NỮ THIỀN SƯ PHẬT GIÁO

Tại Hoa Kỳ

 

 

Nguyên tác  : Buddhist teachers in America

Tác giả        :  Lenore Friedman

Dịch giả       : Tỳ Khưu Siêu Minh

 

 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

HÀ NỘI - 2006

 

 

MỤC LỤC

 

Lời mở đầu  

Lời giới thiệu            

1. Thiền Sư Toni Packer          

2. Thiền Sư Maurine Stuart      

3. Thiền Sư Pema Chodron     

4. Thiền Sư Charlotte Joko Beck         

5. Thiền Sư Ruth Dension        

6. Thiền Sư Bobby Rhodes      

7. Thiền Sư Jiyu Kennett          

8. Thiền Sư Karuna Dharma    

9. Thiền Sư Sharon Salzberg    

10. Thiền Sư Gesshin Prabhasa Dharma

11. Thiền Sư Sonja marguliesYvonne rand

12. Thiền sư Jacqueline mandell Colleen schmitz, Ayya khema 

13. Thiền sư Tsering everest Joanna macy 

  Chú thích 

  Thuật ngữ chuyên môn 

Phụ bản : Địa chỉ của thiền sư

 

 

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Chim ra đồng t́m thức ăn, dù có xa tới đâu, tối cũng quay về tổ; nguời có đi xa tới đâu cũng nhớ về nhà. Tôi được duyên may đi du học tới nay thời gian cũng khấm khá nên tôi rất muốn về thăm quê hương, thăm nơi mà tôi được gia nhập vào tăng đoàn Chùa Bửu Quang -Tổ Đ́nh Nguyên Thuỷ Phật Giáo Nam Tông Việt Nam.

 

Lần trở về thăm quê hương, thăm chùa, tôi thật ngạc nhiên vô cùng sau 9 năm ở tại Ấn Độ. Ở Việt Nam ta phát triển nhanh quá, đi tới đâu cũng thấy mới mẽ, nh́n tới đâu cũng thấy đổi thay, ngay cả chùa chúng tôi cũng vậy. Xưa kia không ai biết đến hay đă đi vào lăng quên, và  nay đă được sự d́u dắt của Đại Đức Thiện Minh một vị sư trông c̣n rất trẻ và rất trẻ, nhưng tài đức thật vẹn toàn, hết ḷng lo cho đạo pháp, và giờ đây Tổ Đ́nh Nam Tông mỗi ngày thêm sáng lạng. Tổ Đ́nh Hệ Phái có một khung cảnh thật tuyệt vời, rất thích hợp với những ai muốn tu thiền. Phật giáo Nam Tông ở các nơi trên thế giới trong những năm gần đây đă gây một tiếng vang trên thế giới qua phương pháp hành thiền Vipassana. Sự đóng  góp này không chỉ ở tu sĩ Phật giáo mà thôi, những vị cư sĩ cũng chiếm một vị trí quan trọng trong công cuộc truyền bá thiền Minh Sát. Ví dụ như ở Thái Lan có Nữ Cư sĩ  Thiền sư Achaa Nep, Ấn Độ có N. Goenka, và c̣n nhiều cư sĩ khác nữa, đặc biệt tại Hoa Kỳ có 13 vị Thiền sư Phật giáo đă gây sự chấn động trong những năm gần đây qua tập sách “Nữ Thiền Sư Phật Giáo” tại Hoa Kỳ. Điều đặc biệt trong quyển sách này là sự  hài hoà cả 3 truyền thống Nam Tông, Bắc Tông và Phật giáo Tây Tạng, bằng sự nhuần nhuyễn trong phương pháp giảng dạy. Vipassana đă trở nên một di sản văn hoá Phật giáo trên thế giới.

 

Do đó, chúng tôi xin đuợc trân trọng giới thiệu đến qúi độc giả gần xa qua tập sách này, để chúng ta có cái nh́n rộng răi hơn ở các nước phương tây, đặc biệt tại Mỹ nơi ấy vật chất đạt tới đỉnh cao của nó và giờ đây thiền Vipassana cũng chiếm một vị trí quan trọng tại xứ này. Chúng tôi hy vọng rằng một ngày không xa tại Việt Nam chúng ta không chỉ có 13 vị Thiền Sư Nữ Phật Giáo mà thôi, mà c̣n nhiều hơn thế nữa. Đặc biệt sau khi Mỹ kư kết với Việt Nam gia nhập Thương Mại Quốc Tế (WTO).

 

Xin trân trọng giới thiệu.

 

            Bửu Quang Tự, ngày 06 tháng 06 năm 2006

 

            Tiến Sĩ  TƯỜNG QUANG

 

 

 

LỜI MỞ ĐẦU

 

 

Biến cố đó xảy ra vào một buổi chiều Chúa Nhật giông băo, trung tuần tháng Hai năm 2000, với một nghi thức cổ trăm năm có tên lễ Mountain Seat. Ni Sư Linda Ruth Cutts đă nhận chức Nữ Thiền Viện Trưởng Trung Tâm Thiền San Francisco. Nghi thức diễn ra tại Phật đường thuộc Trung Tâm Thiền San Francisco, có khoảng hơn trăm người tham dự. Trong khi mọi người thinh lặng hành thiền, nghi thức tấn phong rất tỉ mỉ và mang đậm phong cách nhà Phật được tuần tự diễn ra.

Đối với tôi, sự kiện này vô cùng ấn tượng, v́ biết bao đổi thay đă diễn ra trong giới phụ nữ và ngay cả trong thế giới Phật giáo Hoa Kỳ vào những năm sau lần xuất bản đầu tiên cuốn sách này vào năm 1987. Tôi nghĩ chúng ta đang ở trên đỉnh thủy triều. Hiện nay mọi sự đă rơ ràng. Tỷ lệ phụ nữ nắm địa vị lănh đạo và nữ thiền sư ở mọi cấp và mọi truyền thống đang biến đổi liên tục.

Một tay Ni Sư Linda cầm cây trượng cao bằng gỗ, tay kia mang cây gậy ngắn gắn chùm lông đuôi ngựa ở một đầu. Bằng những cử chỉ lặp đi lặp lại nhiều lần, Ni Sư lắc lư chiếc trượng sang phải, sang trái rồi cúi lạy về phía trước. Từ đầu đến cuối Ni Sư di chuyển rất trịnh trọng, phong thái tự nhiên, đầy nhân cách và thỉnh thoảng lại điểm một nụ cười hóm hỉnh.

 Nghi thức đ̣i hỏi Ni Sư phải hết sức tập trung cả tư tưởng lẫn hành động, đồng thời biểu lộ một ư chí từ bỏ mănh liệt và trọn vẹn, Có sáu thành viên trong đoàn thể tu tŕ hiện diện, họ mặc áo cà sa nâu sậm và đưa ra những câu hỏi thẩm định ư chí phấn đấu của đương sự, thuần tính nghi thức Phật giáo. Ni Sư trả lời rất khẳng khái, tự nhiên, nhưng vui vẻ hài hước. Khi đă hoàn tất phần thẩm vấn, Ni Sư ra hiệu cho vị sư chủ tŕ nghi thức tiến lại gần ḿnh. Bà tiến lên và hai người ôm chầm lấy nhau.

Trước giờ diễn ra nghi thức thụ giới, Ni Sư Linda đă đề cập đến chồng bà, ông Steve, như là một “người bạn đồng thọ giới cửa Phật”, họ tự coi ḿnh như hai con ḅ cùng kéo cày qua vũng đầm lầy. Hiện giờ Steve và con gái 10 tuổi, Sarah, thường nhắc đến những đặc tính tâm linh mẹ đă đem lại với cương vị Thiền Viện Trưởng, cũng như những ân huệ làm phong phú cuộc sống gia đ́nh đầm ấm của họ. Ông Steve quá xúc động đến rơi lệ, giọng nói ông đứt quăng nhiều lần.

Trong dáng vẻ nghi thức thọ giới bộc trực đó, Ni Sư Linda đă lộ rơ bản chất nữ tính của bà. Giọng nói thỉnh thoảng hơi mềm dẻo, luôn bộc trực, thẳng thắn và với ḷng thương không nao núng. Đề cập đến chân lư Phật pháp Ni Sư Linda thốt lên “Con trâu vĩ đại, ta đă uống cạn nguồn sữa Phật pháp của ngươi, hư vô, trống rỗng, không một chút thần thánh.” Nói về Đại Thiền Sư Suzuki, “Vị sáng lập những ngôi chùa này,” Ni Sư cho biết, “Ngài đă trao cho chúng tôi tất cả. Lời thề nguyền vừa nảy lộc sẽ không để lời Phật dạy phải gián đoạn.” Và sau đó Ni Sư c̣n nói thêm “Chớ v́ chúng ta chăm sóc lẫn nhau với t́nh nghĩa cha con bao la và hân hoan. Hăy luôn chăm sóc đến cây cối, muông cầm và ngay cả cái thế giới xinh đẹp này”.

