LUẬT ĂN CHAY
Nguyên tác:"Vegetarianism"
Tác giả: Tỳ kheo S. Dhammika
Dịch giả: Tỳ kheo Thiện Minh
Giới thiệu: Tỳ kheo S. Dhammika là một tu sĩ người Úc. Khi c̣n là cư sĩ, ông là một thành viên hoạt động tích cực cho Hội Phật giáo bang New South Wales, châu Úc . Hiện nay, ông đang hoằng pháp tại Sri Lanka, châu Âu , Singapore, và là một cố vấn chương tŕnh tôn giáo của Bộ Giáo dục.
Có rất nhiều ư kiến khác nhau giữa các Phật tử về vấn đề này. Cho nên, chúng tôi chỉ xin tŕnh bày những luận chứng của những người tin rằng "Ăn Chay" là cần thiết cho các Phật tử và của những người không tin điều đó. Ăn Chay không phải là một phần của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, và chính Đức Phật cũng không phải là người ăn chay. Đức Phật sử dụng thực phẩm hàng ngày do Ngài đi khất thực hay do những người ủng hộ mời Ngài đến nhà dùng bữa, và trong cả hai trường hợp, Ngài đă ăn những ǵ được dâng cúng cho Ngài. Trước khi giác ngộ, Đức Phật đă thử dùng nhiều loại thức ăn khác nhau, kể cả loại thức ăn không có thịt. Nhưng cuối cùng Ngài đă bỏ không dùng các loại thức ăn đó v́ Ngài tin rằng chúng chẳng giúp ǵ cho việc phát triển tâm linh.
Kinh Tập, thuộc Tiểu Bộ Kinh đă nhấn mạnh điểm này, cho rằng chính sự phóng đăng đă khiến cho người ta trở nên ô uế (cả về đạo đức lẫn tinh thần), chứ không phải là việc ăn thịt. Đức Phật thường được mô tả như là người sử dụng thịt. Ngài đă giới thiệu nước xốt thịt như là một phương thuốc chữa được một số bệnh tật và khuyên các vị tăng ni dùng thịt v́ những lư do thực tiễn, tránh một số loại thịt, hiểu ngầm là những loại thịt khác được chấp nhận cho sử dụng.
Tuy nhiên về sau này, một số Phật tử dần dà cảm thấy khó chịu về việc ăn thịt. Vào năm 257 trước Tây lịch, vua Asoka (A Dục Vương) phán rằng trái với trước đây, từ nay chỉ có hai con công và một con nai được giết thịt để cung cấp thực phẩm trong nhà bếp của hoàng gia và cuối cùng ngay cả việc này cũng đă được băi bỏ. Vào thời kỳ bắt đầu kỷ nguyên Ky tô giáo, ăn thịt đă trở thành điều không thể chấp nhận được, đặc biệt là đối với những người theo phái Bắc tông; mặc dù những cuộc bút chiến chống lại điều này trong các tác phẩm như Kinh Lăng Già cho thấy ăn thịt vẫn c̣n rất phổ biến hay ít nhất cũng vào thời điểm của những tranh luận đó. Các bản kinh của phái Mật tông có niên đại từ thế kỷ thứ VII và VII trở đi, thường khuyến khích cả việc uống rượu lẫn ăn thịt, và cả hai đều thích hợp để dâng cúng các vị thần. Rất có thể đây là để bày tỏ sự tự do không ràng buộc vào quy ước mà phái Mật Tông đă dạy, để chống đối lại những người phái Bắc Tông vốn thực hành việc kiêng uống rượu và ăn thịt như là để thay thế cho sự thay đổi tâm linh thật sự.
Ngày nay, người ta thường cho rằng những người theo Bắc Tông th́ "ăn chay trường" c̣n những người theo Nam Tông th́ không. Tuy nhiên, thực tế lại có phần phức tạp hơn. Thường th́ các Phật tử Nam Tông không có bất kỳ hạn chế nào trong chế độ ăn uống, mặc dù chúng ta vẫn thường thấy nhiều vị Tăng Ni hay cư sĩ ở Sri Lanka ăn toàn rau đậu. Một số khác kiêng thịt nhưng lại ăn cá. Các vị Tăng Ni Trung Hoa và Việt Nam th́ "ăn chay trường" rất nghiêm khắc và cộng đồng cư sĩ tại đó noi gương họ, mặc dù cũng có nhiều người không làm như thế. Tuy nhiên, trong số các Phật tử Tây Tạng và Nhật Bản, rất ít khi thấy họ ăn chay.
Những người tu ăn chay chỉ dựa trên lư luận đơn giản, nhưng đầy tính thuyết phục là việc ăn chay hỗ trợ cho lư tưởng tu hành của họ. V́ theo họ, ăn thịt khuyến khích một công nghiệp tạo ra những hành động tàn ác và gây ra cái chết cho hàng triệu súc vật. Một người có ḷng từ bi nhân hậu muốn làm dịu đi tất cả những đau khổ đó và bằng cách từ chối ăn thịt, chúng ta sẽ làm được điều đó.
Những người tin rằng việc ăn chay là không cần thiết đối với Phật tử cũng có các lư luận không kém phần thuyết phục, mặc dù phức tạp hơn, để hỗ trợ cho quan điểm của họ: (1) Nếu như Đức Phật cảm thấy các thức ăn không thịt là hợp với các Giới Luật th́ ắt hẳn Ngài đă tuyên bố và ít ra cũng đă được ghi chép trong Tam tạng Pali, nhưng đàng này lại không thấy Ngài đề cập đến. (2) Trừ phi chính chúng ta thực sự giết con vật (ngày nay điều này ít khi xảy ra) để lấy thịt sử dụng, th́ chúng ta không có trách nhiệm trực tiếp về cái chết của con vật đó; và hiểu như vậy th́ người ăn chay và không ăn chay cũng không khác biệt ǵ cả. Những người ăn chay chỉ có thể ăn rau quả v́ có người nông dân cày cấy ruộng (như vậy họ cũng đă sát hại biết bao nhiêu sinh vật) và phun thuốc trừ sâu (lại giết thêm nhiều sinh vật nữa) (3) Cho dù những người ăn chay không ăn thịt, họ cũng phải dùng rất nhiều sản phẩm khác dẫn đến việc sát hại thú vật (như xà pḥng, đồ da thuộc, huyết thanh, tơ tằm, v.v...). Tại sao chúng ta kiêng không dùng một thứ sản phẩm này, song lại sử dụng các thứ khác? (4) Các đức tính tốt như cảm thông, nhẫn nại, quảng đại, và trung thực; các tính xấu như ngu dốt, kiêu hănh, đạo đức giả, ganh tị và lănh đạm thờ ơ không tùy thuộc vào những ǵ chúng ta ăn vào miệng, và như vậy th́ thức ăn không phải là nhân tố quan trọng để phát triển tâm linh.
Một số người sẽ chấp nhận quan điểm này, nhưng số người khác th́ lại chấp nhận quan điểm kia. Như vậy, mỗi người phải tự quyết định cho ḿnh.
Tài liệu tham khảo:
1) Ruegg, D.S., "Ahimsa and Vegetarianism in the History of Buddhism", Buddhist Studies in Honour of Walpola Rahula, S. Balasooriya et. al., London, 1980.
2) P. Kapleau, "To Cherish All Life", London, 1982