Chương 18
Dosa, sân hay ác cảm, là một sở hữu tâm khác nữa. Khi tâm không thích một đối tượng nào đó nó cảm nhận lập tức sân hay ác cảm xuất hiện. Khi có sân xuất hiện, cảm giác đi kèm với tâm luôn luôn là thọ ưu. Chúng ta không thích thọ ưu và chúng ta muốn loại bỏ những thọ ưu đó. Tuy nhiên chỉ khi nào tâm căn sân có đầy đủ duyên hệ th́ nó mới xuất hiện mà thôi. Chúng ta cố gắng trừ khử thọ ưu là bởi v́ chúng ta chấp thủ với thọ hỷ; chúng ta thực sự mù tịt về nguyên nhân cững như những thất lợi do điều bất thiện gây ra.
Chúng ta nên nghiên cứu những yếu tố chi phối tâm căn sân. Kinh Phật và các bản chú giải cho chúng ta thấy sân gồm nhiều khía cạnh khác nhau và nếu chúng ta nghiên cứu những khía cạnh này, chúng ta có thể hiểu rơ những thất lợi và nguy cơ sân gây ra. Chánh kiến sẽ nhận ra những nguy cơ do điều bất thiện gây ra cũng chi phối các điều thiện nữa. Tốt hơn là nên am hiểu rơ ràng (có chánh kiến) về sân hơn là chỉ cố gắng trừ khử mà không có bất kỳ hiểu biết ǵ về sân cả.
H́nh như luôn có muôn vàn lư nguyên nhân tạo ra ác cảm (sân) và h́nh như những nguyên nhân đó lúc nào cũng từ bên ngoài chúng ta như nơi những hành vi của người khác hay những biến cố bất hạnh xảy ra. Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự lại xuất hiện chính bên trong mỗi con người chúng ta. Chúng ta đă tích lũy quá nhiều sân, c̣n sân th́ lúc nào cũng t́m ra được đối tượng cho ḿnh. Chúng ta quá chấp thủ với những cảnh tốt và khi ta không cảm nhận được những cảnh tốt đó nữa th́ buộc sân phải trổi dậy. Khi sân đă trổi dậy, ta sẽ thấy tham chi phối sân phải rất mạnh.
Chú giải Bộ Pháp Tụ (Atthasàliń II, cuốn I phần IX chương III, 257) đă định nghĩa sân như sau:
Nổi cơn thịnh nộ hoặc trở nên cáu kỉnh là trạng thái của sân, giống như con rắn bị đập; lao ḿnh lên hoặc quằn quại như thể bị thấm độc là phận sự của sân; hoặc giả thiêu rụi điều ǵ sân lệ thuộc[116], giống như vụ cháy rừng; sân thành tựu cách xúc phạm hoặc gây tổn hại, giống hệt kẻ thù nắm bắt được cơ hội; nguyên nhân sâu xa là nắm được những cơ sở gây phật ư người khác, giống như nước tiểu trộn lẫn với thuốc độc.
Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga XIV, 171) cũng đưa ra một định nghĩa tương tự về sân[117]. Chúng ta đọc thấy trạng thái của sân là nổi cơn lôi đ́nh, giống như con rắn bị đập. Khi con rắn đă bị đánh nó trở nên hung dữ và bắt đầu tấn công. Sân cũng rất hung hăn, giống như con rắn đă bị đập. Phận sự của sân chính là tự tỏa ra và quằn quại giống như khi nọc độc đă có tác dụng. Khi độc đă có tác dụng liền ảnh hưởng đến toàn cơ thể và gây ra đau đớn. Sân cũng giống như một hậu quả xấu như thế, gây thiệt hại. Phận sự của sân được sánh với một vụ cháy rừng thiêu rụi toàn bộ những ǵ nhờ vào đó mà sống. Sân cũng gây hại giống như vụ cháy rừng thiêu rụi hết cây cối. Nguyên nhân sâu xa của sân là “những cơ sở gây phiền toái, giống như nước tiểu ḥa chung với thuốc độc”. Chẳng ai thích cái hỗn hợp nước tiểu trộn lẫn với thuốc độc đó, cho dù ở Ấn Độ người ta dùng nước tiểu để chữa bệnh. Nghiên cứu kỹ lưỡng nguyên nhân sâu xa sân hiện là điều hết sức ích lợi, nhất là những “nguyên nhân gây phiền toái”. Sân thường xuất hiện do điều người khác đang thực hiện hay đang nói với chúng ta hoặc với người nào đó. Ngay cả việc làm tốt ta đang thực hiện cho ai đó cũng có thể là lư do gây phiền toái nếu chúng ta không ưa ǵ người đó. Chúng ta đọc thấy trong Sách Phân Tích (Book of Analysis chương 17 § 960) về chín lư do tạo ra sân như sau:
Về mặt này, “đâu là chín cơ sở gây phiền toái?” “Hắn đă làm hại tôi”, thế là phiền toái xuất hiện; “Hắn ấy đang hại tôi”, thế là phiền toái xuất hiện; “Hắn sẽ hại tôi” như thế phiền toái xảy ra. “Hắn đă hại tôi...hắn đang hại tôi... hắn sẽ hại người tôi hằng yêu mến” như thế phiền toái đă xuất hiện.” Hắn đă làm điều tốt.... hắn đang làm điều tốt... hắn sẽ làm điều tốt cho người tôi không yêu mến”. Và như vậy phiền toái xuất hiện, đây là chín cơ sở gây phiền toái.
