Nhập ḍng giải thoát

B́nh Anson

---*---

Trong kinh điển thường đề cập đến bốn quả vị mà người con Phật phải nhắm đến trên đường giải thoát, đưa đến Niết Bàn. Các quả vị nầy được xem như là các dấu mốc -- hoặc các chặng đường -- trên hành tŕnh thanh lọc tâm ư, tiêu diệt các ô nhiễm ngủ ngầm trong tâm, vốn thường được gọi là mười kiết sử hay thằng thúc (samyojana), trói buộc chúng sinh vào ṿng luân hồi.

Bốn quả vị đó là:

- Dự lưu (Sotàpanna, Tu-đà-hoàn),
- Nhất lai (Sakadàgàmi, Tư-đà-hàm),
- Bất lai (Anàgàmi, A-na-hàm),
- A-la-hán (Arahat, Ứng cúng).

Mười kiết sử là:

- thân kiến (sakkàya-ditthi),
- hoài nghi (vicikicchà),
- giới cấm thủ (silabata-paràmàsa)
- tham đắm vào cơi dục (kàma-ràga)
- sân hận (vyàpàda),
- tham đắm vào cơi sắc (rùpa-ràga),
- tham đắm vào cơi vô sắc (arùpa-ràga),
- mạn (màna),
- trạo cử vi tế (uddhacca),
- si vi tế (avijjà).

Trong nhiều bài kinh, Đức Phật thường tóm tắt về bốn quả thánh đó như sau:

"... Có những Tỳ-khưu là những vị A-la-hán, các lậu hoặc đă đoạn trừ, Phạm hạnh đă thành, các việc nên làm đă làm, gánh nặng đă đặt xuống, mục đích đă thành đạt, hữu kiết sử đă được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.

Có những Tỳ-khưu là những vị Bất lai, đă đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, ở đấy được nhập Niết-bàn, không c̣n phải trở lại đời này nữa.

Có những Tỳ-khưu là những vị Nhất lai, đă đoạn trừ ba kiết sử, đă làm cho muội lược tham, sân, si, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau.

Có những Tỳ-khưu là những vị Dự lưu, đă đoạn trừ ba kiết sử, không c̣n đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ". -- (Trung bộ, 118)

*

Người đạt quả Dự lưu là người đă phá bỏ ba kiết sử đầu tiên: thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ. Người nầy được xem như là một người đă nhập vào ḍng giải thoát, tùy theo hạnh nghiệp và tinh tấn mà chỉ tái sinh làm người hoặc trong các cơi trời, tối đa là bảy kiếp, v́ vậy có sách gọi là quả Thất lai. Người nầy c̣n được gọi là đă mở "Pháp nhăn", v́ người ấy đă bắt đầu có thanh tịnh về quan kiến, đă trực nhận rơ ràng Chánh Pháp của Đức Phật. Người đó không c̣n xem ḿnh như là một bản thể riêng biệt và thường tồn, kể cả h́nh sắc và tâm thức. Người đó không c̣n một chút nghi ngờ nào về sự hiện hữu và lợi ích của Tam Bảo: không c̣n hoài nghi về sự giác ngộ của Đức Phật, không c̣n hoài nghi về con đường mà Đức Phật đă vạch ra để đi đến giác ngộ, không c̣n hoài nghi về những đệ tử của Ngài đă đi theo con đường ấy và đă đạt được sự giải thoát tối hậu. Người ấy cũng không c̣n có ảo tưởng rằng Niết Bàn có thể đạt được bằng cách ép ḿnh vào các h́nh thức lễ nghi phiến diện hay các điều lệ ước định nào đó.

Có người thường hiểu lầm về chữ "hoài nghi" dùng ở đây. Tiếng Pali là "vicikicchà". Ngài Phật Âm (Buddhaghosa), trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo, nói rằng "vicikicchà" phải hiểu là một thái độ cuồng tín mù quáng, không sẵn sàng tra vấn, học hỏi. Do đó cần phải trừ khử kiết sử nầy. Đức Phật khuyến khích chúng ta phải biết suy tư, luận giải và chứng nghiệm, v́ Pháp là "mời mọi người đến xem xét" (ehipassika). Để rồi chúng ta thấy, biết rơ ràng sự ích lợi của Phật Pháp cho con đường hành tŕ của ta, và từ đó, ta có một niềm tin vững chắc vào Tam Bảo, không c̣n thắc mắc, phân vân, hay do dự ǵ nữa.

Chữ "giới cấm thủ" (silabata-paràmàsa) cũng thường bị hiểu lầm. Trừ khử "giới cấm thủ" không có nghĩa là một thái độ buông lơi, phóng túng, dễ duôi, không giữ ǵn giới hạnh. Trái lại, nó có nghĩa là một thái độ minh triết, xem giới luật như là một phương tiện tốt, cần thiết để luyện tâm, nhưng lại không mù quáng, không quá lệ thuộc vào các h́nh thức giáo điều. Một người không c̣n giới cấm thủ là một người lúc nào cũng có giới đức trong sạch, nhưng sống thảnh thơi trong giới luật đạo hạnh, không c̣n coi đó là một gánh nặng trên con đường hành tŕ của ḿnh.

