Phật-Giáo Nguyên-Thủy
Chọn đường tu Phật
Trùng-Quang
Cư-sĩ
Sài-g̣n, 1955
Phật-Bảo Tự tái bản, 1999
Pagode Buddharatanarama
3, Rue Broca
91600 Savigny Sur Orge
France
-ooOoo-
Tiểu tựa
Quyển Chọn Đường Tu Phật đă được tác giả Trùng Quang Cư Sĩ thâu thập và biên soạn tại Sài-G̣n. Đây là tài liệu được ghi chép rất rơ ràng trong các kinh sách Phật Giáo qua sự biến chuyển thời gian và không gian mà tác giả đă dày công sưu tầm được sự thật và thực tế giúp cho người mộ đạo t́m hiểu sâu rộng con đường Hoằng Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Nhân dịp mùa An Cư Kiết Hạ, chúng tôi cho in lại quyển Chọn Đường Tu Phật này để hồi hướng công đức đến tác giả.
Chúng tôi thành tâm tán dương công đức của Chư Phật Tử xa gần đă đóng góp ủng hộ để in lại quyển Chọn Đường Tu Phật.
Cầu chúc Quí Phật Tử mùa An Cư Kiết Hạ thân tâm thường an lạc tu hành chánh kiến.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Tỳ-Khưu Phúc-Căn
PAGODE BUDDHARATANARAMA
Phật-Bảo-Tự
3, Rue Broca
91600 SAVIGNY SUR ORGE
FRANCE
-ooOoo-
Lời giới-thiệu
Trùng Quang cư-sĩ là một Phật-tử sinh trưởng trong truyền-thống Đại-Thừa Phật-Giáo. Lớn lên khi đi sâu t́m hiểu Phật-Giáo, ông mới vỡ lẽ ra rằng những ǵ được ghi chép trong kinh-điển cổ-truyền hoàn-toàn khác hẳn với t́nh-trạng Phật-Giáo Việt-Nam thời bấy giờ.
Phật-Giáo là một tín-ngưỡng không tin nơi thần-linh và sự hiện-hữu của một đấng cứu-rổi toàn năng, vậy mà khi nh́n lên bàn thờ các chùa Đại-Thừa lúc ấy, ta chỉ thấy toàn là những tượng ảnh của các vị được thần-linh hóa. Thậm chí tượng Phật Thích-Ca được đặt phía dưới thấp và nhỏ hơn tượng của Phật A-Di-Đà, tượng Đại-Thế-Chí hay Quan-Thế-Âm là những vị thần-linh không t́m thấy trong tam-tạng Pali. Kinh sách th́ được dịch hoặc âm ra từ tiếng Trung-Hoa, mà kinh sách Trung-Hoa lại được dịch ra từ tiếng Sanscrit, không phải là thứ tiếng chính-thức truyền-bá của Phật-Giáo, có thể lẫn-lộn với những kinh sách của Đạo Bà-La-Môn. Té ra Phật-Giáo Việt-Nam đă bị người Tàu tiêu-diệt trong các thời-kỳ đô-hộ và bị áp đặt một thứ Phật-Giáo Trung-Hoa với nhiều ảnh-hưởng thần-quyền dị-đoan, mê-tín. Nh́n vào sự truyền-bá của Phật-Giáo vào nước ta, theo những tài-liệu lịch-sử và khảo-cổ học mới nhứt, chúng ta được biết Phật-Giáo được truyền vào nước ta trực-tiếp từ Ấn-Độ bằng đường biển, trước khi được truyền sang Trung-Hoa. Theo sử-liệu Trung-Hoa, di-tích một bảo tháp Asoka được xây dựng ở Giao-Châu, tại thành Nê-Lê (hiện nay là Đồ-Sơn, cách Hăi-Pḥng 12 km) do phái-đoàn của hai vị thánh-tăng Sona và Uttara, được vua A-Dục gởi đi truyền-bá Phật-Giáo ở vùng Đất-Vàng (Suvannabhumi, tức vùng Đông-Nam-Á hiện nay) vào khoảng năm 243-144 trước Tây-Lịch. Phật-Giáo thời đó là Phật-Giáo Nguyên-Thủy.
Theo quyển Lư-Hoặc Luận của một Phật-Tử Trung-Hoa Mâu-Tử (160-230), là tác-phẩm đầu tiên viết về Phật-Giáo bằng chữ Hán mà sử sách Tàu c̣n ghi lại được, th́ ở Giao-Châu (Việt-Nam) lúc bấy giờ Phật-Giáo đă rất thịnh-hành, số tăng-sỉ người Việt, người Ấn-Độ và Trung-Hoa đă khá đông; sinh-hoạt, y-phục, lễ-nghi đều theo qui-chế của Tăng già bên Ấn-Độ; số kinh sách Phật có hàng vạn cuốn, một số đă được dịch ra chữ Hán (Kim-Phật kinh, quyển dĩ-vạn kế ...) (Lịch-Sử Phật-Giáo Việt-Nam - Nguyễn Tài Thư - NXB Khoa-Học Xă-Hội 1991).
Đến đầu thế-kỷ thứ III, nước ta có thiền-sư Tăng-Hội (205-280) đă giảng dạy và truyền-bá pháp Thiền "Niệm Hơi Thở" (Ănăpănasati - An-Ban Thủ Ư), là pháp thiền do chính Phật Thích-Ca truyền dạy cho các hàng Phật-tử khi Phật c̣n tại thế và hiện nay vẫn c̣n được áp-dụng tại các nước theo Phật-Giáo Nguyên-Thủy. Thiền-Phái Tăng-Hội được lưu-truyền măi tới thế-kỷ thứ XII, đời nhà Lư, với thiền-sư Lôi Hà Trạch (theo sách Thiền Uyển Tập-Anh).
Theo sách "Narada Felicitations Volume" của tác-giả Olcott Gunasekera - Buddhist Publication Society 1979 - các nhà sư Nam Tông sau đây đă đến Việt-Nam hoằng-pháp:
- Năm 420, Thiền-Sư Shangavarna, người dịch Tạng Luật ra tiếng Sanscrit.
- Thiền-Sư Gunavarman (Công-Đức-Khải), người Kashmir, theo học Phật-Giáo Nam Tông nhiều năm ở Tích-Lan, đến hoằng pháp tại đảo Java (Indonesia). Năm 431 tới Việt-Nam, ở lại đây rất lâu trước khi tiếp-tục lên đường sang Trung-Quốc.
- Vào giữa thế-kỷ thứ V, một vị sư Nam Tông Ấn-Độ tên Dharmadeva (Pháp Thiên) đến Việt-Nam dạy thiền ở Tiên-Sơn-Tự, thâu nhận thầy Huệ-Thắng (432-502), người Giao-Chỉ, làm đệ-tử. Về sau, Thiền-Sư Huệ-Thắng được Tổng-Đốc Lưu-Hội (Liu Ze) mời sang Trung-Quốc hoằng pháp vào năm Vĩnh-Minh thứ 5, tức năm 487.
- Năm 435, Thiền-Sư Sunabhadra từ Trung-Quốc đến Indrapuri (Huế). Ngài đă dịch kinh Tạp-A-Hàm từ Pali ra chữ Hán.
- Năm 488, Thiền-Sư Sanghabala (Tăng-Khải) đến Việt-Nam hoằng pháp trước khi sang Trung-Hoa dịch bộ Luận Abhidhamma và bộ Luật Vinăya.
Trong thời Lư Trần, Phật-Giáo Việt-Nam phát-triển đến cực thịnh. Rất nhiều công-tŕnh văn-hóa độc-đáo và kiến-trúc vĩ-đại được h́nh thành trong thời gian này. Hơn 5.000 quyển Tam Tạng Kinh được in ra giữa các năm 1295 và 1319. Chỉ trong khoảng 30 năm, phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử đời Trần đă cho xuất gia 15.000 tăng ni. Sử sách Trung-Hoa thời đó vẫn ca tụng nhiều về bốn công-tŕnh nghệ-thuật vĩ-đại mà họ gọi là An-Nam Tứ Đại Khí: tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, Tháp Báo Thiên, Chuông Quy Điền và Vạc Phổ-Minh. Đến thời Bắc thuộc lần thứ tư (1414-1427), quân nhà Minh chiếm đóng nước ta đă thi-hành một chánh-sách hủy-diệt văn-hóa Việt-Nam một cách tàn-khốc, như họ hiện đang thi-hành với Tây-Tạng. Hậu-quả trầm-trọng của giai-đoạn này là sự áp đặt và xâm lăng văn-hóa trắng-trợn. Đạo Khổng, Đạo Lăo và Đạo Phật của Trung-Hoa lại tràn xuống nước ta. Toàn bộ những thành-tựu văn-hóa thời Lư Trần đă bị quân Minh tàn-phá hết sức dă-man. Sắc-lệnh của Minh-Thành-Tổ gửi cho các tướng xâm-lược ngày 21.08.1406 có đoạn: "Một khi binh lính đă vào nước Nam ... th́ hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến các loại ca lí dân gian, các sách dạy trẻ nhỏ ... một mảnh một chữ phải đốt hết. Khắp trong nước các bia do An-Nam dựng th́ phải phá-hủy tất cả, một chữ chớ để sót lại". Chín tháng sau, Minh-Thành-Tổ lại gửi chỉ-dụ thúc-giục như trên (T́m về Bản sắc văn-hóa Việt-Nam - Trần Ngọc Thêm - NXB TP Hồ Chí Minh 1996).
Sự hủy-diệt văn-hóa Việt-Nam hiệu quả đến nỗi chỉ c̣n 1/10 các tác phẩm Việt-Nam, gồm nhiều chú-giải kinh tạng, t́m lại được sau khi Việt-Nam giành lại độc-lập. Phật-Giáo Việt-Nam bị suy thoái trầm-trọng từ đây.
