CUỘC HÀNH TR̀NH VÀO THINH LẶNG

Tỳ kheo Amaro

Ngyễn Văn Sáu biên dịch

 

Giới thiệu: Tỳ kheo Amaro sanh tại Anh quốc vào năm 1956. Ông theo học tại đại học Bedford College. Đại học Luân Đôn là nơi ông nhận văn bằng danh dự chung cho khoa  Tâm lư và Sinh học. Sáu tháng sau ngày tốt nghiệp đại học, ông đă xin  gia nhập thiền viện.

 

Trong tất cả các câu hỏi ngươi ta đặt ra với người phương Tây và nhà sư Phật giáo, có thể câu hỏi thường gặp nhất đó là:  “Tại sao bạn trở thành Phật tử”. Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi cần chứng minh thực chất câu hỏi này không được chuẩn lắm. Ở đây không đơn giản chỉ nhằm giải quyết một vấn đề thức hay hóc búa, nhưng v́, đối với chính tôi cũng như nhiều người khác. Chúng ta chưa bao giờ có kinh nghiệm được sống với tư cách là một người Phật tử, nhưng để khám phá ra điều chúng ta luôn luôn nhắm tới trong cuộc sống theo phong cách “Phật giáo” là như thế nào. Khi tôi đang du lịch đến Thái Lan và có dịp lần đầu tiên tiếp cận với giáo lư Phật giáo nguyên thủy và lối sống theo phong cách Phật giáo, cảm giác quan vượt trội đó là: “Thật kinh ngạc biết bao - không phải v́ có những người khác cũng có cùng chung suy nghĩ như tôi, nhưng c̣n có một khối lượng lớn giáo lư của Đức Phật được bố trí một cách tuyệt vời tôi chưa bao giờ hy vọng nắm được. Không những thế, ta c̣n thấy xuất hiện truyền thống tu tŕ khắc khổ, đă phát triển được hơn 25 thế kỷ qua, và toàn bộ một nền văn hóa nhằm tôn vinh, hỗ trợ và tôn kính nỗ lực của một con người đă từ bỏ hết tham vọng trần tục và thực hiện mục tiêu đạo đức trong cuộc sống.”

Chỉ có một số rất ít những người phương Tây dám diễn tả cảm xúc của ḿnh sau khi đă từ bỏ đức tin cũ để trở thành Phật tử. Cá biệt chỉ có một số rất ít những người quan tâm đến hành thiền th́ họa may. Một điều rất thật, ta thường thấy xuất hiện mối ác cảm, nhưng quan trọng hơn là họ khám phá ra nơi giáo lư của Đức Phật đă đem đến một biểu tượng cho cuộc sống - điều này mang lại  ư nghĩa cho Phật giáo đồng thời cũng giúp thể hiện được vị thế của tôn giáo đó. Trong  chuyện ngụ ngôn vết chân voi (chứa đựng toàn bộ vết chân các sinh vật khác) Đức Phật đă mô tả giáo lư của các tôn giáo khác đều được chứa đựng trong Phật pháp v́ Phật pháp đặt nền tảng trên chân lư phổ quát, được biết đến thông qua trạch pháp (điều tra nghiên cứu) kinh nghiệm đời thường. Đây chắc hẳn là cách Phật Pháp đă xuất hiện ra trong cuộc đời tôi:  Tiếp cận với Phật pháp, tôi thấy xuất hiện cảm nghĩ:  “cuối cùng mọi sự đều đúng cả.” - không nhất thiết phải bác bỏ các triết thuyết và những lời dạy đạo đức nào cả, v́ tất cả những điều đó rơ ràng đều cố gắng hướng về một thực tại duy nhất. Mọi sự mập mờ và đau khổ xuất hiện trước kia, chỉ hệ tại ở chỗ chúng ta đă coi những biểu tượng theo nghĩa từng chữ mà ra, hay được truyền phải tin những ǵ đáng nghi ngờ.