Sân xuất hiện với hai loại tâm, trong đó một số là “tâm vô trợ” (Asankharika) và số khác là “tâm hữu trợ” (Sasankharika)[118]. Sân lại có nhiều mức độ khác nhau. Sân có thể chỉ là một ác cảm nhẹ nhàng hay mạnh hơn một chút, xuất hiện như là một trạng thái buồn sầu ủ rũ, bực tức, cáu kỉnh, tức giận hay căm ghét. Khi sân mạnh hơn chúng ta có thể nói ra những lời thô bỉ, hay quăng quật đồ đạc trong nhà. Chúng ta cảm thấy thất vọng và đi đến chỗ tự tử, có thể đánh người khác, và ngay cả giết người nữa. Khi chúng ta nghe thấy án mạng giết người do sân, chúng ta kinh ngạc không hiểu tại sao điều đó lại xảy ra. Khi sân xảy ra với cường độ mạnh mẽ có thể dẫn tới nghiệp bất thiện. Chúng ta không hề nghĩ đến chính ta đă phạm phải. Sân mạnh hơn c̣n thôi thúc ta phạm cả tội ác vô gián nghiệp (Anantarika kamma) tức là “tội ác ghê tởm” làm phát sinh tái sanh khổ cảnh ngay sau khi cuộc sống chúng ta đă phạm tội ác kết thúc. Chúng ta đọc thấy năm loại tội ác vô gián nghiệp trong Tương Ưng Bộ Kinh - Gradual Sayings (cuốn 5, chương 13 §9, những phiền muộn) như sau:
Này chư Tỳ-khưu, có năm loại người phải hư mất nơi địa ngục do phạm phải năm điều phiền năo, vô phương cứu chữa. Năm loại người đó là ai vậy?
Một là người giết mẹ; hai là người giết cha, ba là người giết một vị A-la-hán; với ác ư, rồi gây đổ máu cho đức Như Lai; tạo chia rẽ trong cộng đoàn Tăng già.
Đây là năm quả tội ác đáng phải hư mất nơi tầng địa ngục, đối với ai gây ra tội ác trên và đă trở thành vô phương cứu chữa.
Chúng ta nên nhớ rằng sân ở bất kỳ mức độ nào cũng đều nguy hiểm cả. Ngay cả ở mức độ nhẹ hơn cũng vậy. Nếu chúng ta không tu luyện chánh kiến, sân sẽ tích luỹ trong ta ngày càng nhiều hơn không biết chừng. Chính v́ thế, nghiên cứu kỹ lưỡng từng loại sân đem lại nhiều ích lợi cho ta.
