Viquar Zaman.
Nguyễn Văn Sáu biên dịch
Giới thiệu: Viquar Zaman sinh tại Ấn Độ năm 1931, theo học tại Pakistan và Anh quốc. Hiện ông là Chủ tịch và Giáo sư khoa vi trùng học tại đại học Singapore. Giáo sư Zaman là tác giả năm đầu sách và là thành viên Hội nghiên cứu bệnh học hoàng gia và cũng là thành viên của Hội Hoàng gia y dược và vệ sinh nhiệt đới.
Tôi sanh ra trong một gia đ́nh Hồi giáo ở Hyderabd miền trung Ấn Độ, vào thời buổi khi phong trào đ̣i độc lập cho Ấn Độ đang vào cao trào. Niềm lạc quan to lớn đang lan rộng khắp nơi, dân chúng cảm thấy ngày ra đi của người Anh sắp sửa đến gần, đặt dấu chấm hết cho toàn bộ những đau khổ dân chúng đang phải gánh chịu, một nước Ấn Độ mới sẽ xuất hiện. Thế hệ tôi đang sống có tinh thần yêu nước rất cao và ngay cả ở vào tuổi thơ ngây mới bảy tuổi, tôi đă tham gia cuộc biểu t́nh và hô vang khẩu hiệu chống đế quốc. Thực chất, chính ở tuổi này lần đầu tiên tôi cảm nhận được lựu đạn cay là ǵ.
Tại quê hương tổ tiên tôi, tôi đang điều hành một thư viện có nhiều sách về hầu hết các sách tôn giáo, nhưng đặc biệt là sách viết về đạo Hồi. Tôi đă đọc toàn bộ các sách đó với niềm say mê rất lớn. Một ngày kia, tôi đă đề nghị với cha tôi cho phép tôi vào rừng để t́m kiếm con đường siêu nhiên. Cha tôi trả lời với ḷng thông cảm lớn lao và nói rằng, tôi có thể nghĩ đến điều đó khi lớn hơn. Nhưng không phải vào lúc này.
Cuộc chia cắt vào năm 1947 đă diễn ra xáo trộn về tôn giáo không thể tưởng tượng nổi. Tất cả những ước mơ của chúng tôi đă trở thành cơn ác mộng đẫm máu. Sau khi chúng tôi di chuyển sang Pakistan thành người di dân. Gia đ́nh tôi đă đi đến chỗ phá sản kiệt quệ về kinh tế đă khiến tôi phải mất nhiều mới lư giải được đột nhiên những người đang sống yên ổn với nhau như những người xóm giềng trong nhiều thế hệ, đùng một cái lại có thể trở thành kẻ thù không đội trời chung với nhau. Đang ở lứa tuổi dễ bị ảnh hưởng, chấn thương tâm lư do toàn bộ những biến cố quá lớn lao. Tôi đă quay phắt một trăm tám mươi độ chống lại tôn giáo, một thay đổi làm cho cha mẹ tôi hết sức ngạc nhiên và buồn khổ. Tôi đă đi đến chỗ tin rằng chỉ c̣n có cách mạng xă hội chủ nghĩa mới có thể chữa lành được cuộc xung đột này. Những chia rẽ bất công và chia rẽ tôn giáo đă gây dịch họa cho tiểu lục địa Ấn Độ.
Lúc đó tôi là một chàng thanh niên trẻ tuổi sắp thi đậu trở thành bác sĩ, và cho dù tôi hoàn toàn thâm tín rằng tôn giáo chẳng bao giờ đem lại ḥa b́nh cho Ấn Độ, tuyệt đối chắc chắn rằng tôi sẽ chẳng bao giờ dính líu vào bất kỳ tổ chức tôn giáo nào, nhưng vẫn có một sự mong mỏi siêu nhiên nổi lên trong tôi. Tôi chẳng bao giờ giải thích cũng như thỏa măn được. Khi tôi đang ở Scotland thực tập những công việc sau tốt nghiệp trường y, môi trường tự do tôi rất thích thú đó cho phép tôi lao sâu vào những cuộc tranh luận sống động về tôn giáo, chính trị trong nhiều nhóm sinh viên tôi đang tham gia.
Tôi liên lạc với giáo sư là chủ tịch khoa tâm lư y dược và là một người tŕnh diễn thôi miên có hạng. Tôi đă nh́n thấy và kinh qua những hiện tượng thôi miên tôi đă cảm thấy và hiện nay vẫn c̣n cảm thấy là hoàn toàn hấp dẫn. Mối quan tâm đến thôi miên này đă dẫn tôi tới chỗ thay đổi cả những hiện trạng nhận thức và cuối cùng là hành thiền và các tôn giáo Đông Phương. Chính v́ thế, tôi đă đọc một cuốn sách Phật giáo đầu tiên. Tôi cảm thấy hết sức hấp dẫn và càng đọc tôi càng cảm thấy bị cuốn hút.
Tín lư Phật giáo đă lôi cuốn những khả năng suy luận logic của tôi, trong khi đó bản thân Đức Phật và điều ngài đại diện cho lại cuốn hút khía cạnh t́nh cảm của tôi. Nhưng công việc học hành, hôn nhân và việc làm đă khiến tôi khá bận rộn. Tôi tự nhủ ḿnh: “Một ít ngày nữa tôi sẽ nghiên cứu Phật giáo cặn kẽ hơn.” Hầu như phải cần đến gần ba mươi năm th́ cái gọi là “một ít ngày nữa” mới tới.
