Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng Phẩm thứ nhì

[246] Sau đó, vào buổi sáng đức Thế tôn sau khi mặc y cầm y bát đã đi vào thành Kosambī để khất thực. Sau khi đã đi khất thực trong thành Kosambī, sau bữa ăn trên đường khất thực trở về, đức Thế Tôn đã thu xếp chỗ trú ngụ, cầm y bát, rồi đứng giữa hội chúng Tỷ kheo nói lên những lời kệ này:

[247]

Chúng phàm phu náo nhiệt
chẳng ai nghĩ mình ngu,
dầu hội chúng tan vỡ
chúng nghĩ chẳng ai hơn.
Lời kẻ trí cởi mở
nói đủ chuyện trên đời
chúng muốn miệng há rộng
bị lôi đi chẳng biết.
Những ai cố chấp rằng:
"Ngươi chửi ta, đánh ta,
thắng ta, cướp bóc ta!"
người ấy hận không tan.
Những ai không cố chấp:
"Ngươi chửi ta, đánh ta,
thắng ta, cướp bóc ta!"
người ấy hận tiêu tan.
Hận thù chẳng bao giờ
tiêu tan do thù hận,
nhưng bởi không thù hận
Pháp ấy có từ xưa.
Những người khác không biết
nơi đây ta kềm chế,
kia mọi người đều rõ
tranh cãi tự nhiên tan.
Xương tan, mạng chẳng còn,
cướp ngựa, bò, tài sản,
trong khi xâm chiếm đất
chúng còn biết hợp đoàn;
sao các người lại không?
Nếu người có bạn hữu
trí tuệ, cùng đi chung,
thông minh, sống khôn khéo,
vưọt qua mọi gian khổ
nhờ thế vị ấy sống
hoan hỷ, trú được niệm.
Nếu người không bạn hữu
trí tuệ, cùng đi chung,
thông minh, sống khôn khéo,
như vua bỏ vương quốc,
như voi và rừng rậm 
voi đi chỉ một mình.
Tốt hơn đi một mình
không kẻ ngu làm bạn
vị ấy sống đơn độc
ác không làm, chẳng lo,
như voi và rừng rậm
voi đi chỉ một mình.

[248] Rồi đức Thế Tôn sau khi đứng giữa hội chúng Tỷ kheo nói lên những lời kệ này đã đi đến ngôi làng Bālakaloṇakāraka. Vào lúc bấy giờ, Đại đức Bhagu đang trú tại ngôi làng Bālakaloṇakāraka. Đại đức Bhagu đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang từ đàng xa đi lại, sau khi nhìn thấy liền sắp đặt chỗ ngồi, đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ lau chân rồi đã đi ra rước lấy y bát. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn và rửa hai chân. Đại đức Bhagu đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã nói với Đại đức Bhagu điều này:

- Này Tỷ kheo, mọi việc có tốt đẹp không? Cuộc sống có thuận tiện không? Việc đi khất thực có khỏi bị mệt nhọc không?

- Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Cuộc sống được thuận tiện. Việc đi khất thực không có bị mệt nhọc.

Rồi đức Thế Tôn, sau khi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Đại đức Bhagu bằng bài Pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến khu vườn cây Pācīnavamsa.

Vào lúc bấy giờ, Đại đức Anuruddha, Đại đức Nandiya, và Đại đức Kimbila trú tại khu vườn cây Pācīnavamsa. Người giữ khu vườn cây đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này ông Sa môn, chớ có đi vào khu vườn cây này. Ở đó có ba người con trai gia đình danh giá và có tính tự trọng trú ngụ. Chớ có gây phiền nhiễu đến họ.

Đại đức Anuruddha đã nghe được người giữ khu vườn cây đang căn dặn đức Thế Tôn, nghe xong đã nói với người giữ khu vườn cây điều này:

- Này đạo hữu giữ vườn, chớ có ngăn cản đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư của chúng tôi đã đến.