Sân có thể thúc đẩy nghiệp đạo bất thiện qua thân, khẩu và cả trong ư nữa. Sân thôi thúc nghiệp đạo bất thiện qua thân xác chính là “sát sanh”. C̣n đối với với trộm cắp có thể do tham hay sân thôi thúc mà ra. Chính v́ sân thôi thúc mà chúng ta muốn làm hại đến người khác. Tham và sân thôi thúc tới ba trong số bốn nghiệp đạo bất thiện qua khẩu, cụ thể là nói láo, vu khống và những chuyện không đâu. Khi chúng ta muốn hại người khác th́ cũng do sân thôi thúc mà thôi. Sân c̣n thôi thúc cả nghiệp đạo bất thiện qua những lời nói thô lỗ. Sân lại thôi thúc nghiệp đạo bất thiện qua ư đó chính là ác ư, tức là ư định muốn hại người khác. Nghiệp bất thiện có thể gây ra đau buồn ngay trên đời này và cả ở đời sau nữa. Người phạm phải nghiệp bất thiện sẽ phải sợ hăi v́ quả của nghiệp người đó gây ra và những người như vậy không hề có b́nh an trong tâm hồn. Sân gây tác hại cho cả thân xác và tâm hồn. V́ sân mà dáng vẻ bề ngoài chúng ta trở nên xấu xí; mặt mũi đỏ gay, nét mặt khó chịu và miệng chúng ta cụp xuống trông rất thảm hại. Chúng ta nên nhớ rằng tỏ ra cho người khác thấy bộ mặt khó chịu của ḿnh thật không thận trọng chút và có thể tạo ra cho họ mất kiên nhẫn thay v́ ác cảm. Sân gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, sân có thể làm ta mất ngủ, mất bạn bè, mất danh giá, mất luôn thành công trong làm ăn và mất cả tài sản nữa và sau khi cuộc sống trên đời này kết thúc chúng ta lại phải tái sanh khổ cảnh do sân mà ra.
Rất có thể chúng ta không có sân trầm trọng đến mức độ phạm phải nghiệp đạo bất thiện. Nhưng ngay cả khi sân ở một mức độ nhẹ nhàng hơn cũng có thể gây khó chịu trong hành động và lời nói. Trước khi nhận ra sân th́ chúng ta đă dễ dàng thốt ra những lời nói lỗ măng cục cằn xúc phạm đến người khác. Khi sân xuất hiện ngay cả ở mức độ gây phiền toái nhẹ nhàng thôi, th́ không thể có t́nh thương mến, hoặc thiếu cân nhắc trước t́nh cảm đối với người khác. Thí dụ, có những vị khách bất ngờ đến nhà ta, trong lúc chúng ta không muốn bị quấy rầy, chúng ta cảm thấy khó chịu. Trong những lúc như vậy thái độ của ta rất khắt khe và chúng ta không thể thích nghi được với hoàn cảnh mới với t́nh thương mến và ḷng mến khách. Book of Analysis (Chương 17, § 833) đưa ra một lời nhắc nhở ngắn ngủi nhưng rất hiệu quả trong một đoạn nhằm tóm tắt lại cả hai t́nh huống đó.
Thiếu vắng tính dịu dàng và tính mến khách.
Lời khẳng định trên như là một lời nhắc nhở phải cẩn thận với những t́nh huống trong cuộc sống đời thường. Thật sự th́ ḷng không mến khách thường đi đôi với thiếu tính dịu dàng tế nhị và kèm với tính khắt khe. Tuy nhiên, thoạt tiên cho dù ta có ác cảm khi bị người khách bất đắc dĩ quấy rầy, th́ chánh kiến có thể làm thay đổi thái độ ngay. Chúng ta có thể nhận ra điểm thất lợi nếu không tỏ ra ân cần đối với vị khách, và thiếu tế nhị và dịu dàng. Thế rồi chúng ta có thể đón tiếp khách của chúng ta với t́nh thương mến, và chính chúng ta sẽ nhận ra không c̣n có thái độ cứng cỏi và lỗ măng xảy ra nữa thay vào đó là tính dễ mến và mềm mại trong ḷng.
Sân đôi khi cũng xuất hiện dưới h́nh thức lo sợ. Khi sợ hăi chúng ta không thích thú trước cảnh vật chúng ta cảm nhận. Sợ hăi gây hại cho cả thân và tâm. Chúng ta có thể sợ người khác, sợ trước một t́nh huống nào đó, sợ bệnh tật, sợ tuổi già và cả thần chết nữa. Cho đến khi nào chúng ta chưa tận diệt được sân th́ sân sẽ luôn t́m ra đối tượng.