Để trừ khử các kiết sử trên, Đức Phật khuyên chúng ta phải nỗ lực thực hành bốn điều: (1) thân cận bậc chân nhân, (2) lắng nghe diệu pháp, (3) như lư tác ư, và (4) thực hành pháp và tùy pháp, như đă ghi trong Tương Ưng 55.11:

"Thân cận bậc Chân nhân là Dự lưu phần.
Nghe diệu pháp là Dự lưu phần.
Như lư tác ư là Dự lưu phần.
Thực hành pháp và tùy pháp là Dự lưu phần".

Rồi Ngài giảng về sự liên quan của bốn pháp trên:

- "Này các Tỳ-khưu, giao thiệp với bậc Chân nhân được viên măn thời làm viên măn nghe diệu pháp; nghe diệu pháp được viên măn thời làm viên măn ḷng tin; ḷng tin được viên măn, thời làm viên măn như lư tác ư; như lư tác ư được viên măn, thời làm viên măn chánh niệm tỉnh giác; chánh niệm tỉnh giác được viên măn, thời làm viên măn các căn được chế ngự; các căn được chế ngự được viên măn, thời làm viên măn Ba thiện hành; Ba thiện hành được viên măn, thời làm viên măn Bốn niệm xứ; Bốn niệm xứ được viên măn, thời làm viên măn Bảy giác chi; Bảy giác chi được viên măn, thời làm viên măn Minh giải thoát" (Tăng Chi 10.61).

Về "thân cận bậc chân nhân', Ngài giảng:

- "Thế nào là làm bạn với thiện? Ở đây, thiện nam tử sống tại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có gia chủ hay con người gia chủ, những trẻ được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới đức, đầy đủ ḷng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận. Với những người đầy đủ ḷng tin, vị ấy học tập với đầy đủ ḷng tin. Với những người đầy đủ giới đức, vị ấy học tập với đầy đủ giới đức. Với những người đầy đủ bố thí, vị ấy học tập với đầy đủ bố thí. Với những người đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập với đầy đủ trí tuệ. Đây gọi là làm bạn với thiện" (Tăng Chi 8.54).

Rồi Ngài khuyên:

Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng,
Hăy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu. (Pháp Cú, 76)

Chớ thân với bạn ác,
Chớ thân kẻ tiểu nhân.
Hăy thân người bạn lành,
Hăy thân bậc thượng nhân. (Pháp Cú, 78)

Đức Phật đề cập đến 5 lợi ích của việc "biết nghe diệu pháp": (1) được nghe điều chưa nghe, (2) làm cho trong sạch điều được nghe, (3) đoạn trừ nghi, (4) làm cho tri kiến chánh trực, và (5) làm cho tâm tịnh tín (Tăng Chi, 5.202).

Trong kinh "Tất cả các lậu hoặc" (Trung Bộ 2), Đức Phật dạy về pháp "như lư tác ư" để điều hướng các sự suy nghĩ của ḿnh sao cho có lợi lạc trên đường tu tập, như sau:

- "Này các Tỳ-khưu, thế nào là các pháp cần phải tác ư và vị ấy tác ư? Này các Tỳ-khưu, những pháp nào do vị ấy tác ư mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đă sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay hữu lậu đă sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đă sanh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ư và vị ấy tác ư. Nhờ vị ấy không tác ư các pháp không cần phải tác ư, tác ư các pháp cần phải tác ư, nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đă sanh được trừ diệt.

Vị ấy như lư tác ư: "Đây là khổ", như lư tác ư: "Đây là khổ tập", như lư tác ư: "Đây là khổ diệt", như lư tác ư: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt". Nhờ vị ấy tác ư như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỳ-khưu, các pháp ấy được gọi là pháp dùng tri kiến để đoạn trừ các lậu hoặc".

Khi Tỳ-khưu Kotthika hỏi ngài Trưởng lăo Xá Lợi Phất cần phải "như lư tác ư" thế nào để được giải thoát, ngài đáp:

- "Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lư tác ư năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngă.

Năm thủ uẩn đó là ǵ? Đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-khưu giữ giới cần phải như lư tác ư năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngă" (Tương Ưng 22.122).

Về "thực hành pháp và tùy pháp", ở đây được giảng rộng ra, bao gồm chánh niệm tỉnh giác, pḥng hộ các căn, huân tập ba thiện hành (thân, khẩu, ư), thực hành bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm pháp), và phát triển bảy giác chi (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả).

Trong nhiều bài kinh (Tương Ưng Bộ, Phẩm Dự Lưu), Đức Phật thường đề cập đến bốn đặc tính của một vị thánh Dự lưu là: niềm tín thành bất động nơi Đức Phật, nơi Giáo Pháp của Ngài, nơi đoàn thể các vị Thánh Tăng và có giới đức cao thượng, lúc nào cũng được các bậc chân nhân khen ngợi. Trong Tăng Chi 10.92, Ngài giảng:

- "Thế nào là thành tựu bốn Dự lưu phần? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Đây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự ḿnh giác hiểu". Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lư hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời." Vị ấy thành tựu với những giới đức được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định."