Một điều mà mỗi Phật-tử đều phải suy ngẫm: tại sao Phật-Giáo bị bứng gốc khỏi Ấn-Độ là nơi chôn nhau cắt rốn của Đức Thích-Ca và tại sao Phật-Giáo đă suy yếu tàn-tệ tại các nước Trung-Hoa, Nhật-Bổn, Đại-Hàn ... là những nước thủ-phủ của Đại-Thừa.
Ngoại đạo không ngừng tàn hại Phật-Giáo, nội trùng lại chia nhau rút rỉa lợi-dụng. Người Phật-Tử phải sáng-suốt cảnh-giác.
Quyển "Chọn Đường Tu Phật" ra đời năm 1955 trong phong-trào chấn-hưng Phật-Giáo tại nước nhà sau hơn 100 năm đô-hộ của người Pháp. Đây là sự cảnh-tỉnh của một Phật-tử Việt-Nam chân-thành, muốn "trả lại cho Thích-Ca những ǵ của Thích-Ca", không muốn lẫn-lộn giữa Đạo Phật Nguyên-Thủy và Đạo Phật của người thế sau này.
Nhận thấy tác phẩm vẫn c̣n hữu-ích cho Phật-tử chúng ta hiện nay, chúng tôi xin mạn phép ấn tống lại và cống-hiến cho quí Phật-tử.
Nguyện dâng công-đức này đến tất cả quí vị Ân Sư tiền-bối đă dày công đem Ánh Đạo Vàng đến tận đàn hậu-thế xa xăm.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Ban Hoằng Pháp
Phật-Giáo Nguyên-Thủy Việt-Nam
Paris, France
-ooOoo-
Lời nói đầu
Đạo là con đựng thanh bạch đưa người từ thấp lên cao, từ tối đến sáng, từ phàm huệ đến Thánh tuệ.
Đời là chỗ mê lầm trụy lạc, giam hăm con người trong ṿng tội khổ triền miên.
Đời hay lầm lạc, nên phải có đạo để giúp đời phân biệt lành dữ, tội phước.
Đạo và đời cũng như tinh thần và vật chất; nếu đôi bên được cân phân tương xứng, th́ nhân loại được hưởng cảnh thái b́nh nhàn lạc.
Đời phế đạo, cũng như vật chất lấn ép tinh thần, làm cho luật điều hoà vũ trụ bị chênh nghiên, th́ nhân loại phải điêu đứng trong cảnh tang thương đau khổ.
Đời xây dựng hạnh phúc giả tạm trong vật chất ô trọc; đạo thiết lập an vui vĩnh cửu trong tinh thần siêu việt.
Ai biết chán chê tánh cách giả tạm của đời, nên t́m cái thường tồn trong đạo.
Khó một điều là ngoài cái Chánh Đạo của bậc Toàn Giác siêu phàm dựng nên, c̣n rất nhiều Tà-Giáo của kẻ xảo quyệt lập ra, để trực lợi cầu danh, làm cho biết bao nhiêu người bị lầm lạc trong thần quyền mê tín.
Đạo Phật, cũng như các đạo ở thế gian, lúc sơ khai vẫn có một. Sau lại, v́ tham vọng của đời, mà nảy sanh ra chi nầy phái nọ. Khi Phật-Tổ Gotama c̣n tại thế, đă có một hạng Tỳ-Khưu, đương thao túng dưới quyền chi phối của vật chất, sẵn chờ ông Giáo Chủ viên tịch, dở thủ đoạn gây mầm chia rẽ, lập ra môn nầy phái nọ, đua nhau canh cải giáo pháp nguyên thủy, theo ch́u tâm lư, tín ngưỡng và sở thích của người đời, cố thâu thập cho nhiều tín đồ để tranh làm tổ sư một góc trời.
Những đạo giáo ấy truyền thống đến đâu, th́ đoàn hậu tấn nơi đó khó phân biệt chánh tà; bởi trong những kinh điển lưu hành, tác giả khôn khéo ru ngủ và mê hoặc tín đồ. Phần đông Phật-Tử có tánh ỷ lại nơi thần quyền, không chịu gia công sưu tầm chánh pháp, hoặc theo dơi các nhà khảo-cổ, cùng các bậc học Phật uyên thâm chân chất, cứ tin tưởng theo tập quán cổ tục lưu truyền.
Muốn biết sự thật, người Phật-Tử cần t́m đọc:
1. Sử tích về đời sốn sáng lạng của Phật-Tổ Gotama, từ lúc sơ sanh đến ngày thành đạo, để thấy rơ và học đ̣i theo gương hy sinh tận tụy của Ngài đối với nhân quần xă hội và tinh thần khắc kỷ tự lập cùng những đức tánh Từ Bi Bác Ái của Ngài đối với muôn loài vạn vật;
2. Pho lịch sử của Phật-Giáo, gồm cả những biến chuyển đáng tiếc do hành vi xấu xa của các thầy Tỳ-Khưu phản bội, chỉ biết lợi dụng áo cà-sa làm mồi nuôi mạng, lại c̣n dắt dẫn tín đồ qui phục thần linh, làm cho Phật-Giáo suy đồi và trở thành vô dụng cho thế gian;
3. Giáo lư đầu tiên của Phật Gotama, trong Tam-Tạng Pháp-Băo Pali, là phương pháp thiết thực để sửa trị và cải thiện đời sống nhân loại, đồng thời tiếp độ chúng sanh tiến đến mức giải thoát cứu cánh, khác hẳn với kinh sách đương lưu hành, đă trích dịch cùng soạn ra theo Tam-Tạng Sanscrit, là một rừng triết lư, đầy những giả-thuyết siêu h́nh, hết c̣n thích hạp với trào lưu xă-hội.
Quyển Chọn Đường Tu Phật nầy, là một tập toát yếu của những giờ xem kinh đọc sách, nghe pháp, luận đạo, trong 20 năm chung lộn vói các giới tu Phật, gồm cả ba đại điểm nói trên.
Soạn giả chẳng mong mỏi chi hơn là đem những bằng cớ thiết thực, nhắc nhở các thanh niên Phật-Tử rằng ngoài cái khuôn khổ tín ngưỡng vu vơ, ích kỷ xưa nay, người yêu chuộng chân lư sẽ c̣n một đường lối xu hướng khác, vừa phù hợp với trào lưu tiến hoá xă-hội, vừa bổ-ích cho tinh thần xây dựng hạnh phúc hoà b́nh cho thế giới đại đồng.
Trùng-Quang Cư-Sĩ
Sài-g̣n, 1955
-ooOoo-
I - Sử tích của Phật-Tổ Gotama
Trước hết, nên nhắc sơ qua các vị Phật-Tổ ba đời.
Theo kinh-điển Pali, trải qua tuổi thọ của quả địa-cầu nầy, nghĩa là từ khi hợp thành đến ngày tan ră, chỉ có năm vị Phật-Tổ ra đời:
Phật-Tổ quá-khứ:
I- KUKKASANTHO (Tàu âm là Cừu-Lưu-Tôn);
II- GONAGAMANO (Tàu âm là Câu-Na-Hàm-Ma-Ni);
III- KASSAPA (Tàu âm là Ma-Ha Ca-Diếp).
Phật-Tổ hiện-tại[1]:
IV- GOTAMA (Tàu âm là Cồ-Đàm hay Thích-Ca Mâu-Ni)
Phật-Tổ vị-lai:
V- ARIYA METRI (Tàu âm là Di-Lạc).
Ba vị Phật-Tổ quá-khứ, một vị hiện-tại và một vị vị-lai, gọi là Tam-Thế Phật. Ngoài ra, không c̣n vị nào là Phật-Tổ trong cơi Diêm-Phù-Đề[2] nầy. Nếu trong vũ-trụ bao la, hẳn thật có hằng hà sa số quả địa-cầu khác th́ cũng có hằng hà sa số vị Phật-Tổ quá-khứ, hiện-tại, vị-lai, giáng sanh trong các nơi ấy. Nhưng các vị Phật-Tổ nói trên, cũng như ba vị quá khứ và một vị vị-lai trong cơi Diêm-Phù-Đề nầy, đều cách biệt xa vời với chúng ta, chúng ta chẳng biết đâu mà tin tưởng. Chỉ có Phật-Tổ hiện tại là vị Giáo-Chủ duy nhất của Phật-Giáo.
Bổn-phận đầu tiên của tín-đồ là phải tham-cứu các kinh-điển kết tập[3] sau khi Phật-Tổ Gotama vừa nhập Niết-Bàn và các tài-liệu khảo-cổ để t́m-hiểu cho xác-thật Giáo-lư và Sử-tích của vị Tổ-Sư, hầu tránh điều lầm-lạc trong những tác-phẩm viết ra bởi những kẻ có ác ư phá-hoại cùng chia rẽ tín-đồ, và nhứt là trong những bộ sách soạn ra với ư thiên-vị, hoặc châm-chế để khỏi Phật ḷng các tông phái, mong thủ lợi hơn là t́m chân-lư.
T́m cho ra tài-liệu chánh đáng thật không phải dễ; nhưng nếu muốn th́ cũng gặp, miễn là chịu khó gia-công sưu-tầm.
Bổn-phận người học Phật, ngoài sự khảo-cứu kinh sách, phải năng thân-cận các giới tu Phật, để nghe biết, so-sánh và trước nhất, chẵng nên cố-chấp những tập-quán cổ-tục và phải đứng vào địa-vị trung-lập.
Đề-cập riêng về Phật-Tổ Gotama, có nhiều tín-đồ ái-ngại, sợ thất lễ với chư Phật quá-khứ, vị-lai và sợ lỗi với Chư Phật mà họ đương sùng-bái.
