấy, nghe, hiển nhiên chúng ta không mắc cở v́ sự chểnh mảng đó có mối liên quan đến việc tu luyện chánh kiến.
Các phiền năo sẽ bị tận diệt ở các giai đoạn giác ngộ khác nhau. Tâm đạo của vị thánh Nhập lưu diệt được hết tà kiến và hoài nghi. Tâm đạo của bậc thánh A-na-hàm lại diệt được sân hận. Quả thánh A-na-hàm không thủ chấp với các đối tượng dục lạc. Nhưng ngài vẫn có thể có chấp thủ với tái sanh là hậu quả do thiền mà ra. V́ loại chấp thủ này là pháp bất thiện được liệt kê trong số các phiền năo tham ngài chưa thể tận diệt được. Tâm đạo của vị thánh A-la-hán tận diệt được hết các phiền năo tham. vô minh, ngă mạn, hôn trầm, phóng dật, vô tàm và vô quí. Vị thánh A-la-hán được giải thoát khỏi mọi phiền năo.
Tóm tắt lại chúng ta có các nhóm pháp bất thiện sau đây:
Lậu hoặc (Asavas)
Bộc lưu (Oghas)
Phối (Yoghas)
Phược (Ganthas) dây trói
Chấp thủ (Upadana)
Triền cái (Nivaranas)
Tuỳ miên (Anusayas)
Kết sử (Samyojanas)
Phiền năo (Kilesas.)
Tham xuất hiện trong tất cả các nhóm này và tà kiến, ngoại trừ nhóm các triền cái. Điều này nhắc nhở chúng ta về các vướng mắc do tham và tà kiến tạo ra. Đôi khi tham và tà kiến xuất hiện trong một nhóm nhiều hơn chỉ có một lần, dưới nhiều h́nh thái khác nhau. Chúng ta nên phân biệt đối tượng của tham là ǵ nơi mỗi phân loại đó, v́ đôi khi tham giữ vai tṛ tham ái và đôi khi lại là chấp thủ với kết quả thiền gồm vào trong đó.
Mỗi nhóm trong đó cũng có thể nhắc nhớ chúng ta về những nguy hiểm của pháp bất thiện. Thí dụ, cách phân chia theo các phược, tức là dây trói hay các kiết sử có thể nhắc nhớ chúng ta mối nguy bị trói buộc hay bị xiềng xích vào ṿng luân hồi sinh tử. Chúng ta chỉ vượt qua được bằng kiến lậu hay bằng kiến bộc lưu xiềng xích hay kiết sử chúng ta trong đó, và rất có thể chúng ta không nhận ra. Cách phân loại theo chấp thủ cho chứng tỏ bằng cách nào chúng ta bị ḱm kẹp do chấp thủ với cảnh chúng ta cảm nhận được qua các căn và chấp thủ vào bản ngă. Chúng ta thường hay quên rằng tham không dẫn đến hạnh phúc được, chỉ dẫn đến đau khổ mà thôi.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh-- Kindred Sayings (II, Niddana-vagga, chương XVII, bàn về Phúc lộc và ân huệ.) chúng ta đọc thấy trong bốn mươi ba kinh đức Phật đă nhắc nhớ cho các vị Tỳ-khưu về mối hiểm họa do tham, lợi lộc, ân huệ và xu nịnh mang lại. Thí dụ như, ta đọc thấy trong kinh thứ nhất, trong đoạn này (§1, Dire) viết chính Đức Phật đă nói với Tỳ-khưu như sau:
Này chư Tỳ-khưu, lợi lộc, ân huệ, và xu nịnh th́ thật là một trở ngại thảm khốc, đắng cay và khốc liệt trên bước đường đạt đến an toàn tuyệt đối.
Do đó, này chư Tỳ-khưu, nếu như vậy các chư Tỳ-khưu phải tự tu luyện ḿnh để: “Khi nào lợi lộc, ân huệ và xu nịnh đến với chúng ta, có thể dẹp bỏ sang một bên, đừng để chúng xâm chiếm cơi ḷng khi chúng xuất hiện.
Tại sao Đức Phật lặp đi lặp lại về mối hiểm họa đó nhiều đến như vậy? V́ hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc hoàn toàn vào những “điều kiện phàm tục” sảng khoái. Đừng để chúng chiếm lănh vai tṛ quan trọng trong đời ta. Chúng ta muốn người khác đối xử tốt với ta, chúng ta tự coi ḿnh là quan trọng và quên mất rằng ân hệ, mất mát, danh dự và bất hạnh lại tuỳ thuộc vào những duyên hệ đó, chúng đă vượt khỏi tầm kiểm soát của ta. Chúng ta không thể kiềm tỏa được điều ǵ sẽ xảy đến: lợi lộc hay thua thiệt, danh vọng hay bất hạnh? Đức Phật giải thích tiếp: tham ái là cội rễ (căn) mọi đau khổ. Nhưng chúng ta không thể am hiểu đầy đủ chân đế này, chỉ có tu luyện được chánh kiến mạnh mẽ mới có thể nhận ra được chân đế những lời Đức Phật dạy.