Sau đó, Đại đức Anuruddha đã đi đến gặp Đại đức Nandiya và Đại đức Kimbila, sau khi đến đã nói với Đại đức Nandiya và Đại đức Kimbila điều này:

- Các Đại đức hãy đi ra. Các Đại đức hãy đi ra. Đức Thế Tôn là bậc Đạo Sư đã đến.

Khi ấy, Đại đức Anuruddha, Đại đức Nandiya, và Đại đức Kimbila đã đi ra đón đức Thế Tôn, một vị đã nhận lấy y bát của đức Thế Tôn, một vị đã sắp xếp chỗ ngồi, một vị đã mang lại nước rửa chân, ghế kê chân, và giẻ chùi chân. Đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn và rửa hai chân. Rồi các vị Đại đức ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn đã nói với Đại đức Anuruddha điều này:

- Này các vị Anuruddha, mọi việc có tốt đẹp không? Cuộc sống có thuận tiện không? Việc đi khất thực có khỏi bị mệt nhọc không?

- Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Cuộc sống được thuận tiện. Việc đi khất thực không có bị mệt nhọc.

- Này các vị Anuruddha, các ngươi sống có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ, có được như nước với sữa, có nhìn nhau bằng những ánh mắt vui vẻ không?

- Bạch Thế Tôn, chắc chắn như thế! Chúng con đây sống có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ, được như nước với sữa, và nhìn nhau bằng những ánh mắt vui vẻ.

- Này các vị Anuruddha, các ngươi sống có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ, được như nước với sữa, và nhìn nhau bằng những ánh mắt vui vẻ là như thế nào?

- Bạch ngài, ở đây con khởi ý như vầy: "Thật lợi ích cho ta! Thật ta đã khéo đạt được khi ta sống với các vị đồng phạm hạnh như thế này!" Bạch ngài, sự thân thiện của con qua thân nghiệp đối với các Đại đức ấy đã được khởi lên công khai hoặc kín đáo, sự thân thiện của con qua khẩu nghiệp đối với các Đại đức ấy đã được khởi lên công khai hoặc kín đáo, sự thân thiện của con qua ý nghiệp đối với các Đại đức ấy đã được khởi lên công khai hoặc kín đáo, và bạch ngài con đây đã khởi ý như vầy: "Hay là ta nên buông rơi tâm của ta và thực hành thuận theo ước muốn trong tâm của các Đại đức ấy?". Bạch ngài, rồi con đã buông rơi tâm con và thực hành thuận theo ước muốn trong tâm của các Đại đức ấy. Bạch ngài, chúng con tuy có các thân khác nhau nhưng con nghĩ rằng chỉ có một tâm.

Rồi Đại đức Nandiya và Đại đức Kimbila cũng đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, ở đây con khởi ý như vầy: "Thật lợi ích cho ta! Thật ta đã khéo đạt được khi ta sống với các vị đồng phạm hạnh như thế này!" Bạch ngài, sự thân thiện của con qua thân nghiệp đối với các Đại đức ấy đã được khởi lên công khai hoặc kín đáo, sự thân thiện của con qua khẩu nghiệp đối với các Đại đức ấy đã được khởi lên công khai hoặc kín đáo, sự thân thiện của con qua ý nghiệp đối với các Đại đức ấy đã được khởi lên công khai hoặc kín đáo, và bạch ngài, con đây đã khởi ý như vầy: "Hay là ta nên buông rơi tâm ta và thực hành thuận theo ước muốn trong tâm của các Đại đức ấy?". Bạch ngài, rồi con đã buông rơi tâm con và thực hành thuận theo ước muốn trong tâm của các Đại đức ấy. Bạch ngài, chúng con tuy có các thân khác nhau nhưng con nghĩ rằng chỉ có một tâm. Bạch ngài, chúng con sống có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ, được như nước với sữa, và nhìn nhau bằng những ánh mắt vui vẻ là như thế ấy.

- Này các vị Anuruddha, các ngươi sống có ít bị xao lãng, có sự tinh tấn và nỗ lực của bản thân hay không?

- Bạch ngài, chắc chắn như thế! Chúng con đây sống ít bị xao lãng, có sự tinh tấn và nỗ lực của bản thân.