Chúng ta thường tích lũy sân bằng nhiều cách khác nhau: có người ác cảm ở một t́nh huống nào đó, trong khi đó người khác th́ không. Sân không chỉ xuất hịên do duyên hệ người những ǵ người ta thực hiện hay không thực hiện điều ǵ đó, sân c̣n xuất hiện với bất kỳ đối tượng nào cảm nghiệm được qua một trong số sáu “môn”. Chúng ta tỏ ra cáu kỉnh v́ trời mưa, trời nắng hay băo tố. Chúng ta đọc thấy trong Chú giải Bộ Pháp Tụ (Atthasàliń II, cuốn II, phần II, chương II, 367).
... “hoặc giả khi điều phật ư nổi lên (không có cơ sở)” nghĩa là bực tức vô căn cứ. Thí dụ một vị Tỳ-khưu nào đó nổi cáu lên nói rằng: “mưa ǵ mà nhiều thế”, “chẳng mưa ǵ hết”, “trời nắng dữ dội thế” “trời chẳng nắng ǵ cả”; vị Tỳ-khưu ấy bực tức khi gió thổi mạnh, bực tức v́ không quét được lá bồ đề, không thể mặc được áo cà sa, vị Tỳ-khưu đó bực tức với gió, không được tinh táo vị Tỳ-khưu đó bực tức với ngay một gốc cây.
Đức Phật so sánh những người dễ dàng bực tức với một ung nhọt, chỉ cần đụng nhẹ tới ung nhọt ta đă cảm thấy rất đau. Thật hôi hám và khó chịu phải chứng kiến cái cảnh đó. Chúng ta đọc thấy trong Tương Ưng Bộ Kinh - Gradual Sayings (cuốn III, chương III § 25, ung nhọt):
Này chư Tỳ-khưu, thế loại người nào tâm họ được v́ như một ung nhọt đây? Theo tài liệu này th́ hạng người tỏ ra dễ cáu kỉnh và náo loạn cả lên. Khi nói với họ bất kỳ điều ǵ, cho dù rất tầm thường, họ đă nổi nóng lên, họ rất dễ bực tức và hay sinh sự, họ rất dễ phẫn nộ và để lộ ra bực tức, hận thù,và hờn giận. Giống như một ung nhọt, chỉ cần lấy cây hoạc một thứ ǵ ǵ đó đụng nhẹ vào đủ làm chảy ra đủ thứ máu mủ ra. Ngay cả như vậy, ôi! này chư Tỳ-khưu, khi người nào đó để lộ ra bực tức, hận thù và hờn dỗi. Người như vậy được gọi là “người có ḷng giống như một ung nhọt.” ...
Thế rồi Đức Phật lại nói về người có “tấm ḷng trong sáng”, là người đă nhận ra được Tứ diệu đế, nhưng vẫn chưa đạt đến bậc A-la-hán, rồi người có tấm ḷng “sáng như kim cương” tức là vị thánh A-la-hán. Giống như kim cương có thể cắt mọi thứ, ngay cả đá quí hay cục đá cứng, ngay cả như vậy vị A-la-hán cắt đứt, phá hủy hết các “lậu hoặc” (Asavas)[119].
Cho đến khi nào chúng ta quá chấp thủ với “những pháp thế gian” (Loka-dhammas) như lợi lộc, danh vọng, lời tán dương và hạnh phúc, buộc phải có sân xuất hiện mỗi khi những điều đó thay đổi. Tất cả thứ đó thay đổi liên tục. Nhưng chúng ta cố ư quên đi điều này là vạn vật chỉ là “vô thường” mà thôi. Khi ta mất hết tài sản, khi ta không nhận được danh dự, khi ta bị chê bai khiển trách hoặc khi chúng phải đau khổ, th́ ác cảm và buồn bă nổi lên trong ta. Chánh kiến về một pháp, nghiệp chướng và dị thục hay quả báo có thể giúp chúng ta có thái độ quân b́nh hơn trước những điều sảng khoái cũng như khó chịu xảy đến với chúng ta. Khi các căn chúng ta cảm nhận được những cảnh khó chịu do nghiệp bất thiện tạo ra, do những hành động bất thiện chúng ta đă phạm phải và chẳng có người nào tránh được dị thục hay quả báo bất thiện ngay khi có thời cơ thuận tiện để dị thục đó xuất hiện. Khi chúng ta hiểu ra rằng ác cảm đối với dị thục hay quả báo bất thiện không lợi lộc ǵ, lúc đó ta mới tập trung như lư tác ư thay v́ phi như lư tác ư vào những đối tượng ta cảm nghiệm được. Tất cả có thể sẽ xuất hiện trí tuệ sáng suốt về những pháp đó, nhưng sự am hiểu như vậy không thể tận diệt được sân cũng như những phiền năo khác. Chỉ có chánh kiến được tu luyện nơi thiền quán mới có thể tận diệt được chúng mà thôi.