Nếu tín-đồ nh́n-nhận Phật-Giáo là chân-lư, th́ giáo pháp của các vị Phật quá-khứ, vị-lai cũng vẫn không khác với giáo-lư của Phật hiện-tại; bởi chân-lư không hai. Theo lư do nói trên, th́ sùng bái Phật hiện-tại và thực-hành y theo giáo pháp của Ngài, tất là gồm cả phận-sự của một tín-đồ đối với Phật ba đời. Quá-khứ đă qua rồi, vị-lai chưa đến, theo Phật hiện-tại là phải lẽ. Nhưng ở xứ nầy, v́ bị hấp-thụ theo tôn-giáo của người Tàu nên chẳng thấy chùa nào chủ-trọng về việc thờ Phật hiện-tại và tu theo giáo pháp của Ngài.
Phải chăng đây là một sự lầm-lạc đệ nhất quan-trọng về phương-diện tín-ngưỡng và tu học. Nói ra, ai ai cũng ngạc-nhiên và phản-đối: "Chúng ta tôn thờ Phật Thích-Ca và luôn-luôn thực-hành đúng theo giáo-lư của Ngài mà". Nếu nói như thế, chúng ta tự dối lấy chúng ta: Phật Thích-Ca ra đời tại Ấn-Độ; học Phật, chúng ta lại học theo Tàu. Phật-Giáo Ấn-Độ chủ trương thuyết Vô-Thần; người Trung-Hoa lại dạy chúng ta thờ chủ nghĩa Đa-Thần.
Hai giáo-lư khác nhau một trời một vực, chứng chắc rằng chúng ta đă bị người Tàu nhồi sọ ru ngủ. Xưa kia, v́ sống trong gầm trời chật hẹp, theo chế-độ đô hộ, người Tàu dạy thế nào, chúng ta tin theo thế ấy. Ngày nay, chúng ta đă tiến-bộ khá nhiều, mà vẫn mê lầm theo tập quán, không nh́n về Thánh-Địa Lăn-Ca để cải-tổ nền Phật-Giáo nước nhà cho đúng theo Chánh-Pháp di-truyền của Phật-Tổ Gotama. Trái lại, chúng ta mê thích những giả-thuyết của nhóm Tăng-đồ đua nhau tranh tài biện luận cao thấp đặng chia rẽ tín-đồ ra hai phe đối chọi: Đại-Thừa và Tiểu-Thừa.
Các vị Giáo-Chủ, khi ra đời khai đạo, chẳng bao giờ thốt ra một lời nào có ảnh hưởng chia rẽ tín-đồ. Trái lại, trong kinh sách Tàu, từ đầu chí cuối, tác-giả không ngại ngùng tự xưng là Đại-Thừa, đại căn, và chê bai đối phương là Tiểu-Thừa hạ căn.
Phật Thích-Ca là bậc hoàn-toàn sáng suốt, không lẽ Ngài thốt ra những lời cạn cợt như thế ấy để tạo một hố sâu, chia rẽ tín-đồ của Ngài ra hai phe thù-nghịch, ganh ghét lẫn nhau.
Ai lại không biết trong xă-hội nào cũng có người trí kẻ ngu lẫn lộn nhau, và chẳng bao giờ người khôn chia ra ở theo người khôn, kẻ dại ở theo kẻ dại. Trong phái Đại-Thừa, theo kinh sách Tàu, chỉ có những người từ-bi rộng lớn; chỉ có phái Tiểu-Thừa là gồm cả bọn ích-kỷ hẹp ḥi. Tín-đồ Đại-Thừa sẽ thành Phật, bọn Tiểu-Thừa giỏi nhất chỉ đắc quả La-Hán thôi.
Sao chúng ta không tự nh́n lại nhóm Đại-Thừa của chúng ta, coi trong ấy có bao nhiêu thượng căn, bao nhiêu hạ trí? Người được cái vinh-hạnh thuộc hạng Đại-Thừa như chúng ta, ít ra phải có đức tánh khiêm-tốn, nhă-nhặn, khác hẳn với kẻ thấp hèn ngu muội, hay hănh-diện khoe-khoang, mới phải cho. Người trí huệ phải biết rằng Đấng Trọn Lành như Phật Gotama chẳng bao giờ dùng những lời lẽ làm cho Phật ḷng tự-ái của nhóm tín-đồ xấu phước của Ngài, có đâu lại công-khai chê dè họ, như đă ghi chép trong kinh sách Tàu. Có suy-nghĩ như thế, mới có sưu-tầm cho biết v́ đâu và từ lúc nào tín-đồ Phật-Giáo bị chia rẽ hai phái Đại-Thừa và Tiểu-Thừa, để bứng gốc rễ những tập-nhiễm và lật đổ các chướng-ngại đă làm chậm trễ bước đường tiến-hoá của những tâm hồn mộ đạo.
Nh́n qua lịch-sử các Tôn-Giáo lớn nhỏ ở thế-gian, chúng ta thấy các Ông Giáo-Chủ c̣n tại thế, tín-đồ đồng xu-hướng theo một tín-ngưỡng chung. Đến lúc các vị Giáo-Chủ ấy qua đời rồi, các môn-đồ, nhất là các vị kế thừa, thường hay xung-đột nhau v́ lư-tưởng, hoặc về sự giải-thích giáo-lư của Thầy Tổ theo quan-niệm cá-nhân, lần-lần xa nhau; mạnh ai nấy lập giáo, đặt ra tông nầy phái nọ.
Đạo Phật cũng v́ vậy mà ngày nay tín-đồ phải chia ra hai phái: Đại-Thừa và Tiểu-Thừa. Không được đoàn-kết nhau để biểu-dương một tinh-thần siêu-việt, lại c̣n phải sống trong cảnh thù hiềm ganh tị, làm cho Phật-Giáo mất hẳn cái căn-bản bác-ái đại-đồng.
Thế th́ hai phái Đại-Thừa và Tiểu-Thừa nào phải của Phật Thích-Ca lập ra. Muốn được bằng-cớ chứng chắc, người học Phật chân chánh nên tạm dẹp những tập-quán cổ-truyền, để t́m vào tận xứ Phật, khảo-cứu kinh sách Ấn-Độ. Chừng ấy nền đạo-giáo tối cổ sẽ phô bày cho chúng ta thấy rơ: Sử-tích đúng-đắn của vị Giáo-Chủ và giáo-lư căn-bản của Đấng Giác-Ngộ và nhất là pho lịch-sử Phật-Giáo đầy những biến chuyển không hay, do nhóm người kế-thừa gây ra để tranh giành địa-vị. Ba điều cần thiết nói trên sẽ giúp chúng ta lấp bằng hố sâu giữa hai phái tín-đồ và kết thành một đoàn-thể duy-nhất gọi là Phật-thừa.
Tài-liệu về sử-tích của Phật Gotama, về lịch-sử Phật-Giáo và Giáo-lư Nguyên-Thủy, trong cổ điển Ấn-Độ, đă được thâu-thập lần-lượt từ 20 năm nay. Lắm khi muốn viết ra sách để cống hiến đồng-bào, nhưng e-ngại tài sơ học kém. Nay nh́n lại tuổi đă già, không lẽ để chờ chết đem theo dưới nấm mồ, nên gắng gượng soạn chép ra đây, mong giúp ích các bạn tu hành trong muôn một, trong sự chọn lựa con đường tu học.
Đứng vào phương-diện trung lập, thấy sao nói vậy. Muốn nói sự thật, phải dùng lời thật. Muốn t́m sự thật, phải nghe lời thật. Bằng chẳng vậy, chớ mong gặp chân-lư.
Xin khởi nói về sử tích đại-cương của Phật-Tổ Gotama.
Về nhân-cách của Phật-Tổ hiện-tại Gotama, có nhiều thuyết khác nhau; nhưng đây xin tóm tắt lại hai thuyết thông-thường:
1. Theo thuyết thứ nhất, Phật Gotama là một nhân-vật thần-thoại, nghĩa là thuộc về truyền-thuyết hoang đường đời xưa. Thuyết nầy do kinh-điển bắc phạn (sanscrit), đầy những chuyện kỳ-lạ phi-thường, không hạp đường lối của người t́m chân-lư; tưởng không cần viết ra cho choán giấy.
2. Thuyết thứ nh́, dựa theo kinh-điển nam phạn (pali), cho rằng Phật-Tổ Gotama là một nhân-vật có thật. Sau nầy, nhờ bác-sĩ A.A. Fuhrer t́m được bia đá (tháng 12 năm 1896) của vua Asoka (A-Dục) đă dựng từ 244 trước Gia-Tô, để kỷ-niệm chỗ giáng-sanh của Phật Gotama, tại vườn Lumbini (Lâm-tỹ-ni) trong xứ Népal hiện giờ.
Theo kinh-điển và cổ-tích nói trên, Phật Gotama hẳn thật một vĩ-nhân có lịch-sử vẽ-vang.
Trước kia, Ngài là một vị hoàng-tử tên Siddhattha (Sĩ-Đạt-Ta), con Vua Sudhodhana (Tịnh-Phạn) và Bà Maya Devi (Ma-Gia), thuộc ḍng Sakya (Thích-Ca), sanh tại xứ
Kapilavastu (Ca-B́-La-Vệ), hiện nay thuộc xứ Népal, vào năm 624 trước Gia-Tô[4].
Theo phong-tục Ấn-Độ xưa kia, người phụ-nữ khi có thai nghén, gần ngày lâm bồn, phải về sanh đẻ nơi nhà cha mẹ ruột. Hoàng-Hậu Maya, gần ngày nở nhụy khai hoa, được đưa về xứ Devadhaha, là nước của vua cha tên Anjana. Ra khỏi thành Kapilavastu chẳng bao xa, đến rừng Lumbini, Bà hạ sanh được một hoàng-tử.
Vua Sudhodhana được tin, cho rước Hoàng-Hậu và Hoàng-Tử trở về Kapilavastu, làm lễ ăn mừng và đặt tên là Siddhattha.
Hoàng-Tử Siddhattha tư bẩm thông-minh, học đâu giỏi đó, nên khi lớn lên trở thành một người tài ba lỗi-lạc, văn vơ song toàn, lại thêm tướng mạo khôi ngô.