Chấp nhận con đường Phật Pháp cao quí hơn văn hóa bản xứ. Thực vậy, chẳng phải là nhằm phê phán nền văn hóa bản xứ của chúng ta. Nhưng c̣n là khunh hướng vận dụng văn hóa do để truyền lại và trong nền văn hóa đó đức tin đă nổi lên. Tôi cảm thấy h́nh như ḿnh đang lang thang một cách tuyệt vọng trong sa mạc và thế rồi có một chiếc xe buưt máy lạnh chạy qua, không những chỉ dừng lại mà c̣n dành chỗ cho tôi lên xe và đưa tôi đến chỗ tôi muốn đến, nhưng trên xe c̣n chở rất đông những hành khách hết sức dễ thương cùng chia sẻ chuyến đi với tôi. Để có được bảo đảm là tất cả họ đều nhắm tới “Thành phố thiên quốc” và đến được đó là một việc hoàn toàn khả thi và rồi thốt lên:  “Cám ơn sự giúp đỡ quí báu, nhưng khổ nỗi màu sơn xe buưt lại không thích hợp”. Nói thật khiến tôi phát khùng lên. Đây là t́nh huống đă xảy đến với tôi  -  tôi không thể tưởng tượng ra ḿnh có thể t́m đâu ra được vị tôn giả nào, không t́m đâu ra một cuộc sống đơn sơ hơn hay bất kỳ hướng dẫn trực tiếp nào trên bước đường siêu nhiên. “Họ chính là những đồng bào của tôi.” Tôi đă phát hiện ra và tôi quyết định ở lại.

Không quá phóng đại, cho rằng chẳng t́m đâu ra một người nào ở tuổi hai mươi mốt lại dám vui vẻ, mạo hiểm vào “cuộc sống thánh đức” ngay khi gặp cơ hội bày ra trước mắt, lại không quay ngó lại đàng sau. Thực vậy, ngay ván bài đầu tiên đầy ngẫu hứng hẳn chúng ta phải ngạc nhiên nhận ra có quá nhiều người tiếp cận được với giáo lư của Đức Phật đă tiếp tục kiên định lập trường không thay đổi. Một điều quá rơ ràng, đó là phát hiện ra chân đế không phải là ưu tiên cấp bách nhất đối với hết mọi người – con người ta ai cũng cảm nghiệm được điều ǵ đó, trong cùng một hoàn cảnh gần na ná giống nhau và tôi bắt đầu cân nhắc xem v́ lư do ǵ tôi lại gặp phải việc xoay chuyển bất ngờ như vậy. Điều khiến tôi chắc chắn như vậy là v́ đây là chánh đạo đích thực. Khi nh́n lại những kỷ niệm trong cuộc sống tôi thấy một số mô h́nh rơ ràng đă lộ ra. . .

Tôi sinh ra tại Anh quốc, tại tỉnh Kent, ngày 02 tháng 9 năm 1956. Cha mẹ tôi thuộc hạng trung lưu, và vào thời điểm đó, hai ông bà đă hỗ trợ gia đ́nh bằng nghề nông. Có rất ít ảnh hưởng tôn giáo khi c̣n nhỏ tuổi, v́ cha mẹ tôi cả hai đều vỡ mộng với niềm tin Thiên Chúa giáo  ngay từ hồi c̣n trẻ tuổi, hai ông bà không thuộc những người đến nhà thờ thường xuyên. Có thể nói, ngôi trường tôi theo học từ thuở nhỏ cũng có thể gọi là trường đạo.  Nhưng tôi liên tục cảm nhận mối bất măn về tôn giáo họ tŕnh bày:  sẵn có đầu óc t́m ṭi, tôi bằng ḷng với nội dung chỉ đơn giản là chỉ tin theo những ǵ người khác truyền cho ḿnh phải tin. Nhiều câu hỏi thường xuất hiện trong đầu tôi và những người bao quanh tôi chỉ đơn giản không thể có câu trả lời một cách đơn giản cho những câu hỏi đó. Tôi cảm thấy ḿnh chỉ được cung cấp một “đường nét chung chung”, thay v́ được nghe những ǵ phát xuất trực tiếp từ kiến thức.