Ngay những cơ sở Phật giáo khác, từ Bờ Đông sang đến Bờ Tây những giá trị phụ nữ đă thấy xuất hiện như : chấp nhận phụ nữ và gia đ́nh vào tịnh thất. Tôn trọng sự đa dạng, ư thức và hoạt động phục vụ xă hội, kể cả dân chủ hóa cơ cấu tổ chức đang h́nh thành với một mức độ nào đó. Việc thờ tự hàng ngày cũng được thay đổi cho phù hợp với các vị tiền bối cả nam lẫn nữ.

Ngay tại Trung Tâm Thiền San Francisco hiện nay Tụng kinh ban mai cũng đă tôn vinh “Tất cả những nữ thiền sư hiện diện cũng như vắng mặt.” Những nhân vật nữ như Tara và Quan Âm cũng được bày trong pḥng thiền bên cạnh các tượng Phật khác. Thay đổi đang từ từ diễn tiến và rất khó nhận ra. Nhưng khám phá những thay đổi cả về chiều rộng lẫn chiều sâu vị thế của phụ nữ trong Phật giáo thực sự đă làm tôi thật cảm kích.

Tôi có cơ hội nối lại quan hệ với những nữ thiền sư nổi tiếng, tôi đă vinh dự phỏng vấn trong lần xuất bản đầu tiên cuốn sách này, một điều hết sức thú vị. Tuy vậy cũng có nỗi buồn âm ỷ từ ngày cuốn sách được phát hành vào năm 1987 cho đến nay đă có bốn trong số mười bảy vị tôi phỏng vấn đă qua đời. Trong đó có Thượng Tọa Gesshin Probhasa Dharma; Đại sư Jiyu Kennett; Ayya Khema và Maurine Stuart, Đại sư Gesshin qua đời chỉ ít tuần lễ trước khi bản thảo cuốn sách được hoàn tất, thế nên tôi đă có cơ hội tiếp chuyện thân mật với ni sư nhiều lần, kể cả liên lạc bằng thư từ cho đến cận kề ngày ni sư qua đời. Tôi cũng có cơ hội liên hệ với ba nhân vật cung cấp thông tin thân cận – đó là các thiền sinh, các cộng tác viên và cả các vị thừa kế Phật pháp của các Ngài – để biết thêm những chi tiết về cuộc đời, những thành tựu cũng như cả cái chết của thiền sư và bạn bè của họ. 

Điểm phong phú nhất trong quyển sách này chính là sự mới mẻ và nhạy bén trong sự đánh giá mới đây của tôi về tính duy nhất và cách truyền tải Phật pháp (hay đơn giản là thể hiện) cá biệt của mỗi phụ nữ, vị đó tôi muốn ám chỉ đến tính tự nhiên của mọi thực tại. Chúng ta luôn phải ghi ơn những điều nhắc nhớ chúng ta thức tỉnh, bớt gắn bó với những tư tưởng phân tán và mang tính cách t́nh thế. Những điều nhắc nhớ và những đổi thay này chỉ có được nơi cá nhân mỗi Thiền Sư tôi đă có dịp trao đổi (hay đề cập đến trong trường hợp ba nhân vật đă qua đời). Đôi khi những khơi gợi đó không những xuất hiện qua thuyết pháp, mà c̣n xuất phát từ tinh thần của mỗi cá nhân họ, đă tỏa sáng qua thuyết pháp (như trường hợp thiền sư Joko, Karuna và Ruth Dension). Đôi khi những đề tài phỏng vấn lại xoay quanh những điều đặc biệt thúc bách tôi vào một thời điểm nhất thời (như trong trường hợp Lama Tsering). Có đôi lúc những vấn đề chúng tôi đề cập đến lại rất khó khăn và không thể nào tránh khỏi, như bệnh tật và chết chóc, lại xuất hiện thường xuyên hơn như tôi dự đoán được.

Một số ít đề tài cũng gây ấn tượng mạnh với tôi. Một số người đang phải đối mặt với những tán thành và phản đối về cách phổ biến và điều này biểu hiện rơ ràng trong mỗi bài giảng (Sharon, Pema, Gesshin và Collen) và một số thiền sư đă mở rộng hoạt động của ḿnh nơi những lănh vực và những điểm gặp gỡ mới để truyền bá tư tưởng. Một số khác lại đặc biệt nhấn mạnh đến ước muốn khẩn trương đưa thiền vào các nhà tù của chúng ta. (Colleen, Karuna và Sharon).

 Cho phép tôi cám ơn tất cả các quí vị có mặt đúng lúc, đúng chỗ một cách trọn vẹn. Cuối cùng, cộng với những nhân vật đă được phỏng vấn và nêu danh tánh trong sách này, tôi c̣n muốn tri ân tất cả những ai đă nhiệt t́nh quảng đại cống hiến thời gian và quan tâm, trong số đó phải kể đến Jyokuko và Kyogen Carlson, Arida Emrys, Trudy Goodman và Sabine Volchok. Cầu mong chúng ta tất cả sẽ c̣n được gặp lại nhau.

           Tháng 11 năm 2000

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

CHO LẦN PHÁT HÀNH ĐẦU TIÊN

 

 

Điều ít thuyết phục nhất nơi Phật giáo là thái độ đối với giới tính. Đức Phật đă miễn cưỡng chấp nhận phụ nữ vào Tăng đoàn (Sangha) và tiên đoán sự có mặt của họ sẽ làm tàn lụi hệ thống tôn giáo của Ngài… Khi chúng ta ôn lại lịch sử Phật giáo Thiền định (Zen) chúng ta nhận thấy mối ác cảm giới tính nhiều đến thế, hay một thái độ giới tính lệch lạc như thường thấy nơi các Ni đoàn Thiên Chúa giáo, nhưng chỉ thấy một thái độ dửng dưng vô tư về giới tính mà thôi. Phụ nữ không thấy xuất hiện trong bất kỳ trích đoạn nào nơi tác phẩm Hekiganroku hoặc Mumonkan. Thế nhưng một cuốn sách mang tựa đề Phụ Nữ Với Phật giáo (Zen) đă được xuất bản.

- R.H. Blyth (1960) (1)

Kính Ngài Blyth, thật đáng khâm phục tinh thần tuyệt vời và con mắt tinh đời của Ngài. Cuốn sách này không phải là câu trả lời chính xác cho thách thức Ngài đề ra, nhưng nhờ đó mà cuốn sách được tăng thêm sinh lực. Có điều chắc chắn làm Ngài thích thú là phiên bản vừa qua đă khai sáng một số phụ nữ nơi những siêu tập về Phật giáo (Zen) mà Ngài đă đề cập. Thực tế th́, những phụ nữ này không được nêu đích danh hoặc đề cập đầy đủ, nhưng những nhân vật trong bóng tối thỉnh thoảng xuất hiện đă vạch ra những đường nét thường rất sắc bén của họ rồi lại biến mất không để lại một vết tích nào cả.

Phật giáo đă xao nhăng phụ nữ là điều có thật. Đức Phật đă chống lại việc thu nhận phụ nữ vào đội ngũ tu tŕ của Ngài cũng là điều có thật và, cuối cùng Ngài cũng đă đề ra những qui luật có vẻ rất chướng tai gai mắt đối với chúng ta ngày nay. Tính mập mờ và những cấm kỵ mang tính phân biệt đối xử đó đă được giải thích như là một thái độ mang tính xă hội, với mục đích để bảo vệ một đoàn thể tu tŕ vừa mới được thành lập, Ngài đă chọn không thỏa hiệp. Thực tế là, trừ những tàn dư tại các nước thuộc vùng Mahayana, Ni đoàn nữ suy thoái vào thế kỷ thứ ba sau CN và hoàn toàn biến mất vào thế kỷ thứ 9 sau CN. Cho dù đang có những dấu hiệu phục hồi sức sống đầy ấn tượng vào thời đại chúng ta, căn cứ vào lịch sử mà nói th́ nam giới chiếm đa số áp đảo trong giới tu sĩ Phật giáo.

Một điều hết sức tồi tệ là phụ nữ hoàn toàn không có mặt trong một lượng tích truyền thuyết Phật giáo khổng lồ.. Và chắc chắn là, tất cả các vị giáo trưởng, các Đại sư cũng như các nhà thông thái đều là nam giới. Ngay cả mới đây một cuốn sách mang tựa đề “Làm Thế Nào Cho Thiên Nga Xuất Hiện Trên Mặt Hồ : Lịch Sử Truyện Kể Về Phật giáo Tại Hoa Kỳ (2) do tác giả Rick Field viết, một tác phẩm điển h́nh như vậy mà hầu như vẫn thấy vắng bóng phụ nữ.

Nhưng, tôi hoàn toàn không muốn phóng đại, bức tranh đó đang thay đổi. Cách vài năm không xa thi sĩ Gay Snyder có nói, “Một biểu hiện duy nhất mang tính cách mạng trong việc hành đạo Phật giáo tại Hoa kỳ chính là trên thực tế phụ nữ đang tích cực tham gia. Ngay lúc đầu phụ nữ cơ bản đă bị loại. Nhưng tại Hoa Kỳ, toàn bộ 50% tín đồ Phật tử là phụ nữ. Điều ǵ đó sẽ xảy ra liên quan đến một số phương pháp thuyết giảng và những thái độ đă được truyền lại đang trở thành một đề tài thật hấp dẫn.” (3) Snyder chưa đề cập ǵ đến những Nữ Thiền sư, v́ vào thời điểm ông đưa ra nhận định trên, chưa thấy phụ nữ xuất hiện. Sự phát triển tuyệt vời của đương thời, lưu lại nơi cuốn sách này, là một hiện tượng vừa mới xảy ra trong vài năm qua.