Đến năm Hoàng-Tử được 16 tuổi, vua cha muốn lập bề gia-thất cho con, bèn hỏi Hoàng-Tử: "Như con đă biết, trong xă-hội Ấn-Độ có bốn hạng người: Bà-La-Môn là ḍng đạo đức và thông thái nhất; vua chúa và quan liêu là bực anh-hùng vơ sĩ; kế đó có hạng thương-gia và cùng-dân là hạng thấp hèn hơn hết. Tùy sở-thích, con muốn kết phu-phụ với một phụ-nữ trong hạng nào, Phụ Vương cho con trọn quyền kén chọn".
Bốn hạng người nói trên rất xa cách nhau. Ḍng Bà-La-Môn và vua chúa quan liêu là sang trọng, có thể giao-kết lẫn nhau. Hai hạng ấy, nếu giao-thiệp, chung-chạ với hai hạng dưới, th́ không chi nhục-nhă bằng. Thế mà Hoàng-Tử Siddhattha thản-nhiên trả lời: "Tâu Phụ Vương, trong bốn giai-cấp xă-hội, Phụ Vương muốn chọn cho con một người nội-trợ trong giai-cấp nào cũng được, miễn là người ấy có nết-na thuần-hậu, là đủ".
Hoàng-Tử Siddhattha là ḍng vương-giả mà xướng lên cái chủ-nghĩa b́nh-đẳng như thế, làm cho Vua cha ngạc-nhiên; nhưng không ngờ rằng đó là khí-phách của một nhà cách-mạng vị-lai, đương trù-tính một cuộc giải-phóng vĩ-đại cho dân-tộc Ngài.
Sau khi kén chọn và cưới nàng Yosadhara (Gia-Du-Đà-La) cho Hoàng-Tử rồi, Vua Tịnh-Phạn-Vương mới đinh-ninh rằng con ḿnh đă được yên vui với hạnh-phúc gia-đ́nh. Nào dè sống trong ṿng vinh-hoa phú-quí, vợ đẹp hầu xinh, mà Hoàng-Tử không vừa ḷng hạp cảnh, cứ trầm-tư suy gẫm, tưởng nhớ đâu đâu.
Thấy con có tánh khác thường, Vua cha lo sợ Hoàng-Tử chán đời đi tu, như lời các đạo-sĩ tiên-tri lúc sơ sanh, nên ra lệnh ngày đêm thiết yến ca xang, cố mê-hoặc Hoàng-Tử trong đường dục lạc thế-gian. Nhưng trái lại, sau những giờ phút say mê theo ca nhạc tửu sắc, Hoàng-Tử lại cảm thấy chán nản thêm cuộc đời xa-hoa trụy-lạc, trước hoàn-cảnh gian-tân khốn-khó của nhân-dân.
Từ bé đến trưởng-thành, tuy không được trực-tiếp với đời, nhưng v́ nhờ học rộng hiểu xa, và tiêm nhiễm giáo-lư cổ đạo, nên Hoàng-Tử hay để tâm suy xét; thấy cuộc đời của Ngài càng tốt đẹp bao nhiêu, Ngài càng đem ḷng thương tưởng đến những kẻ bần cùng đói rách bấy nhiêu. Ngài cũng không vừa-ḷng với chế-độ giai-cấp bất công, khiến cho phần đông đồng-bào của Ngài lầm than, uất ức. Bọn Bà-La-Môn thâu trong tay cả văn-hóa học thuật, không chịu đem ra giáo-hóa dân-chúng. Nhóm vơ-sĩ th́ ỷ mạnh hiếp yếu, giết hại sanh linh, cướp giựt đất đai, áp-dụng chánh-sách độc-tài, để xây đắp hạnh-phúc trên xương máu đồng loại.
Lại thường ngày Hoàng-Tử hay để tâm suy gẫm về sự sanh già đau chết, và nhận thấy chính Ngài, là hạng quyền quí cao sang, cũng chẳng tránh khỏi được bốn cái khổ trọng-đại ấy.
Ḍm quanh ngó quất, Ngài chẳng thấy một ai nhận biết cái đời khổ ở thế-gian như Ngài; trái lại, người-người vẫn sống mê trong ṿng nô-lệ của ḷng tham-lam ích-kỷ, và lầm tưởng cuộc đời là vui thú. Thấy vậy, Ngài đem ḷng thương xót vô cùng những kẻ tối mê đang chơi-vơi ch́m-đắm trong biển khổ trần-ai.
Rồi Ngài thầm tính rằng: "Ta phải tự lănh lấy nhiệm-vụ:
a) Phá tan chế-độ bất công, gầy dựng đời sống đạo-đức ôn-ḥa cho xă-hội.
b) Chế-định những luân-lư cho con người biết thương yêu giúp đở lẫn nhau.
c) Và hướng dẫn nhân-loại tiến-hóa đến nơi cùng tột để giải-thoát nạn sanh già đau chết".
Từ đó, Hoàng-Tử Siddhattha ngày đêm t́m kiếm phương-pháp để thực-hành chí-nguyện.
Muốn diệt trừ giai-cấp xă-hội và đem lại hoà-b́nh hạnh-phúc cho dân gian, phải đứng ra tổ-chức một cuộc cách-mạng vĩ-đại. Ngài thấy có đủ tài đức làm công việc ấy, nhưng phải có đổ máu mới thành-công. Ngài quyết không dùng phương pháp ấy.
Lại nữa, muốn đem con người ra khỏi nạn Sanh, Già, Đau, Chết, trước nhất, người hướng dẫn phải là người hết Sanh, hết Già, hết Đau, hết Chết.
Rồi Ngài tự nghĩ: "Nếu có Sanh, tất-nhiên phải có cái không Sanh; có Già, phải có cái không Già; có Đau, phải có cái không Đau; có Chết, phải có cái không Chết. Nhưng t́m hoài chưa thấy cái không Sanh, không Già, không Đau, không Chết".
Hoàng-Tử c̣n suy nghĩ: "Sống một đời vui tươi tốt đẹp như Ta, đầy dẫy những luyến-ái t́nh-duyên, hoặc giả sống giữa chốn bần-hàn lao-khổ như đám thường dân, chan-chứa những Tham-lam, Sân-hận, Si-mê; hai hoàn-cảnh tuy khác nhau, nhưng Ta và những người chung quanh Ta vẫn ở trong ṿng cương-tỏa của sự Sanh, Già, Đau, Chết. Trầm-ngâm trong bể khổ, mà muốn thoát khổ, là một việc điên cuồng. Âu là Ta phải mau-mau chạy ra khỏi chốn mê đồ nầy, phải đi ngược triều-lưu nịch-ái của thế-gian, họa chăng mới t́m được con đường giải-thoát".
Suy nghĩ đến đó, Hoàng-Tử cương-quyết hy-sinh cả gia-đ́nh sự-nghiệp, rời bỏ cung nội, tách thân ra đi t́m đạo giải-thoát. Ngài định phải trốn cha ĺa vợ, nhưng chưa biết phải đi đâu.
Thỉnh thoảng, Hoàng-Tử ngự ra khỏi đền, trước để dọ đường đi nước bước, sau để tiếp-xúc với dân-chúng cho biết t́nh-cảnh sinh-hoạt và tâm-địa của họ ra thế nào.
Đi tới đâu cũng thấy trăm họ lầm than, vất-vả; chẳng mấy ai được nhàn-nhă ấm no. Kẻ già đói khát gầy g̣, không nơi nương tựa. Người đau la lết giữa đường, chẳng ai ra tay cứu độ. Thậm chí có kẻ chết phơi thây nơi đồng nội, làm mồi cho quà-quạ kên-kên. Những cảnh-tượng thương-tâm ấy càng thúc-giục Ngài nông chí cứu đời.
Một ngày nọ, Hoàng-Tử cũng đi dạo cảnh ngoài thành, th́nh-ĺnh gặp một đạo-sĩ du phương. Từ xa ngắm xem diện mạo, thấy người trầm-tĩnh ôn-ḥa, Hoàng-Tử lại gần làm quen han hỏi: "Chẳng hay ông xuất-gia để làm ǵ?".
"Thưa Ngài, bần-tăng thoát tục, cố ư để t́m cho thấu lẽ nhiệm-mầu của tạo-hoá, hầu dứt khỏi cái khổ ở đời, nhất là cảnh Già, Đau, Chết, mà lắm khi, có lẽ, nó đă làm xúc-động mối từ tâm của Ngài, trong khi Ngài đi dạo chơi từ thành nội đến thôn quê".
Câu trả lời của ông đạo-sĩ t́nh cờ chạm ngay vào tâm-sự của vị Hoàng-Tử thiếu-niên, khiến cho Ngài hân-hoan rước lấy, và cất giấu nơi tận đáy ḷng. Ngài cung-kính từ-tạ ông đạo-sĩ rồi lật-đật quay bước trở về hoàng-cung.
"Bấy lâu nay Ta cố t́m để giải-thoát những khổ Già, Đau, Chết, mà t́m hoài không ra. Nay khiến may-mắn gặp được người chỉ đường dắt nẻo cho Ta một cách bất-ngờ. Ấy là điềm lành chứng chắc cho Ta sẽ thành-công chẳng sai vậy". Vừa đi vừa suy-nghĩ như thế, Hoàng-Tử về tới cung nội mà không hay. Bước vào sân đền, thị-tỳ chạy ra báo-tin rằng lệnh Bà Yasodhara vừa hạ sanh được một Hoàng-Nam rất ngộ-nghĩnh phương-phi.
Tâm trí đang hăng-hái với chí-nguyện xuất-gia, cái tin lành kia làm cho Hoàng-Tử Siddhattha ngẩn-ngơ. Nét mặt đang vui tươi, bỗng chốc biến đổi như người gặp việc chẳng may. Cảm-t́nh đối với vợ con lom-lem muốn thiêu đốt chí-nguyện cao cả. Nhưng bậc trượng-phu bao giờ cũng trọng quyền-lợi đại-đồng hơn cảm-t́nh cá-nhân. Gắng gượng sửa sắc vui tươi vào thăm vợ và yêu ấp con; nhưng trong ḷng đă nhất-quyết đeo đuổi theo con đường đă vạch sẳn từ bấy lâu.