Cha mẹ tôi không giàu có ǵ cho cam, nhưng v́ có được một học bổng, thế nên tôi có thể theo học tại trường công. Tôi coi công việc học hành không mấy khó khăn. Nhưng thời gian qua đi, tôi thấy khó ḷng gắn bó với hệ thống giáo dục đó. Có quá nhiều tṛng ghẹo và bắt nạt, liên kết với những chấn thương thời c̣n trẻ tuổi đă khiến toàn bộ những kinh nghiệm tuổi trẻ của tôi trở thành cơn ác mộng. Tôi cố gắng hết sức để vượt qua và tận dụng tối đa điều đó. Nhưng theo ḍng thời gian trôi đi, tôi đă trở thành một học sinh khó dạy. Tôi thuộc loại học sinh tiềm năng trong lớp học và cả trên sân chơi thể thao, nhưng lại có hạnh kiểm nổi loạn và vô kỷ luật.

Suốt trong thời gian này, cảm thức tôn giáo của tôi được h́nh thành và phát triển, nhưng cảm thức đó c̣n ngầm dưới đất. Tôi không thể đứng vào hàng ngũ Thiên Chúa giáo với chính trực giác riêng tư, tôi nhận ra được điều ǵ là hiện thực tuyệt đối; c̣n nữa, trong số bạn bè tôi dứt khóat loại bỏ tôn giáo ra ngoài. Tôi đă nhận ra trong thâm tâm ḿnh có điều ǵ đó vượt qua khỏi thế giới giác quan thuần túy và tôi cũng nhận ra cách này hay cách khác tự do hoàn hảo là rất hiện thực. Tôi phát hiện thấy thứ tự do mà tôn giáo phải đề cập đến, nhưng chỉ có một cách duy nhất tôi cảm thấy có thể cảm nghiệm được thứ tự do này, đó là thông qua kết bè kết bạn và tham gia vào nhiều loại h́nh độc hại khác nhau.

Lúc này tôi đă ở tuổi mười bảy, mùa thu năm đó tôi rời bỏ gia đ́nh và theo học cao hơn. Tôi gia nhập đại học Bedford College thuộc hệ thống đại học Luân Đôn. Nhập khoa tâm lư và sinh lư học gộp chung với nhau. Sở thích tôn giáo (siêu nhiên) của tôi bắt đầu phát triển rất nhanh trong thời gian này và tôi bắt đầu tham gia đều đặn những bài thuyết tŕnh do thuyết tŕnh viên thuộc truyền thống Rudolf Steiner thực hiện. Trong ṿng nhiều tuần liên tiếp và rồi một vài tháng sau một lọat những chủ đề đă được tŕnh bày - những điều phức tạp đầy hấp dẫn về vũ trụ học và siêu h́nh học, những vận hành của bánh xe nghiệp chướng, rồi lịch sử tôn giáo Châu Âu, những dải ngân hà, và những thế giới bí ẩn – toàn là những tư liệu hết sức hấp dẫn. - Tuy nhiên để theo kịp ư nghĩa những chủ đề đó, để thực sự làm được đôi điều ǵ đó ảnh hưởng đến phong cách tôi đang sống lại là một vấn đề khác.  Tôi vô cùng bận rộn lao vào những bài luận văn và ráng hết sức để qua được kỳ thi  và rồi lang thang vớ vẩn cùng với bạn bè, rồi tôi thấy Yoga và thiền định như là điều tôi muốn theo đuổi trong những thời gian rảnh rỗi. Thật sự tôi cảm thấy đời ḿnh thiếu một chút ǵ đó, nhưng ở thời điểm đó, tôi đoán là điều thiếu vắng đó chính là chấn động tinh thần kế tiếp hơn là một tâm hồn b́nh thản.