Mới đây vào năm 1980 Ni Sư Rita Gross, trong một văn thư tŕnh bày tại Hội nghị mang tên là “Cuộc Gặp Gỡ Các Tôn Giáo Đông Tây : Phật giáo &Thiên Chúa Giáo Đổi Mới Và Tương Lai Nhân Loại”  đă cho thấy thế hệ những người phụ nữ Phật tử chúng ta “không có phương hướng anh hùng hay các vị thiền sư vĩ đại đương thời để noi gương và bắt chước.”  Khi tôi mới khởi sự công tŕnh nghiên cứu vào năm 1983 tôi chỉ biết được có ba nữ thiền sư. Đến bây giờ tôi có thể kể tên ra đây hàng loạt những người đang giữ cương vị quan trọng và c̣n rất nhiều vị khác đang tiếp bước họ.

Đương nhiên Nữ giới đang “có mặt” ở khắp nơi. Tại những tổ chức tôn giáo phương Tây, trên thương trường và trong lănh vực chính trị. Phật giáo không phải là tổ chức duy nhất đă e ngại và nghi ngờ trí tuệ người phụ nữ cũng như những khát vọng của họ. Nhưng chính Phật giáo đă thẳng tay đàn áp họ, trong suốt hai mươi thế kỷ qua. Đương nhiên, vẫn có những ngoại lệ – những con người đang tỏa sáng và đầy tinh thần như các đệ tử đầu tiên của Đức Phật Dharmadina và Khema, như Lion Yawn và Queen Srimala và những “phụ nữ pha trà”  Nhật Bản khác. Nhưng chúng ta hăy bắt đầu từ điểm xuất phát.

II

Ngay từ thời Đức Phật khởi sự đi hoằng đạo, phụ nữ đă tích cực tham gia Phật giáo. Theo I.B. Horner, tác giả công tŕnh tiên phong buổi đầu viết về Phụ Nữ Dưới Thời Phật giáo Nguyên Thủy (1930) (4). Những đồ đệ phụ nữ thường dân đầu tiên đă trở lại ngay sau bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật tại Quảng Trường Con Nai (Deer Park) ở Isipatana. Họ là mẹ và người vợ trước của ngài Yasa, “một thanh niên quí tộc” người đă đạt đến giác ngộ hoàn toàn và ngay cả cha của chàng thanh niên đó cũng đă trở thành tín đồ Phật giáo, Horner viết “Đối với những người phụ nữ này th́ Đức Phật Cồ Đàm (Gotama) đă đề cập đến bằng những lời lẽ tương tự khi ông trao đổi với Yasa và thân phụ của ngài.”

Mức độ Đức Phật chấp nhận phụ nữ b́nh đẳng đến cỡ nào th́ không ai biết chắc. Tuy nhiên, mọi bằng chứng đều dựa trên những bài kệ được viết ra do các vị sư không đáng tin cậy qua những cốt truyện được lưu lại rất lâu sau sự kiện đă xảy ra. Theo tôi việc nghiên cứu có tính thuyết phục nhất là dựa vào tinh thần của hầu hết các lời thuyết pháp cũng như thông tin về những điều kiện xă hội tại Ấn Độ vào thời đó, cho là Đức Phật không chấp nhận phụ nữ được b́nh đẳng trên tinh thần nhưng xét dưới góc độ con người Đức Phật đă không được miễn trừ khỏi những thành kiến sâu xa nơi không gian và thời gian của người.

Một trong số những thành kiến trên rất cay nghiệt và ăn sâu trong con người chỉ có thể thấy được nơi một vài trích đoạn từ những bản văn Phật giáo thời cổ đại. Kiểu dáng phụ nữ đầu tiên được coi như là quỷ dữ được t́m thấy trong văn chương Phật giáo Nguyên Thủy (Theravadin), được biết đến như là Quy Luật Pali. Nhưng theo Diana Y Paul trong tác phẩm nổi tiếng của bà mang tên Các Phụ Nữ Phật giáo (5) hỏa ngục là nơi giam giữ đầy những phụ nữ được tạo thành với h́nh tượng kỳ cục, già nua và ghê tởm, được đọc thấy trong cả văn chương Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Trong “câu chuyện về vua Udayana Vatsa”, trích trong cuốn Collection of Jewels, một trích đoạn kệ có niên đại khoảng 1 thế kỷ sau CN th́ phụ nữ được trao cho “quyền lực phi thường”, Paul đă thể hiện trong hai vần thơ sau đây:

Rắn và chó chết là …..? hai sinh vật đáng ghét

Nhưng đàn bà c̣n đáng ghét hơn chúng nhiều

Đàn bà là người đánh cá

Lời phỉnh phờ đàn bà là chiếc lưới

Đàn ông trông tựa con cá

Đang dẫy dụa mắc vướng vào lưới.

Trích từ kinh Mahaparinibbana Sutta qua một mẩu đàm thoại sau đây giữa Đức Phật và đệ tử yêu quư của ngài là Ananda, người sau này đă được chứng tỏ là người biện hộ hùng hồn cho quyền người phụ nữ:

Ananda: Thưa thầy, chúng ta phải hành xử ra sao đối với

phụ nữ?

Đức Phật: Ananda thân mến, coi như không nh́n thấy họ.

Ananda: Nhưng trong trường hợp chúng ta cứ phải nh́n thấy họ th́ sao?

Đức Phật: Ananda con yêu, đừng tiếp chuyện với họ.

Ananda:  Dạ thưa thầy, nhưng nếu họ phải tiếp chuyện với ta th́ sao, chúng ta phải làm ǵ?          

Đức Phật: Ananda thân yêu. Con phải cảnh giác tối đa. (6)

 

Những thái độ Phật giáo truyền thống xem phụ nữ là hạng người thấp kém “phản ánh một quan niệm về người phụ nữ như là một sinh vật nhập thể dâm đảng và xấu xa”. Diana Paul viết, “Đàn bà sẵn có bản chất thú vật đi kèm với những khuynh hướng dâm dục không thấy có nơi bản chất nam giới”. Đàn bà tự bản chất sinh học đă là thứ có khuynh hướng dâm dục không thể nào kiểm soát được. Chỉ có thái độ khinh miệt may ra giúp họ có thể chối bỏ được số phận sinh học tội lỗi đó”.

Một phần, Paul c̣n giải thích thái độ khinh miệt phụ nữ của các nhà sư dẫn đến việc các sư săi phải tùy thuộc vào các bà nội trợ trong công việc bố thí, “những cảm nghĩ bị phụ nữ thao túng và lệ thuộc vào họ đă bộc lộ thái độ tự gớm ghét ḿnh, thể hiện trong thái độ ghét phụ nữ.” Họ so sánh mỗi người phụ nữ, với khả năng tiêu cực, như là mầm móng gây xáo trộn và đổ vỡ. Thần Samasan được ví như là phụ nữ và phải được khuất phục. Cuộc sống chiến một mất một c̣n này được ví như cuộc đấu tranh giữa nam giới/ tinh thần/ niết bàn chống lại nữ giới /thể xác/ địa ngục.

Hơn thế nữa, theo như các Phật tử tiên khởi, “người mẹ là biểu tượng của đau khổ và là người không ngừng sản sinh ra sự sống trong đau khổ, hầu như một định luật tự nhiên cho phụ nữ là phải chịu đựng đau khổ.” Những bản văn đề cập đến phụ nữ như là những người tu hành không bao giờ thấy đề cập đến, thiên chức làm mẹ là điều vẫn được coi như ngang bằng với đau khổ, sự bó buộc và lệ thuộc. Và mục đích tôn giáo của Phái Đại Thừa (Mahayana) chính là giải thoát khỏi những thái độ tương tự như vậy.

Một cách duy nhất để cho người mẹ được công nhận là sinh hạï con trai. Những bản văn Phật giáo đầu tiên cho thấy phụ nữ bị xă hội chế diễu và hạ nhục khinh miệt cho đến khi họ sinh hạ được con trai. Paul nhắc lại qui luật không tránh khỏi là mẹ Đức Phật phải chết sau bảy ngày sinh hạ ra Ngài để “loại trừ bất kỳ hành vi giao cấu nào sau biến cố kỳ diệu đó.” Rơ ràng là toàn bộ các bà mẹ của Chư Phật đều bị định mệnh dành cho một số phận oan nghiệt.

Một câu chuyện về Ni đoàn Phật giáo (nữ tu) nguyên thủy. Bản tường tŕnh truyền thống cho thấy, “rất có thể đó là một phát minh tu tŕ,” theo nhà văn Francis Wilson, vừa mới dịch câu chuyện trên th́ có những chi tiết huyền thoại đă được đưa vào. (7) Điển h́nh cụ thể là vai tṛ quan trọng của Bà Mahaprajapati, người d́ và mẹ nuôi của Đức Phật. Ta thường thấy vọng lại trong lịch sử về Ni đoàn các ni sư thuộc nhánh đạo Jainism (xuất hiện một thời gian ngắn trước những Ni đoàn Phật giáo tại Ấn-độ) do vai tṛ tương tự bà d́ của Mahavira, người sáng lập ra nhánh đạo Jain.