Hoàng-Tử thầm tính: "Ta chớ nên chần chờ mà hỏng cả đại sự. Ta phải cấp-tốc đào-tẩu, tạm ĺa vợ con, mong c̣n tái-ngộ trong ngày vinh-quang".
Thừa dịp yến tiệc ăn mừng lễ chào đời của ông Hoàng Rahula (La-Hầu-La), quan quân no say ngủ ṃn, nửa đêm Hoàng-Tử Siddhattha lên ngựa trốn ra khỏi thành với một bộ-hạ tâm phúc.
Đêm ấy nhằm đêm trăng tṛn (rằm tháng 6 năm Mẹo), là năm Hoàng-Tử Siddhattha vừa được 29 tuổi. Dưới bóng trăng thanh, hai thầy tṛ dung ruổi, trực chỉ vào núi Hy-Mă-Lập-Sơn. Đến giữa rừng xanh, trời vừa rạng đông, Hoàng-Tử g̣ cương xuống ngựa, cởi y phục trang sức giao cho người bộ-hạ trung-thành, dạy đem về tâu lại cho Vua Cha cớ sự và kính lời ân-xá lỗi-ngh́, tạm-biệt một thời-gian, khi thành-công đắc-quả sẽ trở về báo-đáp ơn sanh-thành dưỡng-dục.
Từ nay, Hoàng-Tử Siddhattha đắp ḿnh bằng một manh vải nâu ṣng, trở thành một vị đạo-sĩ gọi là Sa-Môn Gotama (Cồ-Đàm), đội tuyết, giầm sương, hành khất xin ăn, lên ải xuống đèo, chẳng nài lao khổ, quyết t́m cho được minh sư học đạo. Nghe đâu có thầy giỏi, chẳng quản đường sá cam go, hiểm trở, lướt bụi tuôn rừng, đến tận nơi xin nhập môn tu học. Thọ giáo hành đạo một thời-gian với đôi ba vị danh-sư, nhưng rốt cuộc Ngài nhận thấy chưa có vị nào thông suốt hơn Ngài. Rủn chí mỏi ḷng, ông Sa-Môn Gotama mới tách ra, một thân một ḿnh, t́m nơi thanh vắng, ngồi trầm tư mặc tưởng, cố t́m siêu-thoát khỏi nẻo Sanh, Già, Đau, Chết.
Một đêm kia, nhằm đêm rằm tháng tư năm Dậu, Sa-Môn Gotama ngồi tham-thiền nhập-định, dưới cội Bồ-Đề tại xứ Gaya, gần sông Neranjara (Ni-Liên), thoạt-nhiên ngộ được mối huyền-vi của vũ-trụ. Giữa canh một, Ngài hồi-quan minh-sát những đời quá-khứ của Ngài, Tuệ-giác th́nh-ĺnh bật mở như muôn đạo hào-quang, nên Ngài thấu rơ trong vô lượng tiền-kiếp luân-hồi. Ngài sanh nơi đâu, làm chúng-sanh ở giới nào, cha mẹ vợ con là ai. Đắc được Giác nầy, sách gọi là Pubbenivasanusatinăna (Túc-Mạng-Minh).
Qua canh hai, Ngài dùng Tuệ-giác soi cùng khắp cả ba giới bốn loài, Ngài thấy chúng-sanh bị trầm-luân trong sáu nẻo luân-hồi bởi nghiệp-lực lôi kéo. Đắc được Giác thứ hai nầy, sách gọi là Cutũppatanăna (Thiên-Nhăn-Minh).
Qua canh ba[5], Ngài dùng Tuệ-giác, quan-sát đời sống của chúng-sanh, Ngài phát-minh được Pháp Catuăriyasacca (Tứ Diệu Đế), là bốn điều chân-thật, chỉ rơ luật Sanh Tử Luân-Hồi. Đắc được Giác thứ ba nầy, sách gọi là Asavakkhayănăna (Lậu-Tận-Minh).
Tự ḿnh chứng được ba cái Minh ấy, Sa-Môn Gotama nghiễm-nhiên thành bậc Chánh-Đẳng Chánh-Giác, tức là thành Phật.
Từ khi bỏ lầu son gác tía, ra đi tới ngày đạo đầy quả đủ, tính lại sáu năm khổ hạnh, giữa chốn non cao rừng thẳm, với bao nhiêu đói lạnh, trong cảnh màn trời chiếu đất, Bồ-Tát Siddhattha đă được toại kỳ sở-nguyện.
Diệt tận Vô-Minh Phiền-năo, giải-thoát khỏi bể-khổ trần-ai, khỏi ṿng Sanh Tử Luân-Hồi, từ nay Đấng Giác-Ngộ có đủ uy-đức thần-lực để trở về cảm-phục và hướng-dẫn quần sanh trên đường yên vui hạnh-phúc.
Ra khỏi rừng già, trọn 45 năm, Phật Gotama châu du cùng khắp mọi nơi, tận-tụy d́u-dắt chúng-sanh thực-hành chủ-nghĩa: Từ-bi Bác-ái, Tự-giác Giác-tha.
Dùng những lời lẽ chân chánh, êm dịu, đánh-thức dân-gian trong giấc mê mộng, được nhiều người sùng bái ca tụng, nhiệt-liệt nghe theo. Các nhà tu-sĩ đều bỏ thần-quyền mê-tín, theo về với chân-lư. Các bực vua chúa quan liêu đều biết ghê sợ nhân-quả báo-ứng, hết bạo-ác tham-tàn. Dân-chúng khép ḿnh trong khuôn-khổ luân-thường đạo-đức. Nhờ vậy mà những chế-độ bất-công lần-lần được sửa đổi theo nhân-đạo, và người-người được sống một cuộc đời an-ổn nhu-ḥa. Đi đến đâu, Nhà Lănh-Đạo gieo rắc hạnh-phúc đến đó.
Trọn đời hy-sinh, mệt nghỉ, khỏe đi, nhẫn-nại đi hoài; đi để an-ủi những kẻ lầm-than số-phận bần-cùng đói khổ; đi để dập tắt lửa khổ cho đám người làm nô-lệ cho ḷng tham-lam ích-kỷ; đi để khuyên-nhủ chúng-sanh bỏ dữ theo lành, vun bồi đạo-đức; đi để khai-sáng cho kẻ mê-lầm theo yêu-thuật tà-giáo và hướng-dẫn những bậc thiện-căn mạnh tiến trên đường giác-ngộ.
V́ thương xót chúng-sanh mà Phật Gotama chẳng quản đến tuổi già sức yếu. V́ quá tận-tụy với chủ-nghĩa cứu nhân độ thế, mà phải ṃn hơi kiệt lực; nên giữa đường thọ bệnh nan y. Trên giường bệnh, Ngài vẫn tươi tỉnh giảng giải đạo-lư đến giờ phút cuối cùng.
Nằm trên một tảng đá, dưới bóng hai cây cổ thụ, trong vườn thượng-uyển của Vua Malla, tại xứ Kusinara, Phật Gotama quên đau khổ v́ bệnh, thức trọn cả đêm trăng tṛn tháng Wesak[6], ân cần nhắc nhở tăng chúng những phương pháp tự tu tự độ, tự giác giác tha, cho đến rạng đông, Ngài để lời di chúc tối hậu: "Sau khi Như-Lai nhập-diệt, các con chớ nên Dễ-Duôi, phải lấy Giới-Luật làm nền-tảng trong sự Tu-Hành Giải-Thoát".
Rồi Ngài vĩnh-biệt môn sanh, thở hơi cuối cùng[7].
Nghĩa-vụ thiêng-liêng, trọn kiếp đă xử tṛn, Nhà Cách-Mạng đă hóa người thiên cổ.
Nhờ chí-nguyện cao-cả mà Phật Gotama đă làm được những sự-nghiệp kinh-thiên động-địa, khiến cho ai nghe đến cũng nghiêng ḿnh kính phục.
Một gương hy-sinh cùng tột, một Đức Từ-Bi Vô-Lượng, thật xứng với câu: "Thiên Thượng Thiên Hạ Duy Ngă Độc Tôn".
Giáo-pháp của Phật Gotama tuy xuất-hiện tại Ấn-Độ gần 2500 năm nay, mà vẫn được lưu-truyền trong năm châu bốn biển, và hiện giờ có cả 600 triệu tín-đồ sùng bái ngưỡng-mộ.
-ooOoo-
II - Lịch sử Phật-Giáo
Chương này góp nhặt những biến chuyển tồi tệ đă xảy ra sau khi Phật Gotama nhập Niết-Bàn.
Phật tịch vừa bảy ngày, đă phát-sanh triệu-chứng suy-đồi. Số là khi Phật đi hóa độ về miền Kusinara, Đại-Đức Kassapa (Ca-Diếp) cũng dắt 500 đồ-đệ theo về hướng ấy. Khi đi gần đến Kusinara, trong lúc dừng chân nghỉ mát, Đại-Đức Kassapa được tin người đi đường cho hay rằng Phật Gotama đă nhập diệt được bảy hôm rồi. Ngày ấy là ngày đức Vua Malla cử-hành lễ trà-tỳ[8]. Khi hay tin Phật đă tịch diệt, các thầy tỳ-khưu khóc lóc, thương tiếc Đức Thầy. Trong ấy có một người lăo niên xuất-gia, tên Subhată, đứng ra khuyên giải: "Nầy chư huynh-đệ, chớ nên buồn thảm làm chi, hôm nay Đức Thầy Gotama đă hóa ra người thiên cổ rồi, chúng ta không c̣n ai thắc-mắc la rầy và bó buộc trong chế-độ nghiêm-khắc quá lẽ. Chúng ta sẽ được tự-do hành-động, ấy là một điều hạnh-phúc, các bạn thương-tiếc nỗi ǵ mà khóc than".
