|
Tạng Luật Đại Phẩm Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch Tụng Phẩm thứ ba [156] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo sau khi thọ thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, đã bị xuất tinh do chiêm bao khiến chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ. Khi ấy, đức Thế Tôn cùng với Đại đức Ānanda là sa-môn hầu cận trong lúc đang đi bộ dạo quanh các trú xá đã nhìn thấy chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ, sau khi thấy đã bảo Đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, tại sao chỗ nằm ngồi này bị lấm lem? - Bạch ngài, hiện nay các vị Tỷ kheo sau khi thọ thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, rồi đã xuất tinh do chiêm bao. Bạch đức Thế Tôn, vì thế chỗ nằm ngồi này đã bị lấm lem vì chất dơ. - Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, vì các vị ấy có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ nên đã xuất tinh do chiêm bao. Này Ānanda, các vị Tỷ kheo nào có niệm được thiết lập, được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, các vị ấy không bị xuất tinh. Này Ānanda, các vị nào là phàm nhân, đã được thoát khỏi sự tham đắm trong các dục, các vị ấy không bị xuất tinh, Này Ānanda, việc mà vị A La Hán bị xuất tinh là điều không có thực tế, không có cơ sở. Rồi đức Thế Tôn nhân lý do đó, nhân sự việc đó đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ở đây, ta cùng với Ānanda là sa-môn hầu cận trong lúc đang đi bộ dạo quanh các trú xá đã nhìn thấy chỗ nằm ngồi bị lấm lem vì chất dơ, sau khi thấy đã hỏi Ānanda rằng: "Này Ānanda, tại sao chỗ nằm ngồi này bị lấm lem?" "Bạch ngài, hiện nay các vị Tỷ kheo sau khi thọ thực thức ăn thượng hạng, có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, rồi đã bị xuất tinh do chiêm bao. Bạch đức Thế Tôn, vì thế chỗ nằm ngồi này đã bị lấm lem vì chất dơ." "Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, điều ấy là như thế! Này Ānanda, vì các vị ấy có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ nên đã xuất tinh do chiêm bao. Này Ānanda, các vị Tỷ kheo nào có niệm được thiết lập, được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ, các vị ấy không bị xuất tinh. Này Ānanda, các vị nào là phàm nhân, đã được thoát khỏi sự tham đắm trong các dục, các vị ấy không bị xuất tinh, Này Ānanda, việc mà vị A La Hán bị xuất tinh là điều không có thực tế, không có cơ sở." Này các Tỷ kheo, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ: vị ấy ngủ khổ sở, thức dậy khổ sở, thấy mộng điều ác xấu, chư thiên không hộ trì, bị xuất tinh. Này các Tỷ kheo, đây là năm điều bất lợi của vị có niệm bị xao lãng, không được giác tĩnh, và rơi vào giấc ngủ. Này các Tỷ kheo, ta cho phép (sử dụng) y lót ngồi (nisīdanaṃ) để bảo vệ cơ thể, để bảo vệ y, để bảo vệ chỗ ngồi. Vào lúc bấy giờ, y lót ngồi quá nhỏ nên không bảo vệ được toàn bộ chỗ ngồi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép làm tấm trải lót (paccattharanaṃ) [1] lớn theo như (kích thước) vị ấy mong muốn. [157] Vào lúc bấy giờ, thầy tế độ của Đại đức Ānanda là Đại đức Velaṭṭhasīsa có bệnh ghẻ sần sùi (thullakacchābādho). Các y của vị ấy bị dính vào thân vì chất máu mủ, các vị Tỷ kheo phải liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra. Đức Thế Tôn trong khi đi bộ dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy các vị Tỷ kheo ấy liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra. Thấy vậy, ngài đã đi đến gần các vị Tỷ kheo ấy, sau khi đến đã nói với các vị Tỷ kheo ấy điều này: - Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo này bị bệnh gì vậy? - Bạch ngài, Đại đức này bị bệnh ghẻ sần sùi, các y bị dính vào thân vì chất máu mủ, chúng con phải liên tục tẩm ướt các y với nước và kéo ra. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy sau khi thuyết Pháp thoại rồi đã bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị bị ghẻ ngứa, bị nhọt, có vết thương chảy mủ, hoặc bị ghẻ sần sùi (sử dụng) y đắp ghẻ (kaṇḍupaṭicchādī). [158] Vào lúc bấy giờ, bà Visākhā mẹ của Migāra cầm cái khăn lau mặt đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin hãy thọ lãnh cái khăn lau mặt của con vì điều ấy đem lại sự lợi ích và sự an vui lâu dài cho con. Đức Thế Tôn đã thọ nhận cái khăn lau mặt. Rồi đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng bài Pháp thoại. Sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ của Migāra đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép (sử dụng) khăn lau mặt (mukhapuñchanacolakaṃ). [159] Vào lúc bấy giờ, Roja người Malla là bạn của Đại đức Ānanda. Một tấm vải dệt bằng sợi lanh của Roja người Malla đã bị đánh rơi nơi khuôn viên của Đại đức Ānanda. Và Đại đức Ānanda có nhu cầu về vải dệt bằng sợi lanh. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép lấy do sự thân thiết (đồ vật) của người hội đủ năm điều: là vị quen biết, là vị thân thiết, vị ấy đã nói trước, vị ấy còn sống, và vị lấy biết được rằng: "Nếu được ta lấy thì vị ấy sẽ hoan hỷ." Này các Tỷ kheo, ta cho phép lấy do sự thân thiết (đồ vật) của người hội đủ năm điều này. [160] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo có được đầy đủ ba y, nhưng có nhu cầu về các đồ lọc nước và túi mang. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép miếng vải phụ tùng (parikkhāracolaṃ). Khi ấy, các vị Tỷ kheo đã khởi ý rằng: "Các vật đã được đức Thế Tôn cho phép là "Ba y," "Vải choàng (tắm) mưa," "Y lót ngồi," "Tấm trải lót," "Y đắp ghẻ," "Khăn lau mặt," hay là "Miếng vải phụ tùng," tất cả các thứ ấy cần được chú nguyện để dùng riêng (adhiṭṭhātuṃ) hoặc là chú nguyện để dùng chung (vikappetuṃ)?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chú nguyện ba y để dùng riêng không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện vải choàng (tắm) mưa trong bốn tháng của mùa mưa sau đó chú nguyện để dùng chung vào các tháng khác, chú nguyện y lót ngồi để dùng riêng không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện tấm trải lót để dùng riêng không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện y đắp ghẻ để dùng riêng lúc còn bị bệnh sau đó chú nguyện để dùng chung vào lúc khác, chú nguyện khăn lau mặt để dùng riêng không được chú nguyện để dùng chung, chú nguyện miếng vải được xem là vật cần thiết để dùng riêng không được chú nguyện để dùng chung. Khi ấy, các vị Tỷ kheo đã khởi ý rằng: "Y nên được chú nguyện để dùng chung lớn tối đa là bao nhiêu?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chú nguyện để dùng chung y lớn tối đa với chiều dài là tám ngón tay với chiều rộng là bốn ngón tay theo ngón tay tiêu chuẩn (sugataṅgulena). Vào lúc bấy giờ, y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ của Đại đức Mahākassapa là nặng nề. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép (thực hiện) việc mạng bằng chỉ. (Y) có góc bị thừa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép cắt góc bị thừa. Các mối chỉ bị xổ ra (ở chỗ bị cắt). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép gắn vào miếng vải viền hoặc miếng vải bọc lại. Vào lúc bấy giờ, các mảnh vải của y hai lớp (saṅghāṭi) bị tưa ra (lujjanti). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép làm (đường chỉ may) ở tám chỗ (aṭṭhapadakam kātuṃ). [161] Vào lúc bấy giờ, trong lúc y của vị Tỷ kheo nọ đang được làm, toàn bộ các mảnh cắt không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép hai (y) đã được cắt, một không cắt. Hai (y) đã được cắt, một (y) không cắt không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép hai (y) không cắt, một (y) đã được cắt. Hai (y) không cắt, một (y) đã được cắt không đủ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép đặt vào miếng vải khác. Và này các Tỷ kheo, không nên sử dụng toàn bộ (ba y) không cắt, vị nào sử dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). [162] Vào lúc bấy giờ, có nhiều y đã phát sanh đến vị Tỷ kheo nọ. Và vị ấy có ý muốn cho đến cha mẹ số y ấy. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, điều gì ta có thể nói trong khi vị ấy cho đến cha mẹ? Này các Tỷ kheo, ta cho phép cho đến cha mẹ. Và này các Tỷ kheo, không nên lãng phí vật bố thí vì đức tin, vị nào lãng phí thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). [163] Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo để y hai lớp (saṅghāṭi) trong khu rừng Andhavana rồi đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Những kẻ trộm đã lấy đi y ấy. Vị Tỷ kheo ấy trở thành ăn mặc bê bối và có y luộm thuộm. Các vị Tỷ kheo nói như vầy: - Này Đại đức, vì sao ngài lại ăn mặc bê bối và có y luộm thuộm? - Này các Đại đức, trường hợp này là tôi để y ở trong khu rừng Andhavana rồi đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Những kẻ trộm đã lấy đi y ấy, vì thế tôi trở thành ăn mặc bê bối và có y luộm thuộm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên đi vào làng với y nội và thượng y. Vị nào đi vào thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, Đại đức Ānanda vì thiếu sự ghi nhớ nên đã đi vào làng để khất thực với y nội và thượng y. Các Tỷ kheo đã nói với Đại đức Ānanda điều này: - Này Đại đức Ānanda, không phải đức Thế Tôn đã quy định rằng: "Không nên đi vào làng với y nội và thượng y" hay sao? Này Đại đức, vì sao ngài đã đi vào làng với y nội và thượng y? - Này các Đại đức, điều đã được đức Thế Tôn rằng: "Không nên đi vào làng với y nội và thượng y" là sự thật. Này các Đại đức, tuy nhiên vì thiếu sự ghi nhớ nên tôi đã đi vào (làng như thế). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, có năm điều kiện cho việc để lại y hai lớp (saṅghāṭi): vị ấy bị bệnh, sự quy định về mùa mưa (vassikasaṅketaṃ), [2] phải đi qua bên kia sông, trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các Tỷ kheo, đây là năm điều kiện cho việc để lại y hai lớp. Này các Tỷ kheo, có năm điều kiện cho việc để lại thượng y (uttarāsaṅga): vị ấy bị bệnh, sự quy định về mùa mưa), phải đi qua bên kia sông, trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các Tỷ kheo, đây là năm điều kiện cho việc để lại thượng y. Này các Tỷ kheo, có năm điều kiện cho việc để lại y nội (antaravāsaka): vị ấy bị bệnh, sự quy định về mùa mưa, phải đi qua bên kia sông, trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vị có Kaṭhina đã được thành tựu. Này các Tỷ kheo, đây là năm điều kiện cho việc để lại y nội. Này các Tỷ kheo, có năm điều kiện cho việc để lại vải choàng (tắm) mưa (vassikasāṭikā): vị ấy bị bệnh, sự quy định về mùa mưa, phải đi ra khỏi ranh giới, phải đi qua bên kia sông, trú xá có sự an toàn với then cài, hoặc là vải choàng (tắm) mưa không được làm hoặc được làm chưa hoàn tất. Này các Tỷ kheo, đây là năm điều kiện cho việc để lại vải choàng (tắm) mưa. [164] Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ sống mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): "Chúng tôi dâng đến hội chúng." Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy khởi đã ý rằng: "Ta chỉ có mỗi một mình, và các người này đã dâng các y (nói rằng): 'Chúng tôi dâng đến hội chúng,' hay là ta nên đem các y thuộc về hội chúng này đến Sāvatthi?" Sau đó, vị Tỷ kheo ấy đã cầm lấy các y ấy đi đến Sāvatthi và trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này Tỷ kheo, các y ấy là của chính ngươi cho đến khi hết hiệu lực của Kaṭhina. Này các Tỷ kheo, trong trường hợp vị Tỷ kheo sống mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng dâng các y (nói rằng): "Chúng tôi dâng đến hội chúng." Này các Tỷ kheo, ta cho phép các y ấy là của chính vị ấy cho đến khi hết hiệu lực của Kaṭhina. Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ sống ngoài mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): "Chúng tôi dâng đến hội chúng." Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng hội chúng ít nhất phải là nhóm bốn vị. Ta chỉ có mỗi một mình, và các người này đã dâng các y (nói rằng): 'Chúng tôi dâng đến hội chúng,' hay là ta nên đem các y thuộc về hội chúng này đến Sāvatthi?" Sau đó, vị Tỷ kheo ấy đã cầm lấy các y ấy đi đến Sāvatthi và trình sự việc ấy đến các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chia ra cho hội chúng đang hiện diện. Này các Tỷ kheo, trong trường hợp vị Tỷ kheo sống ngoài mùa (an cư) mưa có một mình. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): "Chúng tôi dâng đến hội chúng." Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo ấy chú nguyện các y ấy rằng: "Những y này là của tôi." Này các Tỷ kheo, nếu trong khi y ấy chưa được chú nguyện thành của vị Tỷ kheo ấy thì có vị Tỷ kheo khác đi đến, nên chia thành phần đồng đều nhau. Này các Tỷ kheo, nếu trong khi y ấy đang được chia bởi các vị Tỷ kheo ấy nhưng chưa được bốc thăm thì có một Tỷ kheo khác đi đến, nên chia thành phần đồng đều nhau. Này các Tỷ kheo, nếu trong khi y ấy đang được chia bởi các vị Tỷ kheo ấy và đã được bốc thăm thì có một Tỷ kheo khác đi đến, không cần phải chia phần nếu không thích. Vào lúc bấy giờ, có hai vị trưởng lão là anh em: Đại đức Isidāsa và Đại đức Isibhatta đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến chỗ trú ngụ là một ngôi làng nọ. Dân chúng (nghĩ rằng): "Đã lâu lắm các trưởng lão mới ghé đến," rồi đã dâng bữa thọ trai kèm theo y. Các Tỷ kheo thường trú đã hỏi hai vị trưởng lão rằng: - Bạch các ngài, những y này thuộc hội chúng đã được phát sanh nhờ niềm tin vào các trưởng lão, các trưởng lão sẽ hoan hỷ phần chia hay không? Hai vị trưởng lão nói như vầy: - Này các Đại đức, theo như chúng tôi biết về Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn thì các y ấy là thuộc về của chính các vị cho đến khi Kaṭhina hết hiệu lực. Vào lúc bấy giờ, có ba vị Tỷ kheo sống mùa (an cư) mưa ở trong thành Rājagaha. Ở đó, dân chúng đã dâng các y (nói rằng): "Chúng tôi dâng đến hội chúng." Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng hội chúng ít nhất phải là nhóm bốn vị. Và chúng ta chỉ có ba người mà các người này dâng các y (lại nói rằng): 'Chúng tôi dâng đến hội chúng,' vậy chúng ta nên thực hành thế nào đây?" Vào lúc bấy giờ, có nhiều trưởng lão là Đại đức Nīlavāsī, Đại đức Sāṇavāsī, Đại đức Gopako, Đại đức Bhagu, và Đại đức Phalikasandāna cư ngụ tại Pāṭaliputta ở tu viện Kukkuṭa. Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã đi đến Pāṭaliputta và hỏi các vị trưởng lão. Các vị trưởng lão nói như vầy: - Này các Đại đức, theo như chúng tôi biết về Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn thì các y ấy là thuộc về của chính các vị cho đến khi Kaṭhina hết hiệu lực. [165] Vào lúc bấy giờ, Đại đức Upananda con trai giòng Sākya đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến chỗ trú ngụ là một ngôi làng nọ. Ở đó, các vị Tỷ kheo đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy đã nói như vầy: - Này Đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài nên chấp nhận phần chia. - Này các Đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận. Sau khi nhận phần y ở nơi đó, vị ấy đã đi sang một trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị Tỷ kheo đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói như vầy: - Này Đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài nên chấp nhận phần chia. - Này các Đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận. Sau khi nhận phần y ở nơi đó, vị ấy đã đi sang một trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị Tỷ kheo đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói như vầy: - Này Đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài nên chấp nhận phần chia. - Này các Đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận. Sau khi nhận phần y ở nơi đó, vị ấy đã cầm lấy một gói y rồi quay trở về lại Sāvatthi. Các vị Tỷ kheo nói như vầy: - Này Đại đức Upananda, ngài có được nhiều phước báu. Nhiều y đã được phát sanh đến ngài. - Này các Đại đức, tôi có phước báu là do đâu? Trong trường hợp này, tôi đã sống qua mùa (an cư) mưa ở Sāvatthi rồi đã đi đến chỗ trú ngụ là một ngôi làng nọ. Ở đó, các vị Tỷ kheo đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy đã nói với tôi như vầy: "Này Đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài nên chấp nhận phần chia." "Này các Đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận." Sau khi nhận phần y ở nơi đó, tôi đã đi sang một trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị Tỷ kheo đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói với tôi như vầy: "Này Đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài nên chấp nhận phần chia." "Này các Đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận." Sau khi nhận phần y ở nơi đó, tôi đã đi sang một trú xứ khác. Ở nơi đó, các vị Tỷ kheo đã tụ hội lại với ý định chia y. Các vị ấy cũng đã nói với tôi như vầy: "Này Đại đức, các y này thuộc về hội chúng sẽ được chia ra, ngài nên chấp nhận phần chia." "Này các Đại đức, xin vâng, tôi sẽ chấp nhận." Tôi cũng đã nhận phần chia y ở nơi đó, như thế mà nhiều y đã được phát sanh đến tôi. - Này Đại đức Upananda, có phải ngài đã sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác và chấp nhận phần chia y ở nơi khác? - Này các Đại đức, đúng vậy. Các vị Tỷ kheo ít ham muốn, ...(như trên)... Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao Đại đức Upananda đã sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác lại chấp nhận phần chia y ở nơi khác? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này Upananda, nghe nói ngươi đã sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác và chấp nhận phần chia y ở nơi khác, có đúng không vậy? - Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi đã sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác lại chấp nhận phần chia y ở nơi khác? Này kẻ rồ dại, việc sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, vị sống mùa (an cư) mưa ở nơi khác không nên chấp nhận phần chia y ở nơi khác. Vị nào chấp nhận thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, Đại đức Upananda một mình đã sống mùa an cư ở hai trú xứ (nghĩ rằng): "Như vầy nhiều y sẽ được phát sanh đến ta." Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy khởi ý rằng: "Phần san sẻ về y nên được cho đến Đại đức Upananda như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, hãy cho đến kẻ rồ dại phần của một người. Này các Tỷ kheo, trong trường hợp vị Tỷ kheo sống mùa an cư ở hai trú xứ [3] (nghĩ rằng): "Như vầy nhiều y sẽ được phát sanh đến ta." Nếu vị ấy sống chỗ này một nữa (thời gian) chỗ kia một nữa (thời gian) thì nên cho phần san sẻ về y (cīvarapaṭiviso) gồm một nữa của nơi này một nửa của nơi kia, hoặc ở chỗ nào vị ấy sống nhiều hơn thì phần san sẻ về y nên được cho từ chỗ đó. [166] Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ bị bệnh kiết lỵ. Vị ấy đã bị té vào đống phân và nước tiểu của chính mình. Khi ấy, đức Thế Tôn cùng với Đại đức Ānanda là sa-môn hầu cận trong lúc đang đi bộ dạo quanh các trú xá đã đi đến trú xá của vị Tỷ kheo ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy vị Tỷ kheo té và đang nằm trên đống phân và nước tiểu của chính mình, sau khi thấy đã đi đến gần vị Tỷ kheo ấy, sau khi đến đã nói với vị Tỷ kheo ấy điều này: - Này Tỷ kheo, ngươi bị bệnh gì? - Bạch Thế Tôn, bệnh kiết lỵ. - Này Tỷ kheo, ngươi không có người phục vụ? - Bạch Thế Tôn, không có. - Vì sao các vị Tỷ kheo lại không phục vụ? - Bạch ngài, con là người không có làm gì cho các vị Tỷ kheo, do đó các vị Tỷ kheo không phục vụ con. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, hãy đi và mang nước lại. Chúng ta sẽ tắm cho vị Tỷ kheo này. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã mang nước lại. Đức Thế Tôn đã xối nước và Đại đức Ānanda đã rửa ráy toàn bộ. Rồi đức Thế Tôn đã đỡ phần đầu còn Đại đức Ānanda nâng lên ở phần chân và đặt ở trên giường. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã triệu tập các vị Tỷ kheo rồi hỏi các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, có phải có vị tỷ kheo trong trú xá ở đàng kia bị bệnh? - Bạch Thế Tôn, thưa có. - Này các Tỷ kheo, vị ấy bị bệnh gì? - Bạch ngài, Đại đức ấy bị bệnh kiết lỵ. - Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo ấy có người phục vụ không? - Bạch Thế Tôn, không có. - Vì sao các Tỷ kheo lại không phục vụ vị ấy? - Bạch ngài, vị Tỷ kheo ấy là người không có làm gì cho các vị Tỷ kheo, do đó các vị Tỷ kheo không phục vụ vị ấy. - Này các Tỷ kheo, các ngươi không có mẹ, không có cha là những người có thể phục vụ các ngươi. Này các Tỷ kheo, nếu các ngươi không phục vụ lẫn nhau thì khi ấy lấy ai sẽ phục