Sân có thể bị tạm thời loại bỏ do việc tu luyện tĩnh. Khi chúng ta nhận ra những bất lợi v́ chấp thủ với những cảnh dục và khi chúng ta đă có nhiều tích lũy để phát triển tĩnh đạt đến mức độ thiền, tạm thời chúng ta có thể rời khỏi các căn. Các tâm thiện sắc giới có thể tạo ra quả dưới dạng tái sanh nơi cơi Phạm thiên sắc giới và các tâm vô sắc giới thiện lại thể tạo ra quả dưới dạng tái sanh nơi các cơi Phạm thiên vô sắc. Cho dù tham và si có xuất hiện nơi các cơi này[120] là nơi không c̣n duyên hệ ǵ để cho sân xuất hiện được nữa. Tuy nhiên, sân vẫn xuất hiện khi có tái sanh nơi cơi dục giới. Như chúng ta đă thấy, thủ chấp với những cảnh trần lại chi phối sân. Chỉ khi nào đạt đến giai đoạn quả thánh A-na-hàm th́ sân mới bị tận diệt hoàn toàn. Quả thánh A-na-hàm không chấp thủ với các cảnh dục và như vậy không thể chi phối được sân.
Chỉ khi nào chúng ta tu luyện chánh kiến về pháp thực tại, th́ cuối cùng sân mới bị tận diệt. Chánh kiến nhận ra sân như là một thực tại hiện hữu đích thực như là pháp Hành, pháp hữu vi và vô ngă. Thông qua chánh niệm về sân trạng thái của nó mới được nhận ra. Chúng ta tin rằng rất dễ nhận ra sân nhưng chúng ta thường nghĩ đến sân như là một khái niệm “Sân” hay là “ác cảm” và như vậy ta không thể nhận ra được trạng thái của nó. Chúng ta vẫn c̣n coi điều đó như là “Sân của tôi” thay v́ nhận ra sân chỉ là một loại danh pháp xuất hiện là do đạt được những duyên hệ thích hợp.
Rất có thể xảy ra là chúng ta có nhiều ác cảm đối với ác cảm của chúng ta, cũng như đối với thọ ưu đi kèm với ác cảm đó đến nỗi tin rằng chúng ta không thể chánh niệm được pháp vào ngay sát-na này. Trên nguyên tắc chúng ta chánh niệm được bất kỳ pháp nào xuất hiện, những duyên hệ cần thiết cho chánh niệm xuất hiện, ngay cả khi chúng ta không thấy có chút “hứng thú” nào cả.
H́nh như chúng ta không có hận thù hoặc tức giận, nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta đă tận diệt hết sân. Cho đến khi nào vẫn c̣n khuynh hướng sân tiềm tàng, dứt khoát sân sẽ xuất hiện bất kỳ lúc nào. Chúng ta đọc thấy trong kinh Trung Bộ Kinh (Middle Length Sayings I số 21 dụ ngôn cái cưa) viết về Videhika, một Tỳ-khưu Ni rất điềm tĩnh cho đến khi sân không có cơ hội để xuất hiện. H́nh như Tỳ-khưu Ni không c̣n sân. Tỳ-khưu Ni đă nổi tiếng khắp vùng, dịu dàng, khiêm tốn và điềm tĩnh. Người tớ gái Kali muốn thử Tỳ-khưu Ni xem sao và mỗi ngày nàng đă đến làm việc trễ. Chính v́ vậy Tỳ-khưu Ni Videhika mất kiên nhẫn: Tỳ-khưu Ni dùng cây chốt cửa đánh vào đầu Kali. Sự việc xảy ra như vậy khiến Tỳ-khưu Ni mang tiếng xấu. Chúng ta đọc thấy Đức Phật dạy với Tỳ-khưu của ngài như sau:
Ngay cả điều đó đă xảy ra như vậy. Này chư Tỳ-khưu, một số vị Tỳ-khưu ở đây vẫn rất dịu dàng, khiêm tốn và điềm tĩnh, họ chẳng bao giờ có lời lẽ gây phiền hà với nhau. Nhưng khi trái ư nổi lên th́ lúc đó vị Tỳ-khưu mới được coi như là dịu dàng, khiên tốn, và điềm tĩnh....