Thật kỳ lạ, trong suốt thời kỳ này, tôi không bao giờ đọc bất kỳ cuốn sách Phật nào cả; những lời giảng dạy gây phấn chấn tâm thần và đầy hấp dẫn luôn khiến cho mối bận tâm của tôi bị chệch hướng, c̣n những ǵ là ngụy biện, gây cảm hứng hay thiên về một sắc thái tu tŕ như:  Thiên Chúa là kết cấu và bản chất muôn vật, là vị thần linh vĩ đại, là Đấng Thiên chủ, Đấng Hiện hữu ở khắp mọi nơi. Cho dù trong tâm trí tôi luôn hiện hữu những triết thuyết cao thượng như vậy, để có thể ngăn chặn được nhận thức thống khổ và bất an đang nổi lên, sự sa đọa vào những cảm giác khoái lạc đă nổi lên trong tôi, cho dù cái khoảng cách mong manh giữa kinh nghiệm lo lắng và lối thóat đi vào lăng quên. Có điều ǵ đó trong tôi mách bảo tôi phải lao vào con đường siêu nhiên -  con đường đó ra sao, diễn ra ở đâu và dưới h́nh thức nào tôi chẳng có chút ư tưởng nào trong đầu cả.

Năm 1971 tôi nhận được bằng Cử nhân và khi tôi có dịp nhận được một chuyến bay miễn phí với tư cách là một người giữ ngựa đua trên chuyến bay chở hàng sang Malaysia. Tôi đă quyết định làm một chuyến du lịch sang các nước Á châu. Sinh nhật lần thứ hai mươi mốt của tôi diễn ra vào tháng chín năm đó, chính v́ thế tôi có tổ chức một buổi tiệc liên hoan sinh nhật cuối cùng trong đó tôi mời tất cả những người quen biết, từ biệt họ và ra đi với vé máy bay không khứ hồi và không ngày trở về. Khi tôi đi chu du khắp các nước Đông Nam Á, cố đến thăm những địa danh huyền bí, tôi  rất kinh ngạc nhận thấy tất cả những nỗi bứt rứt và những khó khăn rắc rối tôi hy vọng bỏ đàng sau tại Anh quốc nay lại xuất hiện trên máy bay và bám theo tôi.  Khi lên đường tôi đă hạ quyết tâm từ bỏ uống rượu và hút thuốc, quyết định ăn chay trường. Tuy nhiên, khi tôi kiên tŕ đi từ nơi này sang nơi khác, tôi thấy ḿnh luôn xuất hiện trước cùng một đám đông như ư tôi đă muốn từ bỏ.

Tôi từ biệt nhóm người tôi đang chung sống trên băi biển miền nam Thái Lan và ra đi một ḿnh đến những tỉnh miền Bắc Thái Lan xa xôi. Tôi có địa chỉ của một số bác sĩ người Anh đang hoạt động tại các trại tị nạn và coi nhà của họ là điểm xuất phát. Tôi đến đó vào đầu tháng giêng năm 1978, tôi được biết các bác sĩ tôi đă quan hệ lúc này không có mặt ở đó, chính v́ vậy không phiền hà ai điều ǵ, tôi đă hỏi thăm đến các nơi thăm viếng khác gần đó. Một cô điều dưỡng cho tôi hay có một thiền viện Phật giáo dành cho người phương Tây đi tu làm sư, và họ mới đến đây thăm trại trong dịp lễ Giáng sinh vừa qua.  Nhờ những ǵ cô ta cho biết, tôi nghĩ có thể lưu lại đó một ít ngày. Tôi nghĩ bụng “Thật là tuyệt” và tôi hoàn toàn có lư, ít ngày đầu tiên đó hiện giờ đă kéo dài đến mười năm.