Đại-Đức Kassapa nghe được rất lo ngại cho tiền-đồ Phật-Giáo. Tuy không nói ra, chớ cũng lập tâm duy-tŕ Chánh Pháp, không cho hư-hoại, nên sau khi dự lễ trà-tỳ và chia Xá-Lợi rồi được bốn tháng, Ngài triệu-tập các vị Thinh-Văn Đại A-La-Hán tại thành Răjagaha (Vương-Xá) để ôn cố các lời giáo-huấn của Đức Thế-Tôn, hầu nhắc-nhở Tăng-chúng hành theo, gọi là Hội-nghị Kết-Tập Pháp Bảo lần đầu tiên[9].
Một trăm năm sau, tại xứ Vesali (Tỹ-Xá-Lị), có một nhóm thầy Tỳ-Khưu gọi là nhóm Vajjiputta sanh tâm sửa đổi 10 điều luật của Phật. Trong 10 điều sửa đổi ấy, có hai điều quan trọng: Phật dạy các thầy Tỳ-Khưu không được thọ thực lúc quá ngọ và không được cảm xúc hoặc thọ lănh tiền bạc châu báu. Các thầy Vajjiputta sửa lại: Dầu quá ngọ, các thầy cũng c̣n ăn được, và nếu có ai cho tiền bạc, các thầy được tự-do thọ lănh.
V́ vậy mà hiện nay, các thầy tu theo bọn Vajjiputta có thể ăn chiều, ăn tối, ăn khuya và tích-trữ tiền bạc, thâu góp lúa ruộng để tự-ư tiêu xài. Nếu biết trọng giới-luật, th́ các thầy Tỳ-Khưu chỉ được phép ăn trong khoảng từ mặt trời mọc đến đứng bóng thôi, và không được cất giữ vật thực để dành ngày mai. Tiền bạc cũng chẳng được rờ đụng, huống hồ là thọ lănh.
C̣n tám điều sửa đổi khác về sự cất giữ đồ ăn như muối; ăn nơi nầy rồi c̣n đi ăn nơi khác; ở chung một chùa mà làm lễ phát lồ riêng theo bè đảng; không chịu chờ đợi cho đủ mặt tăng-chúng để sám-hối tội lỗi; hành đạo theo thói quen không kể kinh-luật; uống rượu non chưa đúng chữ; ăn rồi mà c̣n đi kiếm sữa nguội để uống thêm; dùng tọa cụ không đúng thể-thức của bậc tu-hành. Các điều sửa đổi nói trên, tuy không mấy trọng yếu, chớ cũng là một khởi điểm trên bước đường trụy-lạc của nhóm Tăng-Đồ bất lương, khiến cho đoàn hậu tấn phải chịu ảnh-hưởng tối đen đến ngày nay, mà mấy ai biết được nguyên do.
Đại-Đức Yassa thấy vậy, sợ Phật-Pháp suy đồi, nên triệu tập Hội-Nghị Thánh-Tăng tại Vesali (Tỹ-Xà-Lị) để kết tập kinh-luật kỳ nh́, và thảo-luận 10 điều sửa đổi của bọn Vajjiputta. Chư Tăng bác bỏ,không công-nhận 10 điều phi pháp ấy, nhưng bọn Vajjiputta không chịu tuân theo.
Sự chia rẽ Tăng-Đồ bắt đầu từ đây. Phái Đại-Đức Yassa gồm cả các vị Thánh-Tăng và Phàm-Tăng chân chánh, cố ǵn giữ nguyên-vẹn và thực-hành kinh-luật của Phật di truyền, gọi là phái Theravada (Bảo-Thủ). Phe các thầy Vajjiputta, tự đem ḿnh ra khỏi hệ-thống Tăng-Già, mạnh ai nấy tự-do canh-cải kinh-luật; lần-lần họ lập ra chế-độ riêng tư, phân phái nhiều tôn-chỉ khác nhau. Các nhóm nầy gọi chung là phái Acariyavadă (Tân-Tiến).
Y như lời tiên-đoán của Đại-Đức Yassa, sự sửa đổi 10 điều luật của bọn Vajjiputta đưa Phật-Pháp lần-lần đến chỗ suy vong. Cho nên xứ nào bị ảnh-hưởng của bọn tà-sư phản-bội Vajjiputta truyền-thống lưu-lai, th́ h́nh-thức và chế-độ Tăng-Già[10] chẳng c̣n một mảy may nào giống theo khuôn-khổ chế-định của Phật-Tổ Gotama.
Giới-luật sửa đổi được, đến kinh pháp cổ-truyền họ cũng phế bỏ, để theo về với triết-lư huyền học của Bà-La-Môn giáo; và t́m những lư lẽ biện-hộ cho sự hư-hỏng trụy-lạc của họ, nào là cố-chấp giới-luật là hạ-căn ngu-xuẩn[11]; tự ḿnh chưa được độ, mà trước nhứt phải lo độ người[12], dụng huyễn độ chơn[13]. Tóm lại, họ thiên về đường ngụy-biện, luận giải triết-lư cho nhiều, mà chẳng bày được cho người đời một đạo chánh-đáng để cầu sự giải-thoát. Họ cố khuyến-khích tín-đồ ỷ-lại nơi thần quyền, cúng tế cầu-đảo, phú thác tương-lai cho những tha-lực mù mờ.
Phái Tân-Tiến của bọn Vajjiputta chia nhau đi truyền bá học thuyết sai lạc trong các nước thuộc miền Bắc Ấn-Độ, lần-lần đến Tây-Tạng, rồi sang qua Cao-Ly, Trung-Hoa, Nhật-Bổn. Các nhà sư đến đâu, tùy theo sự tín-ngưỡng và phong-tục của mỗi xứ, chế-biến thêm bớt kinh-luật cho tiện bề thâu-thập tín-đồ. Khi truyền-bá đến Tây-Tạng, các thầy thâu thập thêm môn phù chú, qua Trung-Quốc gia-nhập Đạo-giáo, Khổng-giáo làm ra Tam-giáo hiệp nhất là Nho-Thích-Đạo[14].
Nhờ hai chữ "phương-tiện", họ qui-tụ được tín-đồ đông đầy, nên phái Tân-Tiến tự cho họ cái danh-hiệu là Mahayana (Đại-Thừa).
Đây nói qua phái Theravadă (Bảo-Thủ) từ khi chia rẽ ra hai phái, và thấy phái Tân-Tiến tràn lan lên miền Bắc Ấn-Độ, họ lại đi truyền-bá về phương Nam, để tránh sự xung-đột, lần-lần sang qua Lăn-Ca, Thái-Lan, Miến-Điện, Ai-Lao, Cao-Miên.
Nhân mỗi phái đi mỗi hướng, nên có chỗ gọi phái Tân-Tiến là Bắc-Tôn, phái Bảo-Thủ là Nam-Tôn.
Phái Bảo-Thủ, v́ trung-thành với giáo-pháp của Phật Gotama, lo nghiêm-tŕ giới-luật, ǵn giữ cổ-điển để bảo-tồn Phật-Pháp, mà nghiêm-tŕ giới-luật là một điều phiền-phức khó-khăn[15], nên chẳng mấy ai theo nỗi cho bền bỉ. V́ vậy mà sự hoằng-dương không được mau chóng, số Tăng-Đồ và Tín-Đồ rất ít. Nhân đó, phái Tân-Tiến mới đặt cho phái Bảo-Thủ cái danh-hiệu là Hinayana (Tiểu-Thừa)[16] cố-ư để khinh-bỉ và thường hay kích-bác chê bai, cho phái Bảo-Thủ là ích-kỷ nhị thừa[17].
Từ khi hai bên chia rẽ nhau, phái Bảo-Thủ t́m nơi thuận cảnh, ẩn náu chuyên lo tu niệm giải-thoát, không quan-tâm đến hành-vi của bọn Vajjiputta. Cho nên mặc dầu bọn nầy nổi lên công-kích dữ dội nhóm của Đại-Đức Yassa, họ vẫn không hay biết, hoặc có hay biết đi nữa, cũng nhịn-nhục giả lơ điếc, một mực giữ phận bảo-tồn Chánh pháp bằng sự thực-hành y theo Tam Tạng Pháp-Bảo của chư Thinh-Văn La-Hán kết-tập.
Trong phái Tân-Tiến của bọn Vajjiputta, có nhóm thiên về Luật, có nhóm thiên về Kinh, phần đông lại thiên về Luận.
Những nhóm tu theo Kinh, theo Luật có lẽ v́ quen theo đường lối cũ trước ngày chia-rẽ, hoặc kém tài năng, nên sau lại bị các thầy chuyên về Luận khinh-bỉ, liệt họ vào hàng Tiểu-Thừa, hoặc Trung-Thừa, c̣n các thầy th́ tự xưng là Đại-Thừa, hoặc Tối-Thượng-Thừa.
Sự chia-rẽ nầy phát-sanh trong chỗ đua nhau lập giáo đặng tranh-giành quyền-lợi cùng uy-tín của tín-đồ.
Nhờ thiên-tài xuất-chúng, học thức uyên-thâm, các Luận-sư chuyên giải những pháp sâu xa bí-ẩn, lạm-dụng những giả-thuyết hư huyền của Bà-La-Môn Giáo, gây ra một cuộc đấu tài luận biện giữa phái Tân-Tiến, chẳng khác nào một trận trường-kỳ luận chiến: Thầy tṛ nối tiếp nhau, đời nầy qua đời nọ, truyền-bá ca tụng đạo pháp ḿnh và chỉ-trích mạt-thị giáo-lư đối lập.