- Này các vị Anuruddha, các ngươi sống ít bị xao lãng, có sự tinh tấn và nỗ lực của bản thân là như thế nào?

- Bạch ngài, ở đây vị nào trong chúng con đi khất thực từ làng trở về trước tiên vị ấy sắp xếp chỗ ngồi, chuẩn bị nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi đem lại, đem lại nước uống và nước rửa. Vị nào đi khất thực từ làng trở về sau cùng, nếu vật thực được ăn còn thừa lại, nếu muốn thì vị ấy có thể ăn; nếu không muốn, thì đem quăng bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật. Vị ấy xếp chỗ ngồi lại, dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi cất đi, dọn dẹp nước uống, nước rửa, và quét nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, lu nước rửa, lu nước nhà vệ sinh hết nước, trống trơn, thì đổ nước vào. Nếu vị ấy không làm nổi, thì sau khi ra hiệu bằng tay mời vị thứ hai, chúng con yêu cầu phụ giúp với hành động bằng tay; và bạch ngài không vì lý do đó mà chúng con nói ra lời. Bạch ngài, cứ mỗi năm ngày, chúng con ngồi lại cho việc thảo luận Giáo Pháp trọn đêm. Bạch ngài, chúng con sống ít bị xao lãng, có sự tinh tấn và nỗ lực của bản thân là như thế ấy.

Rồi đức Thế Tôn sau khi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Đại đức Anuruddha, Đại đức Nandiya, và Đại đức Kimbila bằng bài Pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi du hành đến Pārileyyaka. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Pārileyyaka. Tại nơi đó, ở Pārileyyaka, đức Thế Tôn sống ở trong một khu rừng cây được bảo vệ, dưới một gốc cây Sāla xinh đẹp.

[249] Khi ấy, đức Thế Tôn trong khi thiền tịnh ở nơi thanh vắng, một ý nghĩ suy tầm đã sanh khởi như vầy: "Trước đây, ta sống không thoải mái bị quấy rầy bởi các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng. Bây giờ, ta đây sống an lạc thoải mái một mình không người thứ hai, thoát khỏi các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng."

Có một con long tượng nọ sống bị quấy rầy bởi những con voi, bởi những con voi cái, bởi những con voi tơ, bởi những con voi bé, nhai các thứ cỏ đã bị đứt ngọn. Chúng nhai các nhánh cây đã được nó bẻ gãy rời ra. Và nó uống nước đã bị khuấy đục. Khi nó vượt qua dòng sông cạn thì những con voi cái chạy lại liên tục cọ xát vào thân. Khi ấy, con long tượng ấy đã khởi ý rằng: "Ta sống bị quấy rầy bởi những con voi, bởi những con voi cái, bởi những con voi tơ, bởi những con voi bé, nhai các thứ cỏ đã bị đứt ngọn. Chúng nhai các nhánh cây đã được ta bẻ gãy rời ra. Và ta uống nước đã bị khuấy đục. Khi ta vượt qua dòng sông cạn thì những con voi cái chạy lại liên tục cọ xát vào thân. Hay là ta nên sống một mình, tách ra khỏi đám đông?" Sau đó, con long tượng ấy tách khỏi bầy đi đến Pārileyyaka, chỗ khu rừng cây được bảo vệ, nơi một gốc cây Sāla xinh đẹp, rồi đi đến với đức Thế Tôn, sau khi đến đã dùng vòi phục vụ đức Thế Tôn nước uống, nước rửa, và dọn sạch cây cỏ. Khi ấy, con long tượng đã khởi ý rằng: "Trước đây ta đã sống bị quấy rầy bởi những con voi, bởi những con voi cái, bởi những con voi tơ, bởi những con voi bé, đã nhai các thứ cỏ đã bị đứt ngọn. Chúng đã nhai các nhánh cây đã được ta bẻ gãy rời ra. Và ta đã uống nước bị khuấy đục. Khi ta vượt qua dòng sông cạn thì những con voi cái đã chạy lại liên tục cọ xát vào thân. Bây giờ, ta đây sống an lạc thoải mái một mình không hai, thoát khỏi các con voi, các con voi cái, các con voi tơ, và các con voi bé." Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi hiểu được sự tách ly của bản thân đã dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của con long tượng ấy, rồi vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng rằng:

Voi chúa có ngà bự
cùng với chúa loài người,
tâm với tâm hòa hợp
vui rừng thẳm một mình.