Ít năm qua, sau khi đă được cư trú thường xuyên tại Sangapore, vợ tôi bắt đầu luyện Yoga. Điều này nhắc tôi lời hứa tôi đă thực hiện lâu nay đó là nghiên cứu Phật giáo. Hai vợ chồng tôi đă đến tham dự những buổi thuyết tŕnh về tôn giáo phương Đông nói chung và Phật giáo nói riêng. Tại một cuộc hội thảo liên tôn giáo, vị đại diện Phật giáo, một vị sư trụ tŕ tại một ngôi chùa địa phương đă đưa ra tuyên bố gây ảnh hưởng sâu đậm nơi tôi. Ngài nói: “Phật giáo không tranh căi hay chống lại bất kỳ tôn giáo nào, một người Hồi giáo, Thiên Chúa Giáo, Do thái giáo hay Ấn Độ giáo đều có thể thực hiện niềm tin của họ và cùng một lúc có thể tin và theo Phật giáo.” Tôi nhận ra Phật giáo là một cách sống và là một cách thể hiện ḿnh hơn là một tín điều (dogma) cần phải tin và Phật giáo không đụng chạm với một niềm tin của người nào có những tín điều và đức tin đó. Phật giáo không cào bằng tất cả mọi người đều giống nhau hay chẳng có t́nh huống nào như thế; Phật giáo không tuyên bố ḿnh có bất kỳ sự mặc khải chung cuộc nào. Đúng hơn Phật giáo dạy con người ta am hiểu hoàn cảnh của chính ḿnh và của mỗi người trong ḍng chảy thay đổi liên tục. Tôi nhận ra tôi đă là Phật giáo trong tư tưởng. Nhưng tôi không tôn kính và thờ Đức Phật, giống như mốt số Phật tử khác thường làm.
Thế điều ǵ đă lôi cuốn tôi đến với Phật giáo? Điều nhấn mạnh là Đức Phật đă đặt trí tuệ vào đúng chỗ, và nơi tiềm năng một lần đă tháo gỡ cho trí tuệ được hiểu biết, là điều hết sức có ư nghĩa đối với tôi. Được thể hiện như hiện trạng riêng của tôi là một người bác sĩ. Đó chính là trí tuệ tiềm thức của chúng ta là một kho báu thông tin, được hỗ trợ bởi sự thật là nhiều khám phá khoa học quan trọng được thực hiện do hiểu biết trực giác. Sự hiểu biết của Newton cho là sức hút của trái đất giữ cho mặt trăng quay chung quanh quĩ đạo của nó, ư tưởng của Darwin cho là các thể loại biến hóa tùy thuộc vào sự chọn lọc tự nhiên và sự khám phá ra các ṿng Benzene của nhà bác học Kekule chỉ là một số trong nhiều sự thật đó. Tôi tin rằng hành thiền có thể mở ra những bí mật to lớn về trí tuệ tiềm thức và biến chúng ta thành một con người mới và tốt hơn.
Điều Đức Phật nhấn mạnh đến tự lực cánh sinh cũng là điểm rất lôi cuốn tôi. Trước khi ngài qua đời không bao lâu, người ta đă hỏi Đức Phật xem ai là người chúng ta phải t́m kiếm để làm quân sư cho chúng ta khi ngài đă qua đời, ngài đă trả lời: “Hăy là một ḥn đảo cho chính ḿnh. Hăy là chỗ trông cậy cho chính ḿnh, đừng theo đuổi bất kỳ nơi nương tựa bên ngoài nào cả. Hăy bám chặt vào Phật Pháp mà thôi như là ốc đảo và nơi nương tựa của bạn. Và những kẻ nào hiện giờ hay sau khi thầy đă qua đi mà sống như vậy họ sẽ trở thành người cao trọng nhất. Nhưng họ phải khát khao học hỏi.” Đối với tôi câu quan trọng nhất ở đây chính là câu cuối cùng này. Bất kỳ ai muốn hiểu được chính ḿnh, hiểu được bạn bè và thế giới bên ngoài phải có sáng kiến và khao khát học hỏi.
C̣n có nhiều khía cạnh khác về Phật giáo cuốn hút tôi. Tầm quan trọng của ḷng từ tâm và t́nh yêu đă bao quát không những chỉ có con người mà thôi nhưng c̣n bao trùm toàn bộ những sinh vật khác. Bát Chánh Đạo đă coi công đức và tính chân thực vượt trội lên tất cả những phẩm chất khác, sự phân tích ưu việt về đau khổ xác định tham lam như là thủ phạm chính. Và việc từ bỏ cá tính cố hữu của con người, sự hiểu lầm về cá tính này lại là nguyên nhân ḷng ích kỷ của ta xuất hiện. Tóm lại, tôi thấy trí tuệ thông minh của Đức Phật giống như luồng ánh sáng chói chan trên con đường bằng, không có thứ ánh sáng đó tăm tối sẽ bao trùm tất cả. Tôi biết ḿnh không thể chạy nhanh v́ đây là một bước đường tiệm tiến. Nhưng tôi rất vui mừng được tiến bước trên con đường đó. Tôi rất hài ḷng chiêm ngưỡng với ḷng kính sợ những mầu nhiệm cuộc sống và tiếp tục t́m kiếm mục tiêu cuộc đời.