Ngày nay ta thấy nguồn sinh lực mới nơi các Ni đoàn ni sư trên khắp thế giới, nhưng cộng đoàn Nữ Tỳ Kheo đă không thể tồn tại như là một lực lượng sinh động ngay từ lúc đầu cũng như trong truyền thống Phật giáo Mahavira. Cho dù trên nguyên tắc nó vẫn tồn tại, bước đường của các nữ tỳ kheo đă sụp đổ ngay từ lúc đầu. Paul tin rằng, chính v́ cảm thấy ḿnh là mối đe dọa sâu xa đặt ra cho xă hội và tôn giáo, cho nên các phụ nữ đă rời bỏ gia đ́nh.

Đức Phật hiển nhiên đă ngờ vực trầm trọng chính ḿnh. Lịch sử cứ diễn tiến, năm năm sau khi Ngài chính thức bắt đầu hoằng đạo, ngay tại công viên Nirodha Ngài đă phải gặp một đoàn đông đảo các phụ nữ mặc áo dài mầu vàng, do Mahaprajapati dẫn đầu. Họ đă âm thầm tiến bước, chân xưng húp v́ đă đi một quăng đường dài. Họ muốn từ bỏ thế tục và thực hiện một cuộc sống khổ hạnh và cầu xin Đức Phật chấp thuận. Ba lần họ yêu cầu Đức Phật và cả ba lần đều bị từ chối. Họ than khóc nhưng không hề nản ḷng, Mahaprajapati và các đồ đệ đă xuống tóc như là một dấu hiệu từ bỏ và đi bộ theo Đức Phật đến Vesali. Tại đó họ gặp được một đồ đệ thân cận nhất của Đức Phật, “Ngài Ananda nhân hậu,” Ngài rất cảm kích nh́n thấy họ trong t́nh trạng khổ sở bất hạnh như vậy, đồng thời cảm kích v́ ḷng nhiệt t́nh và quyết tâm của họ, đă cam kết đưa lời thỉnh cầu của họ tŕnh bầy với Đức Phật Cồ Đàm (Gotama.)”

Ngài đă thỉnh cầu ba lần, mà không đạt hiệu quả (chúng ta có thể nhận thấy nhịp điệu được lặp lại trong cốt truyện dân gian ở đây, v́ tất cả các cốt truyện dân gian mỗi nơi mỗi khác.) Cuối cùng th́ Ananda phải nại đến cảm thức công lư và chính trực của Đức Phật; phải chăng phụ nữ không có năng lực như nam giới để theo đuổi cuộc sống phạm hạnh và tiến bước trên con đường giác ngộ? Đức Phật đă thừa nhận đúng là phụ nữ có khả năng đó và rằng không có trở lực tự nhiên nào ngăn họ đạt đến Niết bàn. Ngài đă phải mủi ḷng nhận thấy “những người phụ nữ có giáo dục tinh tế đến vậy luôn luôn di chuyển bằng xe kéo, nhưng họ đă đi bộ băng qua những cánh đồng bằng vùng bắc Ấn độ để đến với Ngài tại vùng Vesali này”, Horner đă ghi lại như vậy. Tác giả cũng đă cho biết đây là một ví dụ độc nhất được ghi lại về việc Ngài bị thuyết phục trong tranh luận.

Nhưng chỉ sau đó ít lâu Ngài đă đưa ra lời phân giải chính thức liên quan đến mục đích của Ni đoàn Phật giáo. Theo quan điểm của Horner th́ “điều đó không hàm ư ở những từ đă được cân nhắc và h́nh như thoạt nh́n là theo bản năng trước sự buồn thảm và than văn về những hy vọng không mấy sáng sủa”. Theo những ǵ kể lại th́: “Ananda thân mến, nếu như phụ nữ không được phép thoát ra khỏi cuộc sống gia đ́nh và gia nhập vào một t́nh trạng vô gia cư nào đó, chiếu theo giáo lư và kỷ luật được đấng Thế Tôn, (Tathagata) (có nghĩa là Đức Phật) tuyên xưng, th́ Ananda thân yêu, tôn giáo tinh truyền này sẽ trường tồn lâu dài, Phật pháp sẽ kéo dài hàng ngàn năm. Nhưng, Ananda thân yêu, một khi phụ nữ được phép tham gia như thế th́ đạo giáo tinh truyền này sẽ không thể tồn tại lâu đến thế, c̣n luật pháp sẽ chỉ kéo dài được năm  ngàn trăm năm mà thôi.”

Mặc dù lời tuyên bố trên h́nh như chỉ để diễn đạt sự miễn cưỡng chấp nhận phụ nữ vào các Ni đoàn. Trước tiên Horner chỉ ra những hậu quả tất yếu của các nhà sư sẽ lộ rơ ra đây (họ có thể “đương nhiên” giới hạn tầm quan trọng đă được dành cho phụ nữ) và thứ hai là không thấy bất kỳ biểu hiện khó chịu nào được lộ ra. Cuối cùng, Horner kết luận là quăng thời gian dài nhiều năm các Ni đoàn tồn tại ít quan trọng đối với Đức Phật hơn là mở các Ni đoàn đó cho càng nhiều người tham gia càng tốt, rằng “phân nửa số năm (năm trăm) với những điều kiện như hiện nay c̣n giá trị hơn hai lần con số đó (một ngàn) với những điều kiện trong quá khứ.”

Quan điểm trên đă được Sulak Sivarksa chia sẻ khi viết trên tạp chí Kahawai (8). Ông tin là không chỉ những lời tuyên bố của Đức Phật thường đă bị cắt nghĩa sai lệch đi, nhưng rất có thể c̣n ám chỉ cả sự không liên tục của Ni đoàn Thánh Thiện Các Ni Sư Khất Thực. Ông c̣n kết luận thêm, “tốt hơn nên chỉ đường vào Niết Bàn cho càng nhiều người nhiệt t́nh t́m kiếm bao có thể c̣n hơn chờ cho đến khi cơ hội đă trôi qua. có thể vượt khỏi cả hồi tưởng và ngay cả những yêu cầu đă biến mất. Rất có thể đến tận điềm tàn lụi.”

Nhưng trong trích đoạn bản dịch của Francis Wilson đang trong tranh căi, h́nh như có rất ít nghi ngờ về những kỳ vọng của Đức Phật:

Ôi! Ananda, chỉ có điều này là nếu phụ nữ tiếp tục tiến bước theo luật của Giáo pháp, th́ luật pháp này sẽ không c̣n tồn tại lâu dài. Ôi Ananda thân yêu, điều đó tương tự như trong một cánh đồng rộng lớn bao la thuộc quyền sở hữu của một chủ nhà, có một lượng sấm sét với cường độ sấm chớp đánh liên tục đến mức độ cánh đồng đó bị phá hủy, tiêu tan và biến thành trơ trọi. Ôi Ananda, chính v́ thế, theo Phật pháp, khi mà phụ nữ rời khỏi cuộc sống gia đ́nh (xuất gia) cũng sẽ không tồn tại được bao lâu. Ananda thân yêu, giả sử như có một cách đồng mía thuộc sở hữu một chủ nhà. Xuất hiện một thiệt hại do cơn bệnh Crimson cho đến khi những cây mía đường bị phá hủy, tàn lụi và trở thành trơ trọi. Cũng giống vậy, một khi phụ nữ xuất gia, th́ Phật pháp cũng không c̣n tồn tại được bao lâu.

Tới điểm đó trong bản tường tŕnh của Wilsons, Đức Phật đă đưa ra chi tiết Tám Điều Luật Chính Yếu (bát kỉnh Pháp) rất nổi tiếng cho Ni đoàn ni sư, giống như một lối đi cao ráo được xây cất ngay trên miệng ḍng sông hay là một con kênh để ngăn chặn nước lại. Horner cho biết, “ngài rất am tường thế giới ngài đang sống và có thể mường tượng ra được những bất ổn miệng lưỡi vu khống thế gian có thể tạo ra trong trật tự tự nhiên nếu như những cơ may gây ra gương mù trong quan hệ phải bị cắt đứt. V́ thế... ngài đă tỉa xén phương pháp của ngài một cách thích hợp.”

Sự công kích lớn nhất đối với những quy luật này chính là đặt Ni đoàn phụ nữ ngay dưới hiện trạng và quyền hạn cao hơn của các vị sư. Các Nữ Tỳ Kheo bị lệ thuộc vào các đồng sự nam giới của họ đối với những nghi thức quan trọng và những điều cần phải được nắm giữ và phải thuận theo hoặc chấp nhận ư kiến của họ trong mọi trường hợp, tuy nhiên nhà sư có thể trẻ tuổi hơn hoặc phải được tự huấn luyện. Quy luật đầu tiên (hay thứ tám tùy theo nguồn tư liệu) ta đọc thấy: “Một Ni sư khất thực, cho dù có tuổi đời hàng trăm năm vẫn phải chào, phải đứng dậy khi có sự hiện diện của nhà sư, phải cúi chào trước và thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ thích hợp đối với một sư khất thực nam giới cho dù người này mới chỉ khởi sự công việc tu tŕ.”