[250] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại Pārileyyaka theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Xá Vệ (Sāvatthi). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Sāvatthi. Tại nơi đó, ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông Anāthapiṇḍika.

[251] Khi ấy, các cư sĩ ở Kosambī khởi ý rằng: "Các ngài Tỷ kheo ở Kosambī là những người đã làm nhiều điều không lợi ích cho chúng ta. Đức Thế Tôn bị quấy rầy bởi các vị này nên đã bỏ đi, vậy thì chúng ta không nên đảnh lễ các ngài Tỷ kheo ở Kosambī, không nên đứng dậy chào, không làm phận sự thích hợp như chắp tay, không nên tôn trọng, không nên cung kỉnh, không nên sùng bái, không nên cúng dường, không nên bố thí đồ ăn khất thực cho các vị đi đến; như thế ấy các vị này trong khi không được tôn trọng, không được cung kỉnh, không được sùng bái, không được cúng dường bởi chúng ta và khi đã không còn được tôn trọng các vị sẽ bỏ đi, hoàn tục, hoặc sẽ có niềm tin nơi đức Thế Tôn." Sau đó, các cư sĩ ở Kosambī đã không đảnh lễ, không đứng dậy chào, không làm phận sự thích hợp như chắp tay, không tôn trọng, không cung kỉnh, không sùng bái, không cúng dường, không bố thí đồ ăn khất thực cho các vị đi đến. Rồi khi các Tỷ kheo ở Kosambī trong khi không được tôn trọng, không được cung kỉnh, không được sùng bái, không được cúng dường bởi các cư sĩ ở Kosambī và khi không còn được tôn trọng nữa, đã nói như vầy:

- Này các Đại đức, vậy thì chúng ta hãy đi Sāvatthi và giải quyết sự tranh tụng này trong sự hiện diện của đức Thế Tôn.

Sau đó, các Tỷ kheo ở Kosambī đã thu xếp chỗ trú ngụ rồi cầm y bát đi đến thành Sāvatthi.

[252] Đại đức Sāriputta đã nghe được rằng: "Nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi." Khi ấy, Đại đức Sāriputta đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại đức Sāriputta đã bạch với đức Thế tôn điều này:

- Bạch ngài, nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các Tỷ kheo ấy như thế nào?

- Này Sāriputta, nếu vậy thì (các vị nào) đúng Pháp thì ngươi hãy hỗ trợ (các vị ấy).

- Bạch ngài, con nên hiểu đúng Pháp và sai Pháp như thế nào?

- Này Sāriputta, một người nói sai Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc. Này Sāriputta, trường hợp vị Tỷ kheo tuyên bố phi Pháp là "Pháp;" tuyên bố Pháp là: "Phi Pháp;" tuyên bố phi Luật là: "Luật;" tuyên bố Luật là: "Phi Luật;" tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: "Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: "Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: "Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều được thực hành bởi đức Như Lai là: "Điều đã không được thực hành bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều không được quy định bởi đức Như Lai là: "Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều được quy định bởi đức Như Lai là: "Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;" tuyên bố vô tội là: "Phạm tội;" tuyên bố phạm tội là: "Vô tội;" tuyên bố tội nặng là: "Tội nhẹ;" tuyên bố tội nhẹ là: "Tội nặng;" tuyên bố tội đã đủ yếu tố là: "Tội chưa đủ yếu tố;" tuyên bố tội chưa đủ yếu tố là: "Tội đã đủ yếu tố;" tuyên bố tội không xấu xa là: "Tội xấu xa;" tuyên bố tội xấu xa là: "Tội không xấu xa." Này Sāriputta, một người nói sai Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc này.