Cuộc luận-chiến giữa các nhà sư Ấn-Độ kéo dài từ thế-kỷ thứ I đến thế-kỷ thứ IV (Kỷ nguyên nầy) th́ chấm-dứt, dường như hết tác-giả biệt-tài. Giữa thời-kỳ nói trên (thế-kỷ thứ II), nhờ có vua Yuetchi Kaniska xứ Purusapuri sùng mộ Phật-Giáo, dục ḷng chư tăng chỉnh-đốn kinh sách, nên các ngài gom tất cả những tác-phẩm của các vị Tổ-Sư ba phái kết tập làm Tam-Tạng Pháp-Bảo Tân-Tiến. Sự kết tập nầy là lần đầu-tiên mà cũng là lần chót. Thiệt ra, chẳng phải là một sự kết tập Pháp-Bảo của Phật-Tổ Gotama, như hai kỳ Hội-Nghị của các bậc Thánh-Tăng "vô học" do Đại-Đức Kassapa và Yassa triệu tập. Đây chỉ là một sự thu-thập những tác-phẩm về Kinh Luật Luận của các thầy Tân-Tiến trong ba phái viết ra làm nền tảng cho đạo giáo của họ.
Khi Phật-Giáo Tân-Tiến được truyền-bá qua Trung-Hoa lại có thêm nhiều vị Tổ-Sư khác ra đời lập giáo. Các ngài canh-cải tôn chỉ Tân-Tiến Ấn-Độ theo phong-tục tập-quán người Tàu, viết ra nhiều bộ kinh luận mới, được liệt vào Tam-Tạng Tân-Tiến đă phiên dịch ra Hán văn. Tam-Tạng nầy không nhất-định rằng mỗi tạng có mấy bộ, mỗi bộ có mấy pháp-môn, mỗi pháp-môn có mấy chữ như Tam-Tạng Bảo-Thủ. Thành ra sau nầy có vị Tổ-Sư nào viết ra bao nhiêu kinh luận đều được liệt vào Pháp-Bảo; v́ đó mà sau lại, ngoài kinh luật luận sanscrit (bắc phạn) của các vị Tổ-Sư Ấn-Độ, trong phái Tiểu, Trung, Đại-Thừa viết ra, người ta tự-tiện thêm vào những tác-phẩm chữ Hán của các vị Tổ-Sư Trung-Hoa và Nhật-Bổn. Tam-Tạng Tân-Tiến không có số kinh luật luận nhứt-định như Tam-Tạng Bảo-Thủ, dầu cho có hạn-định cũng tùy số kinh sách thu góp trong thời kỳ soạn giả in ra, chẳng phải do nơi Hội-Nghị Tăng chúng nào quyết-nghị cả, bởi Tân-Tiến kết tập có một lần một, trong thế-kỷ thứ II tại xứ Purusapuri (Ấn-Độ) như đă nói trên.
Kinh sách ba Thừa đă kết-tập làm một Tam-Tạng, thành ra Phật-Giáo Tân-Tiến gồm cả Tiểu-Thừa, Trung-Thừa và Đại-Thừa. Hiện giờ, Tiểu-Thừa và Trung-Thừa không c̣n kế tự nên Đại-Thừa hưởng trọn gia-tài triết-lư ba Thừa, như con một của ba ḍng.
Trong khi thừa nhận giáo-lư của hai phái Hạ-thừa làm của chung cho nền đạo giáo ḿnh, Tăng-Đồ Đại-Thừa Trung-Hoa và Nhật-Bổn vẫn giữ cái qui-luật cũ của các vị Tổ-Sư Ấn-Độ Tân-Tiến, là tiếp-tục chê bai, khinh-thị các phái đàn em, để nâng cao giá-trị ḿnh. Nghĩ lại cũng hổ thầm; hổ v́ ḿnh không đủ tư-cách làm anh cả trong gia-đ́nh. Đă giành phần làm anh, lại được hưởng trọn gia-tài sự-nghiệp, c̣n ức hiếp nỗi ǵ, mà phải lên giọng cho ra người khiếm-nhă, trong khi chẳng bị ai biếm nhẽ hoặc tranh-giành ngôi thứ Đại-Thừa của ḿnh. Chỉ v́ chỗ các vị Tổ-Sư tự nhắc ḿnh lên cao và có lẽ cũng tự thấy cái cao của ḿnh không ai công-khai thừa-nhận, hoặc trong khi lên giọng chê đùa đàn em mà chẳng thấy ai dĩ-hơi phản-đối, họ tự thấy bị khinh ngầm mà sanh tâm thù-hiềm ganh-ghét chăng? Tiếc một điều là trong mấy thế-hệ, từ trên tới dưới, chẳng ai biết tông chi tộc phái của gia-đ́nh Phật-Tử, cứ gây ra mầm chia rẽ với đàn em, không người kế-tự.
Phật-Giáo Đại-Thừa gồm các phái sau đây:
* Tiểu-Thừa Tân-Tiến:
- Vaibhăshika (Câu-Xá-Tông) - Ấn-Độ
- Sautrăntika (Thành-Thật-Tông) - Ấn-Độ
- Vinaya (Luật-Tông) - Ấn-Độ.
* Trung-Thừa Tân-Tiến:
- Madbyamika (Tam-Luận-Tông) - Ấn-Độ
- Vijnănavada, hay là Yogăcăra (Duy Thức, hay Pháp Tướng Tông) - Ấn-Độ.
* Đại-Thừa Tân-Tiến:
- Avatamsaka (Hoa-Nghiêm-Tông) - Ấn-Độ
- Dhyana (Thiền-Tông) - Ấn-Độ
- Thiên-Thai-Tông - Trung-Hoa
- Chơn-Ngôn-Tông - Trung-Hoa
- Tịnh-Đô-Tông - Trung-Hoa
- Chơn-Tông - Trung-Hoa
- Pháp-Hoa-Tông - Nhật-Bổn.
Trong khi Tân-Tiến tranh-giành nhau lập giáo và chia Thừa, nhóm Bảo-Thủ cố duy-tŕ nền đạo pháp Nguyên-Thủy của Phật-Tổ Gotama di truyền. Nếu cần phải đặt nhóm Bảo-Thủ trong một thừa nào, th́ có thể gọi nhóm ấy là nhóm Phật Thừa.
* * *
Cũng đồng là môn-đồ Phật-Giáo, mà Tân-Tiến và Bảo-Thủ thờ hai chủ-nghĩa khác nhau một trời một vực:
* Tân-Tiến thực hành theo tôn-giáo đa thần, thờ Phật Di-Đà, Quan-Âm, Thế-Chí, Ngọc-Hoàng, Diêm-Chúa, Địa-Tạng, Quan-Công, Tiêu-Diện, Hộ-Pháp, v.v..., ưa thích triết-lư huyền-ảo, lấy sự ăn chay[18] làm trọng, lấy Tam-Tạng Bắc Phạn (sanscrit) và Hán-văn làm nền tảng.
* Bảo-Thủ chủ-trương chống thuyết vô thần, chỉ nh́n Phật Gotama là Giáo-Chủ, chú-trọng về giới-luật, căn-cứ vào Tam-Tạng Nam Phạn (Pali).
Tam-Tạng nầy khác hẳn với Tam-Tạng Tân-Tiến về mọi phương-diện:
I. Xưa kia, Phật-Tổ Gotama dùng toàn tiếng Magadha, là tiếng phổ-thông trong thời-kỳ ấy, nên sau lại chư Thánh-Tăng kết-tập dùng thứ tiếng ấy, đến khi chép ra cũng dùng thứ chữ phổ-thông là chữ Pali của xứ Magadha, chớ không có dùng chữ sanscrit; chữ nầy là chữ của ḍng Bà-La-Môn giữ độc-quyền xử-dụng.
II. Kết-tập nhiều lần, mỗi khi có triệu-chứng suy-đồi hoặc có sự biến-chuyển quan-trọng có thể làm sai lạc Chánh Pháp:
1. Lần thứ nhất, 3 tháng sau khi Phật nhập Niết-Bàn, do 500 vị A-La-Hán, tại Rajagaha (Vương-Xá);
2. Lần thứ nh́, 100 năm sau khi Phật nhập Niết-Bàn, do 700 vị A-La-Hán, tại Vesali (Tỹ-Xá-Lị);
3. Lần thứ ba, 218 năm sau khi Phật nhập Niết-Bàn, do 1000 vị A-La-Hán, tại Patalliputta, hiện giờ là Patna;
4. Lần thứ tư, 514 năm sau khi Phật nhập Niết-Bàn, do 500 vị Thượng Tọa Tích-Lan, tại Malaya. Lần nầy, Hội-Nghị kết-tập Tam-Tạng quyết-định viết ra trên lá thốt-nốt.
5. Lần thứ năm, 2414 năm sau khi Phật viên tịch, do 2400 vị Tỳ-Khưu Miến-Điện, tại Mandalay, và khắc trọn bộ Tam-Tạng trên 729 bia đá cẩm thạch. Hiện giờ tại Rangoon, 2500 vị Tỳ-Khưu trong hoàn-cầu đang kết tập Tam-Tạng cho tới ngày kỷ-niệm năm thứ 2500 của Phật-lịch (là 2500 năm sau khi Phật nhập Niết-Bàn) cho hoàn-thành. Ngày ấy định vào tháng 5, năm 1956, vía Phật nhập Niết-Bàn.
III. Tam-Tạng Pali toàn là Phật ngôn do chư vị Thánh Tăng thuộc nằm ḷng, đọc lại trong 3 kỳ kết tập đầu, đúng theo số pháp-môn, theo số chữ, và theo thứ-tự nhất-định của Hội-Nghị thứ nhất. Đến lần thứ tư, chư Tăng nhận thấy đạo quả Tứ-Thánh lần-lần giảm bớt, sợ Phàm Tăng không đủ trí huệ nằm ḷng tṛn đủ Tam-Tạng, nên viết ra bằng chữ, để ngày sau dễ bề ḍ xét, khi có kết-tập, hầu tránh sự canh-cải của các nhà sư trụy-lạc.