Đây là một thiền viện khổ hạnh lâm do Thượng tọa Sumedho thiết lập và trụ tŕ hai năm về trước. Những ǵ tôi gặp ở đây h́nh như là câu trả lời cho toàn bộ những khát vọng của tôi:  đây là nơi qui tụ một nhóm người vui tươi và thành tâm sống chung với nhau trong khổ hạnh và đơn sơ tận hiến vào việc thể hiện chân đế. Không phải trả tiền; không có bất kỳ đ̣i hỏi nào ngoài yêu cầu theo sát chương tŕnh hàng ngày và có ước muốn thực hiện kỷ luật tu tŕ. Nguyên tắc được đặt ra là nhằm phục vụ ích lợi cho những người có mặt ở đây. Họ phải tham gia đầy đủ mọi sinh hoạt một thành viên của cộng thể; nếu chỉ đi ḷng ṿng hoặc nh́n ngó sự việc diễn ra ở đây th́ chẳng lợi lộc ǵ. Tôi thật sung sướng với khám phá mới này và cảm thấy như có bàn tay vĩ đại vô h́nh nào đó đă bứng tôi ra khỏi băi biển và quẳng tôi vào rừng sâu vậy. Hiện thời những ǵ tôi phải làm là xúc  tiến công việc đó.

Những giáo lư tôn giáo và triết lư lặt vặt tôi đă gặp trong nhiều năm qua đột nhiên lại xuất hiện. Phật Pháp đă soi sáng cho tôi quá rơ ràng:  đó là những vấn đề cơ bản là nguyên nhân và những ǵ xảy đến tiếp theo sau đó. Tôi  chẳng c̣n nghi ngờ v́ ḿnh đă t́m ra chánh đạo. Vào ngày thứ ba tôi đă xin cạo đầu và ba tuần sau đó tôi đă chính thức nhận Bát giới. Tôi được thọ đại giới làm Sa di vào năm 1978 và nhận đại thọ giới thành Tỳ kheo vào tháng tư năm 1979; do Ḥa thượng Ahahn Chan làm Thiền sư của tôi v́ lúc đó ngài vẫn c̣n khỏe mạnh.

Từ đầu đến giờ tôi luôn coi khía cạnh cuốn hút và thích thú nhất đối với tôi là tinh thần phi giáo điều nơi chánh đạo Phật giáo:  Chúng ta được động viên cổ vũ để nghi ngờ, t́m ṭi và trạch pháp (điều tra nghiên cứu) sâu rộng đồng thời học hỏi từ kinh nghiệm cuộc sống của chính chúng ta. Việc diễn giải Kinh Phật cũng phản ánh điều này – đó là chúng ta không nghe thấy bất kỳ tuyên bố nào của Đức Phật cho rằng Ngài là chân lư tuyệt đối để chúng ta tin theo. Nhưng chúng ta được nghe Trưởng lăo  Ananda nói rằng:  “Tôi đă nghe thấy vậy”.  Sự động viên cổ vũ là để cho chúng ta suy gẫm về những lời Phật dạy  hơn là chỉ mù quáng tán thành những giải thích của ai đó, không đếm xỉa ǵ đến việc giải thích của chúng ta có đúng đắn đến mức độ nào.