Này Sāriputta, một người nói đúng Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc. Này Sāriputta, trường hợp vị Tỷ kheo tuyên bố phi Pháp là "Phi Pháp;" tuyên bố Pháp là: "Pháp;" tuyên bố phi Luật là: "Phi Luật;" tuyên bố Luật là: "Luật;" tuyên bố điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai là: "Điều đã không được giảng, không được nói bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai là: "Điều đã được giảng, đã được nói bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều không được thực hành bởi đức Như Lai là: "Điều không được thực hành bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều đã được thực hành bởi đức Như Lai là: "Điều đã được thực hành bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều đã không được quy định bởi đức Như Lai là: "Điều đã không được quy định bởi đức Như Lai;" tuyên bố điều đã được quy định bởi đức Như Lai là: "Điều đã được quy định bởi đức Như Lai;" tuyên bố vô tội là: "Vô tội;" tuyên bố phạm tội là: "Phạm tội;" tuyên bố tội nặng là: "Tội nặng;" tuyên bố tội nhẹ là: "Tội nhẹ;" tuyên bố tội đã đủ yếu tố là: "Tội đã đủ yếu tố;" tuyên bố tội chưa đủ yếu tố là: "Tội chưa đủ yếu tố;" tuyên bố tội không xấu xa là: "Tội không xấu xa;" tuyên bố tội xấu xa là: "Tội xấu xa." Này Sāriputta, một người nói đúng Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc này.

[253] Rồi Đại đức Mahāmoggallāna đã nghe được rằng: ...(như trên)... rồi Đại đức Mahākassapa đã nghe, rồi Đại đức Mahākaccāna đã nghe, rồi Đại đức Mahākoṭṭhita đã nghe, rồi Đại đức Mahākappina đã nghe, rồi Đại đức Mahācunda đã nghe, rồi Đại đức Anuruddha đã nghe, rồi Đại đức Revata đã nghe, rồi Đại đức Upāli đã nghe, rồi Đại đức Ānanda đã nghe, rồi Đại đức Rāhula đã nghe được rằng: "Nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi." Khi ấy, Đại đức Rāhula đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại đức Rāhula đã bạch với đức Thế tôn điều này:

- Bạch ngài, nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các Tỷ kheo ấy như thế nào?

- Này Rāhula, như thế thì ngươi hãy hỗ trợ (các vị nào) đúng Pháp.

- Bạch ngài, con nên hiểu đúng Pháp và sai Pháp như thế nào?

- Này Rāhula, một người nói sai Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc. ...(như trên)... Này Rāhula, một người nói sai Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc này.

Này Rāhula, một người nói đúng Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc. ...(như trên)... Này Rāhula, một người nói đúng Pháp sẽ được nhận biết do mười tám sự việc này.

[254] Rồi bà Mahāpajāpatī Gotamī đã nghe được rằng: : "Nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi." Khi ấy, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, bà Mahāpajāpatī Gotamī đã bạch với đức Thế tôn điều này:

- Bạch ngài, nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các Tỷ kheo ấy như thế nào?

- Này Gotamī, như thế thì bà hãy nghe Pháp ở cả hai bên; sau khi nghe Pháp ở cả hai bên rồi, các Tỷ kheo bên nào là các vị nói đúng Pháp thì bà hãy xu hướng theo tri kiến, niềm tin, khuynh hướng, và sự hiểu biết của các vị ấy. Và bất cứ điều gì hội chúng Tỷ kheo ni mong mỏi từ hội chúng Tỷ kheo thì nên mong mỏi tất cả các điều ấy từ các vị nói đúng Pháp.

[255] Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đã nghe được rằng: "Nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi." Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika đã bạch với đức Thế tôn điều này:

- Bạch ngài, nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các Tỷ kheo ấy như thế nào?

- Này gia chủ, như thế thì ngươi hãy nên dâng vật cúng dường cả hai bên, sau khi dâng vật cúng dường rồi hãy nghe Pháp cả hai bên, sau khi nghe Pháp cả hai bên rồi các Tỷ kheo bên nào là các vị nói đúng Pháp thì hãy xu hướng theo tri kiến, niềm tin, khuynh hướng, và sự hiểu biết của các vị ấy.