Đơn cử những qui luật xă hội vào thời đó, có lẽ chi tiết thú vị nhất được kể lại là điều Mahaprajapati sau này đă xin với Đức Phật, qua lời chuyển cầu của Đức Ananda, xem có phải cùng một luật lệ về điều ưu tiên đó được áp dụng cho cả hai Ni đoàn và tùy thuộc vào hiện trạng của mỗi cộng đoàn thay v́ do t́nh trạng giới tính. Điều Horner gọi là những “bản tính nữ” đó đă rơ ràng đi trước thời gian và đương nhiên đă bị khước từ.

Những qui luật liên quan đến kỷ luật nữ giới cũng được tăng cường thái độ ưu thế là phụ nữ thường “say đắm” nhiều hơn nam giới bằng cách kê ra, (chỉ dành cho nữ giới) một thời gian thử thách thêm với mục đích làm dịu đi, nếu không phải là loại trừ hẳn, tính đam mê của họ.”

Nhưng khi Mahaprajapati nghe được nguồn tin cho rằng sự chấp nhận những luật lệ như trên sẽ tạo thành bước khởi sự gia nhập đời tu. Bà cho hay, để so sánh các qui luật đó như một ṿng hoa nhài một người phụ nữ trẻ có thể với hai tay đặt lên đầu sau khi tắm. “Ôi Ananda, ngay cả khi cha làm như thế, hăy nhân danh chính cha đừng bao giờ để cho tám điều luật này bị lỗi phạm trong suốt cuộc đời.”

Chính v́ thế Ni đoàn Tỳ Kheo, hay tu hội ni sư được thành lập. Ayya Khema là một nhân tố chính làm sống lại các tu hội nữ Tỳ Kheo ngày nay. Sau đây chúng tôi sẽ đề cập đến người phụ nữ này nhiều hơn. Bà đă viết, các phụ nữ thuộc mọi tầng lớp xă hội đă qui tụ lại để ấp ủ một nếp sống mới dành riêng cho họ. “Những ngăn cách đă tồn tại hàng thế kỷ đă bị phá bỏ. Dần dà họ đă nổi lên từ những ranh giới phân cách, họ đă bị giam hăm trong đó quá lâu. Các bà góa thoát ra từ những cách biệt đă áp đặt lên họ, các bà mẹ cô đơn, người thân mới qua đời hay không có con cái đă t́m được an ủi trong Phật pháp. Những người hầu gái thoát khỏi cảnh hạ nhục v́ bị bán cho các ông chủ ngă giá cả cao nhất. Những đầy tớ gái t́m thấy được tự do khỏi ông chủ của ḿnh, các gái nhảy và những gái điếm loại sang cũng được chấp nhận và đă phấn đấu sống một cuộc đời gương mẫu hơn.” (9)

T́nh chị em nơi Phật giáo cũng tương tự như “không gian người phụ nữ” đầu tiên tại Ấn độ như J. Hughes viết trong cuốn sách nhỏ thật kích động mang tựa đề Nữ Tính Nơi Phật giáo (Buddhist Feminism) (10). Phật giáo đă đem lại cho người phụ nữ một cơ hội có “một cuộc sống tách biệt khỏi các vị sư săi, nếu như không phải là lệ thuộc vào họ; Các sư săi có thể đi đây đó, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với các phụ nữ khác, không bị bó buộc về con cái hay gia đ́nh.”

Thế rồi, thoạt tiên các đoàn thể này phát triển và rất nhiều phụ nữ đă đạt đến mức thể hiện cao nhất. Một số trong họ được kể đến như là những đồ đệ có khả năng nhất của Đức Phật. Chúng ta biết được danh tánh của họ qua kinh và kinh Therigatha, một tập thư đem lại giác ngộ tên là Theris, v́ những nữ tỳ kheo đầu tiên có tên gọi như thế. Dharmmadina được coi như một người “siêu việt,” và Khema được liệt kê vào số những người có địa vị cao nhất v́ trực giác tuyệt vời của bà. Punnika Their, một người nô lệ, được kể như đă khuyến cáo Bradmin: “là đồ ngu trong số các kẻ ngu! Là người được nhắc đến đă thoát khỏi những hành vi xấu xa nhờ phép rửa bở nước, (water Baptism). Nếu thế th́, tất cả con rùa, con ếch, rắn và cá sấu sẽ được vào Niết Bàn cả!” (11)

Sau đây là ba bài kệ trích trong tập kệ Therigatha, Susan Murcott và John Tarrant (12) viết theo thể kệ. Tính phổ quát và tính tức thời h́nh như vượt không gian và thời gian (đă xuất hiện cả 2.500 năm).

MUTTA

Ôi tự do, tôi đă được tự do

Đă thoát khỏi ba điều uẩn khúc

Súng đạn, chầy cối và người chồng bất lương

 

Tôi đă được giải thoát khỏi

Sinh tử và những ǵ

Gh́ kéo tôi lại.

 

VIMALA (gái điếm đă hoàn lương)

 

Trẻ trung,

Thân xác tôi, vẻ mặt tôi

Sự hấp dẫn lôi cuốn và

Cả danh tiếng khắp nơi tôi

Cũng không đầu độc nổi.

Tôi khinh miệt ghê tởm các chị em

 

Ăn mặc hở hang

Lấp ló cửa nhà chứa

Như thợ săn đang giăng bẫy

Để vồ kẻ ngu xuẩn

Cười vang tôi cḥng ghẹo họ

Tại trong cung ḷng

Tất cả đă dọn sạch

Đầu cạo trọc, khoác áo cà sa,

Một kẻ khất thực

Chính tôi con người tôi toàn vẹn

Ngồi ngay dưới gốc cây Bồ đề

Không c̣n lư do nào hết

 

Mọi ràng buộc đă được phá bung

Tôi đă cắt đứt mọi quan hệ với người và thần thánh

Ra khỏi cuộc sống tôi.

 

Tự trở về hư vô

Tôi hoàn toàn tươi mát, đă cơn khát

           

                                        

  

CITTA

 

Tuy thể xác gầy yếu,

Ốm đau và chống gậy

Tôi vẫn gắng trèo lên Đỉnh Chim Ưng

               

Vứt bỏ lại áo cà sa

B́nh khất thực đổ nhào

Đứng tựa nơi vành đá

Một màn đêm mù mịt vây quanh

 

Dưới thời trị v́ của vị vua Phật giáo Ấn độ vĩ đại, Asoka (269-232 trước công nguyên) có một cuộc gặp gỡ khoảng 96.000 nữ tỳ kheo tại Jampudipa. Cho dù sự phỏng đoán đó có phần phóng đại th́ rơ ràng là Ni đoàn vẫn c̣n tiến triển mạnh mẽ. Con gái đức vua Asoka, có tên Shanghamitta, được xuất gia ở tuổi 18 và sau đó được cha ḿnh là đức vua Asoka sai đi truyền đạo để thiết lập tại Sri Lanka. Bà đă mang theo từ Gaya một nhánh cây Bồ Đề. “Cây được trồng tại vườn Mahamegha tại Anuradhapura với một nghi thức đặc biệt,” theo Ayya Khema “Cây này vẫn c̣n tồn tại cho đến ngày nay đó là một cây có tuổi thọ lâu đời nhất hiện nay trên thế giới.”

Sau nhiều thế kỷ Ni đoàn vẫn phát triển tại Sri Lanka và c̣n lan tràn sang các quốc gia khác tại Đông Nam Á. Cộng đoàn này cũng được thiết lập tại Trung Hoa vào thế kỷ thứ 5 sau công nguyên do một đoàn truyền đạo các nữ tỳ kheo đến từ Sri Lanka. Tuy nhiên, đường hướng xuất gia đầy đủ này đă hoàn toàn biến mất vào giữa những năm 900 và 1000 nơi tất cả các quốc gia theo truyền thống Nguyên Thuỷ (Theravadin) (như Miến điện, Thái lan, Cam-Bốt và Sri Lanka).“

Khó ḷng có thể thuật lại đầy đủ việc Ni đoàn đă được thiết lập hoàn chỉnh như thế đă biến mất như thế nào, Ayya Khema viết. “Rất có thể chính các tỳ kheo đă chống lại bất kỳ cố gắng nào nhằm tái thiết lập các Ni đoàn như thế. Và các nhà sư chỉ khoan nhượng sự có mặt của các nữ tỳ kheo như là chuyện đă rồi, v́ ngay tại Đại Hội (sau khi Đức Phật viên tịch), Thượng Tọa Ananda đă được yêu cầu phải xin lỗi Đại Hội v́ đă thuyết phục Đức Phật ban phép xuất gia cho nữ giới.” (13)

Ngày nay Ayya đang hy vọng muốn làm sống lại đầy đủ Ni đoàn được xuất gia tại Sri Lanka. Bà đă thiết lập một Trung Tâm Phật giáo Phụ Nữ Quốc Tế tại Colombo (cũng dành cho cả người đời nữa) và cù lao Parappuduwa thuộc quyền sở hữu của các Ni Sư nằm trên chiếc hồ lớn trong đất liền (trên vùng đất đă được chính quyền Sri Lanka ban tặng). Bà cũng chủ trương tăng uy tín cho các nữ tỳ kheo tại quốc gia đó bằng cách đem lại cho họ một nền giáo dục và đào tạo hoàn hảo. Nh́n chung, ni giới phải gánh chịu một mức sống rất thấp trên khắp vùng Đông Nam Á *.