Hiểu biết chính xác tất cả mọi hiện tượng khác nhau trong cuộc sống phải được tu luyện trong suốt cuộc đời chúng ta. Thường th́ chúng ta chỉ chú ư đến những cảnh sắc dễ chịu hoặc khó chịu mà thôi mà không chú ư đến những thực tại có thật như là thấy và nghe. Chúng ta nên nhớ rằng khi nào ta cảm nghiệm được lời khen tiếng chê lúc đó c̣n có nhiều loại tâm khác nhau xuất hiện. Các tâm thấy và nghe được các đối tượng dễ chịu và và khó chịu chỉ là tâm quả do nghiệp chi phối và chúng ta không thể ngăn cản chúng xuất hiện. Sát-na tâm quả xuất hiện như nghe chẳng hạn, tâm chỉ đơn thuần cảm nghiệm được tiếng động, lại khác với tâm bất thiện xuất hiện ngay sau đó và cảm nghiệm được cảnh thinh một cách không hoàn hảo, tỷ như tâm kèm với tham và ác cảm khi xuất hiện. Và rồi c̣n rất nhiều qui tŕnh tâm xuất hiện khác nữa. Tâm có thể suy tư một cách bất hảo về các khái niệm, tỷ dụ như chúng ta lại liên tưởng các tà kiến ngựi khác đă phạm phải trong một thời gian dài đối với chúng ta. Nếu chúng ta không biết ǵ về những điều sai quấy đó, nếu như chúng ta không biết ǵ về quả báo sẽ xảy ra, chúng ta sẽ ngả theo trách móc người khác về những ǵ khó chịu ta cảm nghiệm được qua các căn. Chúng ta nên biết rơ về các tâm quả như thấy nghe, cùng nhiều loại tâm khác. Khi chúng ta nhận ra ḿnh vẫn c̣n ngu si dần độn th́ lúc đó ta sẽ được nhắc nhở tiếp tục tu luyện chánh kiến. Qua tu luyện chánh kiến chúng ta sẽ giảm phần chấp thủ đối với sự quan trọng vào “bản ngă” và kết quả là chúng ta sẽ có khuynh hướng tư duy nhiều đến hạnh phúc của người khác thay v́ chỉ nghĩ đến hạnh phúc của riêng ḿnh.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh- Kindred Sayings (V, Maha-vagga, bàn về phong cách, cuốn I chương VIII) chúng ta đọc thấy nói về những nhóm pháp bất thiện và cách tận diệt các nhóm này. Chúng ta đọc thấy, thí dụ như bộc lưu (Ogha) như sau:
Này chư Tỳ-khưu, có đến bốn loại bộc lưu (Ogha). Bốn loại thế nào? Dục bộc lưu. Hữu bộc lưu, tà kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Đây chính là bốn loại kiến bộc lưu. Chỉ am hiểu đầy đủ, thể hiện trọn vẹn, làm suy yếu và tận diệt được bốn loại bộc lưu trên mà vị A-la-hán mới có thể tu luyện được Bát chánh đạo.
Chúng ta cũng đọc thấy cùng một giọng điệu như trên về các nhóm phiền năo khác, như là các phối (Yoghas các nhóm phiền năo), phược (Knots) các tùy miên, các triền cái hạ phần kiết sử, thượng phần kiết sử. Chúng ta đọc thấy ở phần cuối đoạn này sau khi đă lược lại các thượng phần kiết sử như sau:
… nếu như am hiểu đầy đủ, thể hiện trọn vẹn, làm suy yếu và diệt được năm thượng phần kiết sử, lúc ấy Bát chánh đạo mới có thể được tu luyện...
Bằng cách nào vị Tỳ-khưu có thể tu luyện được Bát chánh đạo?
Đây vị Tỳ-khưu phải tu luyện chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tiến, chánh niệm, chánh định, kết thúc trong việc hăm dẹp tham dục, sân hận, hăo huyền, khiến ta lao vào chốn trường sanh, và lấy trường sanh làm mục tiêu, kết thúc mục ở chốn trường sanh, trôi vào chốn Níp-bàn, lướt tới Níp-bàn, hướng về Níp-bàn.
Chính v́ am hiểu đầy đủ, thể hiện trọn vẹn, làm suy yếu và diệt dục được năm thượng phần kiết sử, mà Bát chánh đạo mới với có thể được tu luyện....
Trước khi có thể diệt dục các pháp bất thiện phải có chánh kiến về danh pháp và sắc pháp trong cuộc sống đời thường hàng ngày.
Câu hỏi.
- Chúng ta đă tích lũy tất cả các loại bất thiện từ đời nọ sang qua đời kia, vậy tại sao chỉ có bảy pháp bất thiện được xếp vào loại các tùy miên?
- Bậc thánh nào đă tận diệt hết được năm hạ phần kiết sử (samyojanas)?
- Bậc thánh nào đă tận diệt hết được năm thượng phần kiết sử (samyojanas)?
[137] Xem Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) XVII, 60 và yamaka, cuốn 6 về Abhiddhamma, phần VII.
[138] xem ven. Nyanaponkí, Abhidanna studies V, vấn đề thời đại 3, khái niệm về Hiện tại trong Vi Diệu Pháp (abhidhamma) BPS kandy, 1976.
[139] Atthisalini II cuốn II phần VII chương I 235-236,
[140] Như trên ibidem.
[141] Cho đến khi nào vẫn c̣n có nghiệp h́nh thành th́ vẫn có dị thục hay quả báo (Vipaka) và như vậy th́ cuộc sống vẫn tiếp diễn.
[142] Atthasàliń (I cuốn I phần I chương II, 48)
[143] Xin đọc thêm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) XXII, 48.
[144] Xin xem Sách Phân Tích (book of Analysis, vibhanga, chương 17, § 966).