[256] Rồi bà Visākhā mẹ của Migāra đã nghe được rằng: "Nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi." Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã bạch với đức Thế tôn điều này:

- Bạch ngài, nghe nói các Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đang đi đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên thực hành đối với các Tỷ kheo ấy như thế nào?

- Này bà Visākhā, như thế thì ngươi hãy nên dâng vật cúng dường cả hai bên, sau khi dâng vật cúng dường rồi hãy nghe Pháp cả hai bên, sau khi nghe Pháp cả hai bên rồi các Tỷ kheo bên nào là các vị nói đúng Pháp thì hãy xu hướng theo tri kiến, niềm tin, khuynh hướng, và sự hiểu biết của các vị ấy.

[257] Sau đó, các Tỷ kheo ở Kosambī theo tuần tự đã đến được thành Sāvatthi. Khi ấy, Đại đức Sāriputta đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại đức Sāriputta đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, nghe nói các vị Tỷ kheo ở Kosambī ấy là những vị thường gây nên các sự xung đột, cãi cọ, tranh luận, nói chuyện nhảm nhí, và tranh tụng trong hội chúng đã đến thành Sāvatthi. Bạch ngài, con nên tiến hành chỗ trú ngụ cho các Tỷ kheo ấy như thế nào?

- Này Sāriputta, như thế thì ngươi nên cho chỗ trú ngụ cách biệt.

- Bạch ngài, nếu không được cách biệt thì nên thực hành như thế nào?

- Này Sāriputta, như thế thì nên làm thành cách biệt rồi ban cho. Này Sāriputta, nhưng ta nói rằng: "Không vì bất cứ lý do gì mà các chỗ trú ngụ của các Tỷ kheo trưởng thượng lại có thể bị xâm phạm." Vị nào xâm phạm thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

- Bạch ngài, nên thực hành như thế nào về tài vật?

- Này Sāriputta, tài vật nên được chia phần đồng đều cho tất cả.

[258] Sau đó, vị Tỷ kheo bị án treo trong khi suy xét về Pháp và Luật đã khởi ý rằng: "Điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Ta đã phạm (tội), ta không phải là không phạm (tội). Ta đã bị án treo, ta không phải là không bị án treo. Ta đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì." Khi ấy, vị Tỷ kheo bị án treo đã đi đến gặp các Tỷ kheo ủng hộ vị bị án treo, sau khi đến đã nói với các Tỷ kheo ủng hộ vị bị án treo điều này:

- Này các Đại đức, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Tôi đã phạm (tội), tôi không phải là không phạm (tội). Tôi đã bị án treo, tôi không phải là không bị án treo. Tôi đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Xin các Đại đức hãy đến và phục hồi lại cho tôi.

Khi ấy, các Tỷ kheo ủng hộ vị bị án treo đã đưa vị Tỷ kheo bị án treo đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các vị Tỷ kheo ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, vị Tỷ kheo bị án treo này đã nói rằng: "Này các Đại đức, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Tôi đã phạm (tội), tôi không phải là không phạm (tội). Tôi đã bị án treo, tôi không phải là không bị án treo. Tôi đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Xin các Đại đức hãy đến và phục hồi lại cho tôi." Bạch ngài, giờ nên được thực hành như thế nào?

- Này các Tỷ kheo, điều ấy là có tội, điều ấy không phải là vô tội. Vị Tỷ kheo ấy đã phạm tội, vị Tỷ kheo ấy không phải là không phạm tội. Vị Tỷ kheo ấy đã bị án treo, vị Tỷ kheo ấy không phải là không bị án treo. Vị Tỷ kheo ấy đã bị án treo bằng hành sự đúng Pháp, không thể sửa đổi, đáng được duy trì. Này các Tỷ kheo, bởi vì vị Tỷ kheo ấy đã phạm (tội), đã bị án treo, và nhìn nhận. Này các Tỷ kheo, như thế thì hãy phục hồi cho vị Tỷ kheo ấy.

Sau đó, các vị Tỷ kheo Tỷ kheo ủng hộ vị bị án treo sau khi đã phục hồi cho vị Tỷ kheo bị án treo rồi đã đi đến gặp các vị Tỷ kheo đã ban án treo, sau khi đến đã nói với các vị Tỷ kheo đã ban án treo điều này:

- Này các Đại đức, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, và vị Tỷ kheo này đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Nếu vậy thì chúng ta hãy tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy.