Mặc dù đoạn kinh trên thường được xem là các tiêu chuẩn căn bản của quả Dự lưu, trong kinh điển c̣n có ghi các danh sách khác, trong đó, tiêu chuẩn về giới hạnh được thay thế bằng tiêu chuẩn bố thí và trí tuệ:

- Tương Ưng 55.32 ghi tiêu chuẩn thứ tư như sau: "Lại nữa, vị Thánh đệ tử trú ở gia đ́nh, với tâm thoát khỏi cấu uế của xan tham, bố thí dễ dàng, bàn tay rộng mở, thích thú từ bỏ, đáp ứng điều yêu cầu, thích thú chia xẻ vật bố thí."

- Tương Ưng 55.33 ghi tiêu chuẩn thứ tư như sau: "Lại nữa, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt các pháp, trí tuệ các bậc Thánh thể nhập các pháp, đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau."

Khi các danh sách liệt kê này được kết hợp lại, chúng ta có được bốn đức tính của vị Thánh Dự Lưu: đầy đủ ḷng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Đó cũng là bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho một cư sĩ Phật tử:

- "Có bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai, an lạc tương lai cho thiện nam tử. Thế nào là bốn? Đó là đầy đủ ḷng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ" (Tăng Chi 8.54).

Ở đây, "ḷng tin" nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) không phải chỉ đơn thuần là sự tin tưởng, sùng tín mù quáng. Vị Dự Lưu thật sự tín nhiệm, tin tưởng nơi nguyên lư nghiệp quả -- nguyên lư của hành động và hậu quả -- như vị ấy đă chứng nghiệm rơ ràng khi bắt đầu nhập ḍng Thánh.

*

Trong giai đoạn tu tập kế tiếp, khi tham dục (tham đắm vào dục giới) và sân hận được trừ khử một cách đáng kể th́ người đó đắc quả Nhất lai, nghĩa là có thể c̣n tái sinh làm người hoặc trong cơi trời dục giới một lần nữa. Khi hai kiết sử tham dục và sân hận được loại bỏ hoàn toàn, th́ người ấy đắc quả Bất lai, nghĩa là không c̣n tái sinh vào cơi dục giới nầy nữa. Năm kiết sử đầu tiên nầy gọi là "hạ phần kiết sử" (orambhàgiya-samyojana), cột trói chúng sinh trong cơi dục. Tùy theo tŕnh độ chứng đạt, bậc thánh Bất lai sẽ thác sinh về Tịnh cư thiên thuộc cơi trời sắc giới (rupaloka), trước khi nhập Niết-bàn tối hậu. Ba quả vị Dự lưu, Nhất lai, Bất lai cũng thường được gọi chung là quả vị của bậc thánh Hữu học.

Người ấy tiếp tục hành tŕ thanh lọc tâm ư, và tinh tấn trừ khử năm kiết sử c̣n lại: tham đắm vào cơi sắc, tham đắm vào cơi vô sắc, trạo cử vi tế, mạn, và si vi tế. Năm kiết sử nầy gọi là "thượng phần kiết sử" (uddhambhàgiya-samyojana), cột trói chúng sinh trong cơi sắc và vô sắc. Ở đây, tham đắm vào cơi sắc và cơi vô sắc là sự tham đắm vào bốn tầng thiền-na hữu sắc (rùpa-jhàna) và bốn tầng thiền-na vô sắc (arùpa-jhàna). "Trạo cử vi tế" là trạng thái vẫn c̣n một vài giao động nhỏ trước trần cảnh, "mạn" (màna) là các ư tưởng so sánh, và "si vi tế" là một vài dấu vết vô minh ngăn che c̣n sót lại.

Đến lúc đó, người ấy đă phá tung tất cả mười sợi dây trói buộc, trừ khử mười loại kiết sử ô nhiễm, lậu hoặc đă đoạn tận, tuệ giác khai mở, không c̣n tạo nghiệp, không c̣n phải tái sinh, luân hồi nữa. Nói một cách khác, như đă mô tả trong Trung Bộ Kinh, bài kinh số 1 (Kinh Pháp Môn Căn Bản), đối với người ấy: "các lậu hoặc đă tận, tu hành thành măn, các việc nên làm đă làm, đă đặt gánh nặng xuống, đă thành đạt lư tưởng, đă tận trừ hữu kiết sử, đạt chánh trí giải thoát". Người ấy trở thành bậc A-la-hán, bậc thánh Vô học, đắc đạo quả Niết Bàn, giải thoát rốt ráo tối hậu.

Perth, Tây Úc,
Xuân Ất Dậu (PL. 2549, TL. 2005)

---ooOoo---

 

 

[Trang kinh điển] [Tác giả]