Trong phần nhập đề cuốn: Nữ Giới Trong Phật giáo, Diana Paul có viết rằng, tương tự như Do Thái và Thiên Chúa giáo, “Phật giáo là một tổ chức trong đó tuyệt đại bộ phận các tổ chức đoàn thể đều do nam giới chiếm lănh và được các thế lực cơ cấu giáo trưởng điều hành... Nữ giới thường được coi như là thành phần đời, không có quyền hạn, bị coi thường và bất toàn.” Trong những bản văn Mahayana ta thường t́m thấy hàng loạt những h́nh ảnh phức tạp và không mấy xây dựng chối bỏ những đóng góp của giới nữ trong phạm vi đạo Phật. Chúng ta nên nhớ rằng những văn bản này là những phán quyết lư tính đă được phê chuẩn của các vị tu hành ưu tú và tính chất phổ thông cũng như ảnh hưởng luôn kèm theo định kiến. Nhưng một hội đoàn với bản chất và giới tính – có thể gây ô nhiễm và chết chóc cho nam giới – vẫn thấy được tồn tại. Có điều làm tôi hết sức thú vị là, giống như thần thoại trong Kinh Thánh Do Thái giáo, cuốn Sáng Thế Kư, trong đó cho thấy đàn bà là nguyên cớ sa ngă, trong Kinh Suttra Pali cũng gán cho phụ nữ là nguồn gốc hư đốn t́nh dục cùng với sự sa ngă của nhân loại; nhiều bản văn Phật giáo Cổ đại cũng buộc tội phụ nữ có trách nhiệm trong việc sa ngă này.

Nhưng lại có một mặt khác. Một văn bản thứ hai xuyên suốt trong thứ văn chương này, người ta thấy phụ nữ là hiện thân của khôn ngoan, có giáo dục, sáng tạo, nhân hậu và đầy ḷng trắc ẩn. Mặc dù phụ nữ được coi như là những nhân vật tôn giáo luôn được mô tả như là thành phần đối kháng với nam giới, nhưng cũng có nhiều luật trừ. Một tác giả tôi ưa thích nhất là Lion Yawn, nhà văn xuất hiện trong văn chương Sutra với một cái tên thật đẹp: The Harmony of the Young sapling Sutra (viết vào khoảng sáu trăm năm sau khi Đức Phật viên tịch). Francis Wilson đă cống hiện cho chúng ta bản dịch tiếng Anh. (14) trong đó kể lại đứa con của một thương gia tên là Sudhana trên đường hành hương. Cậu ta đến một công viên rất lớn có tên là Sun Bright cây cối um tùm, người ta thường gọi là cây Moonrise (cây mặt trăng mọc) tỏa sáng xa cả dặm đường, chiếu sáng tứ phía. C̣n có nhiều cây với lá Lapis Lazuli, cây đổ mưa hoa muôn mầu, cây ăn trái, cây đá quư, cây âm nhạc, cây nước hoa. Cùng với suối nước phun, hồ nước, đầm nước và cả ao sen kê ghế bao quanh Sandal Paste, tất cả những thứ đó đều là công tŕnh của ni cô nhân hậu có tên Lion Yawn.

Khi Sudhana nh́n thấy Ni cô đang ngồi “trên ngai những con sư tử” dưới lùm cây, có các tớ gái bao quanh. Ni cô trông tựa như mặt hồ nước yên tĩnh, một viên ngọc ước luôn sẵn sàng thi ân mọi điều cầu xin.” Nàng giống như một bông hoa sen, một con sư tử, một ngọn núi lớn, một mùi hương thơm tỏa lan, một loại gỗ quí mát dịu và một nhân vật thuộc đẳng cấp cao trong xă hội Ấn Độ, không vương vấn tính tham lam, thù hận hoặc lừa dối. Nàng như mặt nước phẳng lặng làm mát dịu tâm can mọi chúng sanh. Và nàng được phong tặng là Dharma của roi  đoàn, bao gồm nhiều chúng sanh đang t́m kiếm chân lư thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau. “Đối với họ ni sư Lion Yawn đang giảng Phật pháp cho mỗi người lui tới nơi đây và hành thiền. Ngài dạy mỗi người tùy theo vị thế trong xă hội, tùy theo quyết tâm ḷng tin của họ để tất cả chiếm được đấng Tối cao, hay đạt đến giác ngộ hoàn hảo.”

Ngài nữ Thiền sư Boddisattva Lion Yawn đă trở thành một nhân vật “giác ngộ” và một thiền sư hoàn hảo. Chỉ có một người đàn bà có thể vượt trội hơn nữ thiền sư theo truyền thống Phật giáo là Hoàng Hậu Srimala. Người có tài hùng biện như “tiếng sư tử gầm” và là người mà Diana Paul cho là một Phật nữ hiện thân.“

Liên quan đến khả năng người phụ nữ đạt đến giác ngộ hoàn toàn, các bản văn Đại Thừa (Mahayana) đưa ra ba nhận định quan trọng: (1) người phụ nữ phải chờ đợi cho đến khi sanh hạ được một người con trai th́ mới có thể biến thành Bồ Tát hay Phật hóa, (2) một người phụ nữ ngoại lệ có thể trải qua “thay đổi giới tính” trong cuộc sống trần gian này và (3) người phụ nữ được chấp nhận vào hàng ngũ Bồ Tát hay có khả năng Thành Phật. Quan niệm đầu tiên ḥa hợp với ư nghĩa là thân xác người phụ nữ không được trong sạch, cho nên không có khả năng tiếp thu chân lư Phật pháp. (Phụ nữ giống như “vùng đất bị nhiễm mặn” ta không thể trồng bắp hay cỏ cây trên đó”, trích tư liệu của Abhidharma Kosa, trong tư liệu siêu h́nh cuối thế kỷ thứ Tư sau công nguyên.) Quan điểm thứ hai, sự biến đổi giới tính tự nhiên từ nữ sang nam tượng trưng cho sự thay đổi hiện trạng t́nh dục sang một hiện trạng vô dục khi đă giác ngộ. Như Đức Phật đă tuyên bố trong Kinh Sutra Về Sự Biến Đổi Giới Tính Phụ Nữ, “Nếu như người phụ nữ ư thức được hiện trạng giác ngộ, họ sẽ có được trạng thái siêu thóat của một con người vĩ đại và một người tốt, hay hiện trạng siết thoát của người đàn ông hay của người thông thái... Họ sẽ vĩnh viễn tách biệt ra khỏi nữ tính và sẽ trở thành người con trai.” (15).

Trong trích đoạn Kinh Sutra Cuộc Đối Thoại Với Bà Gái Candrottara, được viết vào thế kỷ thứ Ba hay thứ Tư sau công nguyên. Diana Paul đă dịch sang Anh ngữ lần đầu tiên. Bà là một phụ nữ trẻ phi thường, tên của bà mang ư nghĩa “Trên Đỉnh Cung Trăng” v́ bất kỳ sự ǵ đụng tới người nàng đều phát sáng chói chang – cho ta thấy nhiều dấu hiệu của t́nh trạng sớm giác ngộ và sau này đă chứng minh cách hùng hồn những chiều kích sâu sắc nhất nơi Phật pháp. Ngoài ra Diana cũng để lại một nhận định nhỏ về điều bất hợp lư của chuyển đổi giới tính xét dưới bối cảnh vô vi (trống rỗng) – kể cả việc bà đă thanh thản biến đổi giới tính khi vừa nghe được lời tiên tri của Đức Phật là nàng sẽ được thành Phật. Khi nghe được những lời trên, Candrottara đă “quá sức vui mừng,” nhiều lần như được nhắc bổng lên tới tận đỉnh ngọn núi bẩy cây Tala. Trên đỉnh ngọn cây thứ bảy, cô gái biến đổi thân xác phụ nữ thành một cậu trai xinh đẹp.”

Những h́nh ảnh hào phóng và b́nh đẳng nhất của những người phụ nữ - ở trạng thái đạt đến chân lư tột đỉnh (bodhisattvas) - được thể hiện rất ít trong một số những bản kinh Sutras. Tuy vậy một vài đoạn cũng đă gây nhiều ảnh hưởng và rất phổ biến trong văn chương Mahayana (thí dụ., Kinh Vimalakirtinirdesa và Kinh Sutra Về Hoàng Hậu Scrimala Người Có Tiếng Gầm Sư Tử). Trong đó chúng ta t́m thấy những lời tuyên bố mang tính siêu h́nh. Thí dụ: nếu mọi hiện tượng đều chỉ là vô thường và không bền vững, sẽ không tồn tại nam tính và nữ tính. Sự phân biệt này chỉ mang tính ảo giác. Phật pháp và Đạo pháp chẳng phải là nam tính cũng như nữ tính bao giờ. Như trong Kinh Diamond Sutra cho thấy, trong lănh vực vô thường, không thấy xuất hiện sự phân biệt giữa hai giới tính nam nữ. Và sự giác ngộ cũng không phân biệt giới tính và tuổi tác, theo nhận định đương thời về kinh Lotus Sutra và Fa-bua I-shu.