Sau đó, các vị Tỷ kheo đã ban án treo đã đi đến gặp đức Thế tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, các vị Tỷ kheo đã ban án treo đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, các Tỷ kheo ủng hộ vị bị án treo đã nói như vầy: "Này các Đại đức, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, và vị Tỷ kheo này đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Nếu vậy thì chúng ta hãy tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy." Bạch ngài, giờ nên được thực hành như thế nào?

- Này các Tỷ kheo, bởi vì vị Tỷ kheo ấy đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Này các Tỷ kheo, như thế thì hội chúng nên tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy. Và này các Tỷ kheo, nên được tiến hành như vầy: Tất cả các Tỷ kheo bệnh và không bệnh nên tụ hội lại một chỗ, và không một ai được phép gởi lời tùy thuận. Sau khi đã tụ hội lại, hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

"Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, và vị Tỷ kheo này đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, và vị Tỷ kheo này đã phạm (tội), đã bị án treo, đã nhìn nhận, và đã được phục hồi. Hội chúng tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy. Đại đức nào thỏa thuận với việc tiến hành sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy, xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên.

Sự hợp nhất hội chúng để giải quyết sự kiện ấy đã được hội chúng tiến hành. Sự chia rẽ hội chúng đã được dàn xếp. Sự bất đồng hội chúng đã được dàn xếp. Sự đấu khẩu trong hội chúng đã được dàn xếp. Sự khác biệt trong hội chúng đã được dàn xếp. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy."

Lập tức sau đó, lễ Bố Tát (Uposatha) nên được tiến hành. Giới bổn Pāṭimokkha nên được đọc tụng.

[259] Sau đó, Đại đức Upāli đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại đức Upāli đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, hội chúng không điều tra sự kiện ấy và không tìm ra nguyên cớ rồi tiến hành sự hợp nhất; bạch ngài, có phải sự hợp nhất hội chúng ấy là đúng Pháp?

- Này Upāli, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, hội chúng không điều tra sự kiện ấy và tìm không ra nguyên cớ rồi tiến hành sự hợp nhất; này Upāli, sự hợp nhất hội chúng ấy là sai Pháp.

- Bạch ngài, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, hội chúng điều tra sự kiện ấy và tìm ra nguyên cớ rồi tiến hành sự hợp nhất; bạch ngài, có phải sự hợp nhất hội chúng ấy là đúng Pháp?

- Này Upāli, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, hội chúng điều tra sự kiện ấy và tìm ra nguyên cớ rồi tiến hành sự hợp nhất; này Upāli, sự hợp nhất hội chúng ấy là đúng Pháp.

- Bạch ngài, sự hợp nhất hội chúng có bao nhiêu loại?

- Này Upāli, sự hợp nhất hội chúng có hai loại. Này Upāli, có sự hợp nhất hội chúng không đạt được mục đích (atthāpetā) chỉ đạt được từ ngữ (byañjanupetā) và có loại vừa đạt được mục đích vừa đạt được từ ngữ. Này Upāli, thế nào sự hợp nhất hội chúng không đạt được mục đích chỉ đạt được từ ngữ? Này Upāli, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, hội chúng không điều tra sự kiện ấy và tìm không ra nguyên cớ rồi tiến hành sự hợp nhất; này Upāli, việc này gọi là sự hợp nhất hội chúng không đạt được mục đích chỉ đạt được từ ngữ. Này Upāli, thế nào sự hợp nhất hội chúng vừa đạt được mục đích vừa đạt được từ ngữ? Này Upāli, trong sự kiện mà hội chúng có sự xung đột, sự cãi cọ, sự lý luận, sự tranh luận, sự chia rẽ hội chúng, sự bất đồng trong hội chúng, sự đấu khẩu trong hội chúng, sự khác biệt trong hội chúng, hội chúng điều tra sự kiện ấy và tìm ra nguyên cớ rồi tiến hành sự hợp nhất; này Upāli, việc này gọi là sự hợp nhất hội chúng vừa đạt được mục đích vừa đạt được từ ngữ. Này Upāli đây là hai sự hợp nhất hội chúng.