Các lời chú-giải của Chư Vị A-La-Hán cũng viết ra chữ, nhưng không được liệt vào Tam-Tạng Pháp-Bảo, cho nên dầu có ông Tăng nào nuôi mộng lập giáo, làm Tổ-Sư cũng không thể được.
* * *
Tân-Tiến và Bảo-Thủ chia rẽ nhau về hai phương-diện: Tôn-Giáo và Triết-Lư.
Tôn-giáo:
Phật giáo Nguyên-Thủy chẳng đề-cập đến thần-linh, Tạo-hóa. Phật Gotama chẳng hề dạy đệ-tử thờ một thần-linh nào cả. Bỏ tục-lệ thờ cúng, tức là không nh́n-nhận thuyết thần-học của Bà-La-Môn Giáo, là thuyết chuyên dạy về sự cúng tế thần-linh. Đức-Phật cũng chẳng hề đặt ḿnh vào để thay thế cho vị thần-linh nào và cũng không bắt buộc tín-đồ thờ Ngài.
Trước giờ nhập diệt tại Kusinara, nhân có đủ hạng trời và người nô-nức đến thành-tâm lễ bái cúng dường Thế-Tôn, Ngài mới kêu Ông Ananda lại di-chúc rằng: "Nầy Ananda, sau khi Như-Lai diệt độ rồi, sẽ có những người thương tưởng Như-Lai bằng cách sùng-bái chiêm-ngưỡng trọng-thể như hiện-giờ. Tôn-kính Như-Lai như thế ấy, chẳng gọi tôn-kính bằng cách cao thượng đâu. Nầy Ananda, Tỳ-Khưu, Tỳ-Khưu Ni, Thiện-nam, Tín-nữ nào cố tâm thực-hành đúng-đắn theo giáo-pháp của Như-Lai, ấy mới gọi là tôn-kính Như-Lai bằng cách cao-thượng vậy".
Thuở ấy, có nhiều người đinh-ninh rằng Bậc Chánh-Đẳng Chánh-Giác chẳng bao giờ chết, nên sau khi hay tin rằng Đức-Phật đă định ngày giờ nhập diệt[19], họ lấy làm ngạc-nhiên, t́m đến hỏi Phật: "Bạch Đức Thế-Tôn, Ngài là Bậc Hoàn-Toàn Giác-Ngộ, mà Ngài cũng không thoát khỏi tay tử-thần hay sao?" Phật đáp: "Nầy các con, những cái chi đă sanh th́ phải diệt là lẽ thường".
Bởi cớ ấy, phái Bảo-Thủ xem Đức-Phật như một người đă tiến-hoá đến mức cùng-tột, cao cả hơn loài người và chẳng hề tôn-phong Ngài là bậc Thần. Nhưng đây chỉ nói về phương-diện học lư. Về mặt thực-hành, phái Bảo-Thủ cũng không tránh khỏi sự thờ-phượng Đức-Phật Gotama và để Ngài chiếm cả gầm trời Phật-Giáo. Ư nghĩa sự thờ cúng Đức-Phật bằng nhang đèn và các thứ bông hoa, chẳng ngoài sự biết ơn đối với vị Tổ-Sư. Kim thân Phật đối với phái Bảo-Thủ là tượng trưng của Đức Từ-Bi Bác-Ái, nên họ không tưởng rằng sự tôn thờ vị Giáo-Chủ của họ là trái nghịch với giáo-lư vô thần.
Đi ngược với giáo-lư vô thần, chính là phái Tân-Tiến. Phật-Tổ Như-Lai không tự xưng là một vị thần, v́ đó mà phái Tân-Tiến chẳng hề tạc tượng thờ Ngài[20]. Trái lại, họ thờ chẳng biết bao nhiêu Phật quá-khứ, vị-lai, Bồ-Tát và những thần-linh mà họ cho rằng có quyền sửa đổi số mạng, ân xá tội lỗi và cứu vớt họ về nơi Cực-Lạc. Tưởng Phật cũng như thần-linh, nên họ cúng tế đủ thứ chè xôi, bánh trái, cơm nước và tiêu phí chẳng biết bao nhiêu giấy tiền vàng bạc. Hằng năm, họ gởi trước vào ngân khố của Diêm-Vương cả vạn ức đồng "văng sanh", mong ngày kia dùng thế-lực kim-tiền để trông-cậy thần-linh sửa đổi luật nhân quả. Phải chăng, trước khi vong kỷ độ tha, đầu tiên phải cầu thân cho có tha-lực gia-hộ?
Phật Gotama dạy những phương-pháp tự độ, chẳng bao giờ hứa độ ai. Ai khôn cứ tự đi theo con đường của Ngài đă vạch sẵn, th́ ngày kia họ sẽ đến chỗ giải-thoát. Bằng chẳng vậy, Ngài cũng không có quyền lực nào cứu vớt ra khỏi luân-hồi. Thế th́ cầu Ngài và thờ Ngài, mà chẳng hành theo giáo pháp của Ngài, tưởng cũng vô-ích. Lúc Ngài c̣n tại thế, nhiều môn-đệ đă không ưa, v́ Ngài nghiêm minh quá lẽ. Sau khi Ngài viên tịch, họ cố quên Ngài. Trách sao ở Ấn-Độ, là nơi Ngài ra đời khai đạo, chẳng c̣n mấy ai tưởng nhớ đến Ngài. Các chùa Tân-Tiến không thờ Ngài cũng không ngoài lẽ nói trên. Không thờ, mà các thầy Tân-Tiến c̣n viết sách bịa đặt rằng những sự canh-cải của họ, những sự thờ cúng Ông Phật nầy, Bà Phật nọ, đều do nơi lời chỉ dạy của Phật Gotama[21].
Như chữ Buddha (Phật Đà), theo lập-thuyết của Tân-Tiến là tuệ-giác trường-tồn, ứng-hiện mọi nơi, biến hoá vô cùng trong thời-gian và không-gian; khi biến làm Ông Phật nầy, lúc hoá ra vị Bồ-Tát nọ. Hơn nữa, Phật là người đă thành; chúng-sanh sẵn có Phật tánh, nên ai ai cũng sẽ thành Phật[22]. Trong thời-gian qua rồi và sẽ đến, ắt có vô-số người thành Phật. Bởi đó nên Tân-Tiến lập ra một vạn thần miếu, thờ đủ Phật quá-khứ vị-lai. Phật vị-lai chưa ra đời, mà họ cũng tạo tượng thờ và đặt ra những kinh sám, ngày vía, ngày giỗ.
Ngoài các vị Phật, các vị Bồ-Tát, họ c̣n thờ các vị Dhyăni Buddhas (Thiền-Na-Phật) là những vị Phật do các ông Thiền-Sư trừu-tượng trong lúc công-phu hành đạo. Người ta c̣n ức-đoán rằng mỗi vị Phật, có một vị Thiền-Na đối ứng, như Phật Amitabha (Di-Đà) là Thiền-Na của Phật Gotama vậy. Người ta c̣n đặt ra một ngôi cao cả hơn nữa là Adi-Buddha (Bố-Di-Sơ Phật)[23] để tế-độ quần-sanh.
Nhờ thuyết ấy, một lúc nọ Tân-Tiến trở-thành nhất thần-giáo, trong một thời-gian, rồi v́ tập-quán cũng huờn trở lại Đa-Thần Giáo đến ngày nay.
Các Vị Phật quá-khứ, vị-lai, Thiền-Na, Bồ-Tát và Bồ-Di-Sơ Phật nói trên thuộc về trừu-tượng phi-thường, chẳng phải như Phật Gotama, là một Vị Phật có thật.
Chữ Buddha theo Bảo-Thủ là một danh-từ phổ-thông dành riêng cho các Vị Chánh-Đẳng Chánh-Giác ba đời, và nhất là để chỉ danh-hiệu Phật-Tổ Gotama, là bậc thông thấu lư Tứ-Diệu-Đế mà Ngài đă đem ra giáo-hoá chúng-sanh.
* * *
Danh-từ Bodhisatta (Bồ-Tát hay Bồ-Đề Tát-Đỏa), theo Tân-Tiến, có nhiều nghĩa:
Tự ḿnh chưa được độ, trước đă độ người, đây là tôn-chỉ của Bồ-Tát. Những người mê đạo, đều nhiệt-liệt hoan-nghinh chủ-nghĩa cao-thượng nầy, và cương-quyết thệ-nguyện giữ hạnh Bồ-Tát, mong ngày kia làm Phật-Tổ Như-Lai. Kẻ có óc suy-nghĩ, lại rụt-rè trước bổn nguyện vĩ-đại ấy. Đă vậy mà họ c̣n bướng-bỉnh mỉa-mai: thân nầy chưa độ, mong độ thân nào? Lời nói vừa nghe qua, thấy nó thấp hèn ích-kỷ làm sao; nhưng nó bắt buộc suy-nghĩ. Và sau khi để ư ḍm ngó những người tu hạnh Bồ-Tát, từ bậc xuất-gia đến hàng cư-sĩ, rơ lại họ năng thuyết bất năng hành. Các nhà sư c̣n phải lo tu, lo học chưa xong, lâu lâu họ giảng cho một thời kinh, một câu kệ để trả nợ áo cơm cho tín-đồ. Nhiều khi những lời đạo đức của họ không đi đôi với việc làm của họ là khác.
Về phần tín-đồ th́ khỏi nói. Cha mẹ vợ con, gia-đ́nh và thân sống của họ, họ độ không rồi, mong ǵ độ ai. Ngoài đời, họ vẫn c̣n phải chạy theo danh-lợi quyền-tước; vào chùa, họ c̣n ỷ lại sự ủng-hộ của thần-linh.
Trong muôn vạn người, hoạ-may t́m ra được vài ông Bồ-Tát xuất-gia hoặc tại-gia. Bậc cao-thượng nầy thường hành sáu pháp Ba-La-Mật: bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Các Vị