Trong kinh Vimalakirtinirdesa Sutra ta thấy có một cuộc đối thoại rất sinh động giữa Sariputra và một nữ thần (theo bản dịch của Diana Paul):

Sariputra: Tại sao nữ thần lại không biến đổi nữ tính của ngài?

Nữ thần: Tôi đă hiện thân là nữ giới được 12 năm và đồng thời t́m hiểu những đặc tính bẩm sinh trong đó và không cách nào t́m ra, th́ làm sao có thể biến đổi thành nam giới được. Tương tự như nhà ảo thuật tạo ra một ảo giác về người phụ nữ, nếu như ai đó đưa ra câu hỏi tại sao ngài không biến đổi nữ tính của ngài đi, quả thực họ đang yêu cầu điều chi vậy?

Sariputra: Nhưng ảo giác làm sao có được những đặc tính nhất định, vậy th́ làm sao mà thay đổi được?

Nữ Thần: Vạn vật đều là vô thường, v́ thế cho nên làm sao bạn có thể nêu thắc mắc: “Tại sao lại không biến đổi nữ tính cho rồi?”

Rồi sau đó nữ thần với quyền phép siêu phàm đă biến đổi Suriputra trở thành h́nh ảnh của chính ḿnh và biến hóa h́nh ảnh nữ thần thành h́nh ảnh của Suriputra rồi hỏi lại: “Tại sao ngài lại không thay đổi nữ tính của ngài luôn đi?

Sariputra, trong h́nh ảnh một nữ thần, trả lời: “Tôi không biết tại sao tôi lại phải thay đổi cũng như bằng cách nào tôi đă biến đổi thành h́nh tượng một phụ nữ.”

Nữ thần đáp lại: “Sariputra thân yêu, nếu con có thể biến đổi thành phụ nữ, thế rồi tất cả những phụ nữ khác (trong trạng thái tâm linh) cũng có thể làm được thư thế, nếu như con không thực sự là một người phụ nữ nhưng thể hiện ra là nữ giới ở ngoại h́nh, th́ tất cả phụ nữ đều có thể làm được như vậy, nhưng thực sự họ không là phụ nữ. V́ thế cho nên, Đức Phật cho là tất cả chúng ta thực sự chẳng phải là nam mà cũng chẳng phải là nữ là v́ vậy.”

Theo ư kiến Diana Paul, Hoàng Hậu Srimala có được tiếng sư tử như là một Phật tính, chẳng phải là ǵ của riêng bà”. Ngày giờ chính xác của trích đoạn kinh Sutra mang tên bà cũng không được biết đích xác, nhưng rất nhiều bài b́nh luận về trích đoạn đó đă được viết từ những năm 400 đến những năm 600 sau CN. Trích đoạn Sutra kể lại, ngay sau khi đă tự đạt đến t́nh trạng giác ngộ (cho dù có nhiều bất đồng giữa các nhà b́nh luận liên quan đến những giai đoạn giác ngộ của Hoàng Hậu – cho là có tám giai đoạn, như một số người công nhận như vậy, chính là muốn gán cho phụ nữ một địa vị nổi bật). Srimala tiến hành cảm hóa tất cả tất cả các phụ nữ trong thành phố, rồi đến chồng bà và sau cùng là những người đàn ông khác. Bà gọi những người theo bà là các “con trai con gái của ḿnh”. Paul cho biết, không thấy một ám chỉ nào về phân biệt cấp bậc, địa vị hay phân công lao động theo giới tính ở đây. Toàn bộ mạch văn của Sutra đều mang tính cách tưởng tượng về phụ nữ. Tác giả cảm thấy chính Hoàng Hậu Srimala có nhiều điểm rất tương đồng với h́nh ảnh của một Phật Bà.

Kinh Sutra về Hoàng Hậu Srimala là một cảm hứng dân gian rất lôi cuốn các phụ nữ Ấn độ, Trung Hoa và Nhật bản. Paul gợi ư cho biết, v́ Sutra đă mô tả người phụ nữ đầy tính nhân hậu cũng như phải chiến đấu để tồn tại và am hiểu cuộc sống trên đời này trong tự do.

Cũng cần nhắc lại một nhân vật nữ khác nữa rất được tôn kính, tuy chỉ đề cập ngắn gọn ở đây, v́ đă được nghiên cứu đầy đủ ở chỗ khác, đó là Bồ tát Kuan Yin (Quan Âm), rất nổi tiếng tại Trung Hoa và khắp vùng Đông Nam Á. Tại Nhật Bản bà được gọi với tên Kannon (Kanzeon). Bà c̣n là bồ tát Avalokiteshavara, một vị bồ tát đàn ông người Ấn độ nhân hậu tuyệt đối và đồng cảm với những đau khổ của nhân loại. Nguồn gốc mô h́nh phụ nữ như Quan Âm có liên quan đến việc du nhập những bản văn Phật giáo Đại Thừa vào Trung Hoa từ đời nhà Tần và tiếp theo sau là sự pha trộn với vị Bồ tát White Tara, nguyên thủy là một phụ nữ thâm giao với Bồ tát Phật Bà Avalokiteshvara. Diana Paul c̣n bổ sung nhiều chi tiết về sự biến hóa này. Xem trong cuốn sách do John Blofeld viết mang tựa đề Bồ Tát Từ Bi (Bodhisattva of Compassion) (16).

Xuyên suốt những lời giảng dạy nơi truyền thống Đại Thừa (Mahayana và các trường phái phương Bắc), giới tính được coi như đối kháng với trạng thái giác ngộ. Nhưng theo Phật giáo Đại Thừa th́ bán âm bán dương – là sự kết hợp giữa đặc tính tuyệt hảo nhất của hai phái – lại được coi là trạng thái hoàn thiện. Với sự kết hợp giữa giáo thuyết Phật giáo với giáo thuyết Đại Thừa th́ phụ nữ nắm giữ vai tṛ quan trọng sâu xa hơn nhiều so với Phật giáo nguyên thủy. Trong Kinh Tantra, các nguyên lư nữ tính và nam tính được hiểu như là những xu hướng chảy xuyên suốt qua thân thể cả người nam cũng như người nữ, tích cực và thống nhất thực hiện Phật pháp. H́nh ảnh người phụ nữ nổi lên với những đặc tính vừa nhục dục lại vừa siêu nhiên, vừa thỏa măn lại vừa thông minh, vừa giận dữ điên cuồng lại vừa an nhiên tự tại. Tsultrim Allione viết trong bài giới thiệu cho cuốn sách của bà mang tên Người Phụ Nữ Khôn Ngoan (Women of Wisdom) cho biết “Làm thế nào để được khoan khoái thoải mái mà vẫn cảm thấy trong ḷng trong trắng và b́nh yên, với con mắt sầu thảm để có thể trở thành siêu nhiên được.” (17)

Người Tây Tạng cho rằng nguyên lư nam tính sẵn tính năng động sôi nổi (thật thú vị, nó được so sánh với mặt trăng) c̣n nguyên lư nữ tính lại được cho là khôn ngoan hoàn hảo (tựa như mặt trời) hợp nhất cả hai lại là điều hết sức quan trọng trong việc thực hành Phập pháp của người Tây Tạng.

Như một lời chú thích khôi hài ở cuối trang sách, đây là một nhận định (được một thiền sinh hành thiền tại San Francisco, do Susan Murcott tường tŕnh trong cuốn Kahawai, xuất bản mùa hè 1981) về nguyên lư nữ tính như là một cái ǵ “trống rỗng” và nguyên lư nam tính là “sinh động hoạt bát”. Đây là lời của anh ta: “Điều đó ngụ ư các phụ nữ dọn dẹp bàn sau bữa ăn, c̣n nam giới ngồi hút thuốc ś- gà.”

Một điển h́nh cuối cùng đề cập đến một nữ Phật tử đă chứng tỏ sự phấn đấu liên tục trích trong văn chương Thiền định (Zen.) Tên là Myoshin, đồ đệ của Thiền sư Kyozan. Câu chuyện về bà đươc kể lại trong cuốn Raibai Tokuzui, một phần trong tác phẩm kiệt tác mang tên Shobogenzo của nhà hiền triết Phật Thiền Zen kiêm thiền sư lỗi lạc Dogen Zenji, trong câu chuyện trên, Kyozan nhận ra được Myoshin đắc thủ tính khí của một chiến binh can trường. Ông đă cắt cử bà đứng đầu một thiền viện. Một buổi chiều nọ có khoảng 17 nhà sư từ Szechwan đến thăm chùa trong một cuộc hành tŕnh t́m kiếm một thiền sư để thọ giáo và hy vọng sẽ được tiếp chuyện với Kyozan. Đêm xuống họ tá túc tại thiền viện và tranh luận sôi nổi với nhau về đấng tổ phụ thứ Sáu. Và mỗi người cứ luân phiên tranh luận với nhau, chẳng có ai nắm được điểm chính. Bên kia bức tường Myoshin nghe thấy họ tranh căi to tiếng liền la lên: “Đồ lừa chết tiệt! Biết bao đôi giầy cỏ họ đă lê ṃn trên đường t́m kiếm Phật pháp mà chẳng gặp được cho dù ngay cả trong mơ.”