Đức Phật đă động viên Tỳ-khưu là hăy có “ḷng thân thiện” ngay cả khi người khác nói với họ bằng những lời lẽ khó chịu. Ngay cả nếu như những tên trộm đê tiện đập đánh họ túi bụi xẻ thịt phanh thây họ ra từng mảnh.
Những ai đă tận diệt được sân, những vị quả thánh A-na-hàm và bậc thánh A-la-hán không bao giờ c̣n giận dữ hoặc có chút khó chịu. Ngay trong những hoàn cảnh khó khăn tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi và ngay cả phải chịu đau ốm bệnh tật.
Khi bị đau đớn hoặc ốm đau chúng ta thường hay ác cảm, khi có cảnh xúc khó chịu ảnh hưởng đến thân căn và thân thức của ta đi kèm là các thọ khổ. Thân thức là tâm quả trong trường hợp này thân thức là quả của nghiệp bất thiện. Ngay sau đó trong qui tŕnh tâm căn sân th́ tâm cũng xuất hiện và cảm nhận được đối tượng đó với ác cảm. Hầu như không thể tránh khỏi là ác cảm xuất hiện ngay sau thân thức cảm nghiệm được cảnh xúc khó chịu đó cùng với ác cảm. Để có chánh kiến về những pháp khác nhau xảy ra. Cần thiết phải tu luyện chánh niệm danh pháp và sắc pháp. Có nhiều loại danh pháp và sắc pháp khác nhau khi chúng ta bị đau khổ và khi chúng ta có sân hận về đau khổ và chúng có thể là cảnh của chánh niệm. Chánh kiến về danh pháp và sắc pháp sẽ giúp chúng ta chịu đựng đau khổ nhiều hơn và kiên nhẫn trong cơn bệnh hoạn. Nếu chúng ta bắt đầu tu luyện chánh kiến về pháp ngay vào lúc này, chúng ta sẽ tích luỹ được những duyên hệ giúp cho pháp xuất hiện khi chúng ta đau ốm hoặc khi chúng sắp phải ra đi về cơi vĩnh hằng.
Câu hỏi:
- Loại bỏ thọ ưu có luôn thực hiện được bằng tâm thiện hay không?
- Nguyên nhân sâu xa của sân (dosa) là ǵ ?
- Khi có những “duyên hệ khó chịu ngoài đời” ta thường hay bực tức. Bằng cách nào chánh kiến về nghiệp chướng và quả báo giúp ta có được tâm thiện thay v́ sân hận?
- Tại sao nơi cơi Phạm thiên sắc giới và nơi cơi Phạm thiên vô sắc giới lại không c̣n sân (dosa)?
- Tại sao ta không tận diệt được sân mà không phải tu luyện chánh kiến về danh pháp và sắc pháp? tại sao ta không thể tận diệt được chỉ bằng tu luyện ḷng nhân ái?
- Khi chúng ta ốm đau và khi ta sắp đi về cơi vĩnh hằng, điều ǵ ích lợi nhất có thể thực hiện để thắng được sân? Chúng ta nên làm ǵ nếu như sân lại nổi lên trong những t́nh huống đó?
[116] Vật, như là ư vật. Sắc pháp (Rupa) chính là ư vật của tất cả các tâm khác với ư hay thần kinh nhĩ... điều này được gọi là ư vật (Heart-base) xin xem Vi Diệu Pháp trong cuộc sống đời thường, chương 17 (Abhidhamma in the daily life chapter 17).
[117] So sánh với Pháp tụ (Dhammasangani) § 418.
[118] Xem Vi Diệu Pháp trong đời thường (Abhidhamma in the daily life) chương 8.
[119] “Các chất gây nghiện” tức một nhóm phiền năo.
[120] Trừ nơi cơi Phạm thiên sắc giới là cơi chúng sanh vô tưởng (Asanna-satta) tức cơi thuộc các “Sinh vật vô thức.” Là nơi chỉ có sắc pháp mà thôi.