Yếu tố cơ bản nơi chánh đạo Phật giáo là tính đơn sơ, thời gian trôi qua h́nh như chánh đạo đó ngày càng trở nên quan trọng. Lúc mới tiếp cận với chánh đạo Phật giáo, tôi cảm thấy giáo lư Phật giáo hơi  nghèo nàn; h́nh như hơi keo kiệt bủn xỉn chút xíu th́ phải. Khi thấy rằng  Đức Phật chỉ đưa ra được “một nhúm lá”. Tuy nhiên,  mười năm qua tôi đă cảm nhân được Đức Phật đă cương quyết không mệt mỏi chỉ để giảng dạy về “đau khổ và những ǵ xảy ra sau đó”. Những  mối quan tâm thứ yếu đă khiến cho khả năng trí tuệ trật đường, những suy tư khó hiểu cộng với những ǵ cấp bách trong cuộc sống hàng ngày h́nh như đă vuột khỏi khả năng tin vào những ǵ thực tế. Ư nghĩa to lớn sự mầu nhiệm của cuộc sống được phát triển với hành thiền, song song với ư nghĩa kinh hoàng và ngạc nhiên kỳ thú; một điều hầu như đă trở thành hiển nhiên đó là vạn vật thật là vô tận, đây là điều ta có thể hiểu được; tập trung hết khả năng trí tuệ và trí nhớ để thử và nắm bắt cho được là điều đó th́ thật là uổng công vô ích và không cần thiết. Một khi tuệ giác được giải thoát khỏi tham lam th́ chẳng c̣n c̣n trận chiến nào nhằm giải quyết những điều nhiệm mầu đó. Phật Pháp chỉ ngự trị trên những điểm có bản nhất của vấn đề rộng lớn này, để có thể đạt một mục tiêu duy nhất đó là: vạch ra cho được thói quen tham lam và kinh nghiệm đau khổ do tham lam đó mà ra sẽ đi đến chỗ kết thúc. Phật Pháp chỉ đơn giản tạo ra cho ta cơ hội đó là: “Nếu bạn cảm thấy Phật Pháp là điều quan trọng, th́ đó là tất cả những ǵ bạn cần phải biết.”

Tôi đă sống cuộc đời nhà sư được mười năm- nghiêm túc nắm giữ Luật Tạng và chuyên tâm hành thiền trong một thời gian dài mỗi ngày. Cảm nghiệm được những biến đổi sâu xa trong lối sống là điều hợp với lẽ tự nhiên; thật vậy, không cảm nghiệm được những thay đổi như vậy có thể phủ nhận tính đúng đắn nơi chánh đạo Phật giáo. Tuy nhiên, đang khi chiêm ngắm những ǵ hàm chứa nhiều ư nghĩa đó, bộc lộ được ư thức “vô ngă” sẽ luôn là một đề tài nổi cộm. Có một cảm nhận luôn tiến triển giúp ta khuây khỏa, đó là tất cả những ǵ ta quan sát, nhận thức, ghi nhận và tạo ra được không phải là “tôi” hay “của tôi”, tất những thứ đó không dính dáng ǵ đến cái “tôi” (bản ngă) cả, “Con người” chỉ thực sự là điều ǵ “được quan sát” hơn là trở thành “chủ thể quan sát”. Lại c̣n có ư nghĩa giải thoát đang trải rộng theo ḍng thời gian, những mắc mứu và ràng buộc về chính bản thân đang tan vỡ do sức rị của hoài băo và kỳ vọng. Một khi ư thức bản ngă tan biến đi th́ ảo tưởng về thời gian cũng tan biến theo và trí tuệ có thế tỉnh táo và  nhạy cảm trước những ǵ xảy ra ngay tại nơi đây vào lúc này.

Khuynh hướng tạo phức tạp và phiền muộn do những thăng trầm trong cuộc sống cũng sẽ tan biến đi khi những luật lệ trần tục không c̣n được coi như thuộc bản ngă nữa. Tất cả những ǵ thường được xác định là tội lỗi và nhân đức, cộng với những ǵ là sai trái trên đời này – tất cả đều đơn giản được coi như là một phần mô h́nh tự nhiên thuộc cơi nhân duyên. Những phẩm chất dẫn đến những ǵ tốt đẹp cần được theo đuổi, những ǵ dẫn đến tai hại cần được loại bỏ, và một  khi chúng ta rút kinh nghiệm được từ những lỗi lầm của ta, lúc đó tâm trí ta được tinh luyện. Có điều thật rơ ràng là cuộc sống chúng ta sẽ trở nên đơn giản hơn khi chúng ta không gây phức tạp thêm. -  không nhất thiết phải phải biến mọi sự trở thành vấn đề phức tạp.