Khi mười bảy nhà sư nghe thấy lời b́nh phẩm của bà, họ thấy mắc cở, chỉnh lại áo cà sa và thắp nhang, đồng thời tỏ ḷng tôn kính và xin được thọ giáo ngài Myoshin. “Phật pháp đâu có phải ngọn gió di chuyển; không phải ngọn cờ lay động; cũng chẳng phải tâm trí chuyển động.” Nghe bà diễn đạt về Phật pháp như vậy, các nhà sư tự kiểm định lại chính ḿnh và vái chào biết ơn, họ quyết định thọ giáo nữ thiền sư. Và không cần chờ đợi được trao đổi với Kyozan họ đă lên đường trở về thẳng Szechwan.

Dogen kết luận, “Thật vậy, điều trên chẳng ăn nhằm ǵ tới ba điều khôn ngoan và mười kiểu thánh đức; đó chỉ là hành vi của một con người truyền đạt trực tiếp Phật pháp từ Đức Phật và các Thiền sư.” (18). Ở vào thời đó (1240 sau công nguyên) tác phẩm Raibai Tokuzui của Dogen đă là phán quyết mạnh mẽ khẳng định sự b́nh đẳng của người phụ nữ, đặc biệt đối với những ai “nghiêm chỉnh nghiên cứu Phật pháp,” (xem chương 7).

Xét dưới góc độ lịch sử Phật giáo vốn thường ấp ủ một mối ác cảm lớn đối với phụ nữ. Chính Phật pháp vượt trên mọi ác cảm, tồn tại ở đâu đó và chỉ là những quan niệm tản mạn. Lời Phật dạy lại là một vấn đề khác, v́ được phát xuất từ tâm trí và ngôn ngữ bị lịch sử và kinh nghiệm con người chi phối. Điều này có thực nơi tất cả các tôn giáo khác– biết làm thế nào được? Như thế nếu lời Phật dạy càng trở thành “vững chắc” bao nhiêu th́ các tôn giáo đó lại càng phản bội lại những cảm hứng siêu việt nguyên thủy hoặc cái cốt lơi thần bí của tôn giáo bấy nhiêu. Điều này sản sinh ra những điều bí ẩn không rơ rệt như các Phật tử thường cảm thấy gần gũi với điều siêu nhiên cốt lơi nơi Thiên Chúa giáo hơn là một vài biểu hiện bề ngoài của Phật giáo. Điều đó cũng làm rơ tại sao Meister Eckhart, Martin Buber, Mẹ Theresa, là tác giả không tên tuổi của tác phẩm The Cloud of Unknowing, Hildegard von Bingen và Gerald Red Elk nói về chúng một cách trực tiếp cũng như các học giả lớn Phật giáo.

Nhưng hiện nay đối với nhiều phụ nữ đang hành đạo, một trong những trở ngại lớn nhất c̣n tồn tại là thiếu vắng những mô h́nh rơ ràng về vai tṛ của người phụ nữ cũng như các bà mẹ ṇng cốt ở thế hệ trước được thể hiện trong văn chương hay Kinh Phật. Một thực tế rất hiển nhiên là tất cả các thiền sư tên tuổi, các nhà hoạch định đường lối và các nhà sư trụ tŕ xuyên suốt mọi thời đại vẫn là nam giới. Trong khi đó, chỉ một ít năm trở lại đây, tại Tăng đoàn tu sĩ Phật giáo Diamond ở Hawaii đă thay đổi lời trong những bản tụng kinh hàng ngày, bằng cách bỏ đi các từ “các thiền sư sáng lập” hay “các thiền sư tổ phụ”. Duy có điều khó tránh khỏi là các vị tiền bối vừa đề cập đến ở trên đoàn bộ vẫn là nam giới. May mắn thay, các thành viên của đoàn thể này đă cố gắng thích ứng với hoàn cảnh hiện tại, với sự giúp đỡ của nhà dịch thuật Thomas Cleary và các thiền sư, Robert Aitken, Roshi, họ đă cho phát hành trong tờ tập san mang tên Kahawai, một loạt bài về cốt truyện chưa được biết đến từ xưa đến nay về các phụ nữ c̣n trong bóng tối trong lịch sử thiền Phật được biết đến với tên “Kahawai Koans” (19) mà chúng tôi đă đến gặp một số phụ nữ tiêu biểu trên và một số phụ nữ nổi bật đang tham gia cuộc chiến Phật pháp với các nhà sư cũng như các thiền sư để b́nh đẳng. Các nhân vật phụ nữ này thường không xuất đầu lộ diện, họ tự giấu mặt trong các túp lều và các pḥng trà, ở đó những ai đến t́m gặp họ hoặc t́nh cờ gặp họ sẽ nhận được một số Phật pháp. Tôi cảm thấy các “nữ tiếp viên pḥng trà” (tea ladies) này rất thu hút. H́nh như có mối dây liên hệ giữa họ và các phụ nữ Phật giáo thần bí Tây Tạng, Twultrim Allione đă mô tả trong cuốn Woman of Wisdom. Tôi thắc mắc không hiểu với vị thế vô danh tiểu tốt như vậy có phải là điều tự nhiên đối với phụ nữ hoặc đó chỉ là một cấu trúc xă hội, hoặc cả hai? Tôi càng ngạc nhiên hơn nữa khi trong số các phụ nữ tôi phỏng vấn trong cuốn sách này cũng lại là một nữ tiếp trà (chương II).

Cuối cùng h́nh như tôi đang lưu ư đến các phụ nữ tiếp trà ở mọi nơi. Một người bạn tôi quen biết đă 20 năm lại là một nữ tiếp trà giả dạng. Trong một cuốn sách rất hay mang tên A journey in Ladakh (cuộc hành tŕnh về Ladakh) tác giả là Andrew Harvey, chúng ta bắt gặp nhân vật Moneesha, một phụ nữ cứng cỏi thường hay bận tâm đến những kỳ vọng thiêng liêng. Nói đến thiền sư của ḿnh - Thuksey Rinpoche - bà ta kể:

Thiền sư là một người chăm chú, đơn giản, nhân hậu và một ông già vui tính và v́ thế tôi rất yêu quí ông. Ông quá bận tâm đến thế giới xung quanh, không c̣n nhiều thời gian để kể lại những kinh nghiệm đời ḿnh cho ai cả. Ngay cả khi ông ta rỗi răi ông cũng không muốn làm thế. Bạn đang t́m ṭi điều ǵ chăng; ông đă kiếm ra điều bạn đang t́m. Đó là những khác biệt và cũng là những ǵ bạn luôn bàn căi tranh luận, phân tích và so sánh. Để rồi đừng làm cho bất kỳ ai phải lung lạc - tất cả những ǵ được bàn bạc về Đức Phật hay Niết Bàn từ những người mất trí do những điều nhạy cảm và những phản ứng của chính họ ám ảnh! Bạn hăy làm một điều ǵ đi, hăy làm đôi điều hữu ích hơn.

Giọng nói đặc sệt truyền thống. (Nếu bạn suy nghĩ về điều đó, rất có thể chính bạn đă h́nh dung ra được một số nữ tiếp trà là như thế nào.)

 

 

III

Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều phụ nữ tích cực tham gia các hoạt động trong nhiều ngành Phật giáo tại Hoa kỳ. Bằng nhiều cách khác nhau chúng tôi đang gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm để t́m hiểu một vài khó khăn cũng như xung khắc nơi các phụ nữ đang hành đạo trong khuôn khổ sự hiện diện của nữ giới nơi các truyền thống giáo phụ khác nhau.

Một trong những đáp ứng đầu tiên trước nhu cầu này là ấn bản tập san Kahawai, do cộng đoàn tu sĩ Phật giáo Diamond tại Honululu ấn hành. Tập San Người Phụ Nữ Và Thiền định (zen). Từ năm 1971 tập san này đă xuất bản những bài viết, những bản dịch, thư từ và đối thoại trong một thời gian dài, tập san là kênh duy nhất để chúng tôi liên hệ với nhau.

Mùa hèø 1981, một cuộc hội thảo đầu tiên về Phụ Nữ và Phật giáo được diễn ra tại Trung Tâm Thiền Naropa thành phố Boulder, bang Colorado. Đó là cuộc gặp gỡ của các phụ nữ đang hành Phật thuộc ba truyền thống chính tại quốc gia này là: Tây Tạng, Thiền định Zen và Đại Thừa. Cuộc hội thảo thứ hai cũng đă được tổ chức tại đó vào năm sau. Qui tụ các phụ nữ trên toàn quốc đến dự, họ tham gia thuyết tŕnh, thảo luận, chia sẻ luyện tập., hy vọng và quan tâm.