Sau đó, Đại đức Upāli đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay tên cúi chào đức Thế Tôn, rồi trình lên đức Thế Tôn những lời kệ này:

[260]

Trong những việc của Tăng
trong những lần thảo luận
những vấn đề sanh khởi
và các việc điều nghiên,
ở đây hạng người nào
đem lại nhiều lợi ích?
ở đây Tỷ kheo nào
xứng là vị tiên phong?
Giới luật được xét đầu
vị không bị chê bai
sở hành được xem xét,
(sáu) căn được canh phòng.
Ngay những kẻ đối đầu
đúng Pháp không thể trách
hay gièm pha vị ấy
bởi vì chẳng có chi.
Vị như thế tồn tại
nhờ giới đã thanh tịnh
vị có niềm tự tín
đối đáp được suốt thông,
vị đi vào đám đông
không run không sợ hãi
vị nói có mục đích
không bỏ lở chủ đề.
Cũng thế giữa hội chúng
được hỏi một vấn đề
vị ấy không ngần ngại
và không gì xấu hổ
vị ấy nói đúng thời
lời giải thích xứng đáng
vị thông minh rạng rỡ
hội chúng bậc thức tri.
Vị ấy luôn tôn kính
các Tỷ kheo trưởng thượng
và đặt trọn niềm tin
ở bậc thầy vị ấy,
có khả năng nắm bắt
rành rẽ điều được học
vị biết cách chận đứng
(lời) những kẻ nghịch thù.
Những kẻ là đối thủ
đành chịu thế quy hàng
đám đông người hành theo
điều được người giảng rõ.
Bản thân không xao lãng
niềm tin của chính mình,
có những câu hỏi đáp
không thương tổn tha nhân.
Có khả năng hiểu rõ
trong công việc đưa tin
hành sự của hội chúng
theo như lời căn dặn.
Chuyển việc làm lời nhắn
của nhóm các Tỷ kheo
không vì thế suy nghĩ
"Ta đang làm công việc."
Khi một ai phạm tội
dẫu có lắm nguồn cơn
như thế nào các tội
và phương thức thoát ra,
các bộ phân tích ấy
lưỡng phái được truyền thừa
vị thiện xảo chi tiết
vượt ra điều phạm tội.
Vị bị phạt cách ly
từ những sở hành nào
và vị bị tách ra
các phận sự thế nào
việc phục hồi điều ấy
cho vị đã sống qua
rành rẽ việc phân tích
điều ấy cũng được biết.
Vị ấy luôn tôn kính
các Tỷ kheo trưởng thượng
mới tu và trưởng lão,
hoặc các vị trung niên,
ở đây bậc trí tuệ
đem lợi ích nhiều người
Tỷ kheo như thế ấy
xứng lãnh đạo nơi đây.
         

Chương Kosambī là chương thứ mười.

Tóm Lược chương này:

[237]

Bậc Chiến Thắng cao cả
ở tại Kosambī
tranh cãi việc thấy tội
có thể ban án treo
trong tội ấy là tội
mà vị ấy thấy được,
nơi ấy trong ranh giới.
Ngôi làng Bālaka
vườn cây Pācīna,
rừng Pārileyyā,
và thành Sāvatthi,
ngài Sāriputta,
và ngài Kolita,
Mahākassapa,
Mahākaccāna,
ngài Mahācunda,
ngài Anuruddha,
hai ngài Revata
và ngài Upāli
và ngài Ānanda,
ngài Rāhula nữa,
vị ni Gotamī,
và ông Cấp Cô Độc,
và bà Visākhā
mẹ của Migāra,
chỗ trú ngụ cách biệt
tài vật được đồng đều,
không ai gởi tùy thuận
Upāli vấn hỏi
sự không bị chê trách
do giới thành hợp nhất
lời dạy bậc Chiến Thắng.

 Đại Phẩm được đầy đủ.

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]