vụ đây? Này các Tỷ kheo, vị nào có thể phục vụ ta, vị ấy nên phục vụ những người bệnh. Nếu có thầy tế độ, thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có thầy dạy học, thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có đệ tử, người đệ tử nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có học trò, người học trò nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy dạy học, vị đồng thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu không có thầy tế độ, thầy dạy học, đệ tử, học trò, vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy dạy học, hội chúng nên phục vụ. Nếu không phục vụ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, vị bị bệnh là khó phục vụ khi hội đủ năm điều: Là vị không làm việc cần làm; là vị không biết sự vừa phải trong việc cần làm; là vị không quen dùng dược phẩm; là vị không giải thích cho người phục vụ bệnh nhân luôn muốn điều tốt đẹp một cách rõ ràng, đúng như thực trạng như (bệnh) đã tăng thêm là "(Bệnh) đã tăng thêm," (bệnh) đã giảm là: "(Bệnh) đã giảm," (bệnh) ổn định là: "(Bệnh) ổn định;" là loại người không chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các Tỷ kheo, người bệnh hội đủ năm điều này là khó phục vụ. Này các Tỷ kheo, vị bị bệnh là dễ phục vụ khi hội đủ năm điều: Là vị làm việc cần làm; là vị biết sự vừa phải trong việc cần làm; là vị quen dùng dược phẩm; là vị giải thích cho người phục vụ bệnh nhân luôn muốn điều tốt đẹp một cách rõ ràng, đúng như thực trạng như (bệnh) đã tăng thêm là "(Bệnh) đã tăng thêm," (bệnh) đã giảm là: "(Bệnh) đã giảm," (bệnh) ổn định là: "(Bệnh) ổn định;" là loại người chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc cơ thể đã sanh khởi. Này các Tỷ kheo, người bệnh hội đủ năm điều này là dễ phục vụ. Này các Tỷ kheo, người phục vụ bệnh nhân không thích hợp để phục vụ người bệnh là vị hội đủ năm điều: Là vị không có khả năng để phân phát thuốc men; không biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, làm điều không cần thiết và không làm điều cần thiết; phục vụ người bệnh vì mục đích tài vật và không có tâm từ; ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; không có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các Tỷ kheo, người phục vụ bệnh nhân hội đủ năm điều này là không thích hợp để phục vụ người bệnh. Này các Tỷ kheo, người phục vụ bệnh nhân thích hợp để phục vụ người bệnh là vị hội đủ năm điều: Là vị có khả năng để phân phát thuốc men; biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, không làm điều không cần thiết và làm điều cần thiết; có tâm từ và phục vụ người bệnh không vì mục đích tài vật; không ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa; có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng bài Pháp thoại lúc này lúc khác. Này các Tỷ kheo, người phục vụ bệnh nhân hội đủ năm điều này là thích hợp để phục vụ người bệnh. [167] Vào lúc bấy giờ, có hai vị Tỷ kheo đang đi đường xa trong xứ Kosala. Hai vị ấy đã đi đến một trú xứ nọ. Ở đó, có một vị Tỷ kheo nọ bị bệnh. Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Này Đại đức, việc phục vụ người bệnh đã được đức Thế Tôn khen ngợi, này Đại đức vậy chúng ta hãy phục vụ vị Tỷ kheo này." Các vị ấy đã phục vụ vị kia. Trong khi được các vị ấy phục vụ, vị kia đã từ trần. Sau đó, các vị Tỷ kheo đã cầm lấy y bát của vị Tỷ kheo kia đi đến Sāvatthi và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, đối với vị Tỷ kheo khi từ trần, hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các Tỷ kheo, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh ba y và bình bát thông qua hội chúng. Và này các Tỷ kheo, nên được ban cho như vầy: Vị Tỷ kheo phục vụ người bệnh ấy nên đi đến gặp hội chúng và nên nói như vầy: "Bạch các ngài, vị Tỷ kheo tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy." Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị Tỷ kheo tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị Tỷ kheo tên (như vầy) đã từ trần, đây là ba y và bình bát của vị ấy. Hội chúng cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đại đức nào thỏa thuận với việc cho ba y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên. Ba y và bình bát này đã được hội chúng cho đến các vị phục vụ người bệnh. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy." Vào lúc bấy giờ, có một vị sa-di nọ đã từ trần. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, đối với vị sa-di khi từ trần, hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các Tỷ kheo, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh y và bình bát thông qua hội chúng. Và này các Tỷ kheo, nên được ban cho như vầy: Vị Tỷ kheo phục vụ người bệnh ấy nên đi đến gặp hội chúng và nên nói như vầy: "Bạch các ngài, vị sa-di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy." Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị sa-di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị sa-di tên (như vầy) đã từ trần, đây là y và bình bát của vị ấy. Hội chúng cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh. Đại đức nào thỏa thuận với việc cho y và bình bát này đến các vị phục vụ người bệnh xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên. Y và bình bát này đã được hội chúng cho đến các vị phục vụ người bệnh. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy." Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ và vị sa-di đã phục vụ một người bệnh. Trong khi được các vị ấy phục vụ đã từ trần. Khi ấy, vị Tỷ kheo phục vụ người bệnh đã khởi ý rằng: "Phần san sẻ về y của vị sa-di là vị phục vụ người bệnh nên được cho như thế nào đây?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép cho đến vị sa-di là vị phục vụ người bệnh phần san sẻ đồng đều. Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ có nhiều đồ đạc và có nhiều vật dụng cần thiết đã từ trần. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, đối với vị Tỷ kheo khi từ trần, hội chúng là chủ của các y và bình bát, tuy nhiên các vị phục vụ người bệnh lại có nhiều công đức. Này các Tỷ kheo, ta cho phép ban cho các vị phục vụ người bệnh ba y và bình bát thông qua hội chúng, (cho phép) phân chia đồ đạc loại nhẹ và vật dụng cần thiết loại nhẹ ở nơi ấy bởi hội chúng đang hiện diện, (cho phép) đồ đạc loại nặng và vật dụng cần thiết loại nặng ở nơi ấy là của hội chúng bốn phương đã đi đến hoặc sẽ đi đến, không được phân tán, không được phân chia. [168] Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ sau khi làm cho trở thành trần truồng rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi dến đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, sự trần truồng đưa đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép sự trần truồng đến các Tỷ kheo. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, ...(như trên)... Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại thực hành nghi thức ngoại đạo là sự lõa thể? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên thực hành nghi thức ngoại đạo là sự lõa thể. Vị nào thực hành thì phạm trọng tội (thullaccaya). Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ che thân bằng cỏ kusa, ...(như trên)... che thân bằng vỏ cây, ...(như trên)... che thân bằng tấm ván gỗ, ...(như trên)... che thân bằng mền dệt bằng tóc, ...(như trên)... che thân bằng mền dệt bằng lông ngựa, ...(như trên)... che thân bằng cánh chim cú, ...(như trên)... che thân bằng da linh dương rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi dến đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, (việc che thân bằng) da linh dương đưa đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép (việc che thân bằng) da linh dương đến các Tỷ kheo. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, ...(như trên)... Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại mặc biểu tượng của ngoại đạo là (che thân bằng) da linh dương? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên mặc biểu tượng của ngoại đạo là (che thân bằng) da linh dương. Vị nào mặc thì phạm trọng tội (thullaccaya). Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ mặc (y làm bằng) sợi của cây akka, ...(như trên)... mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, đức Thế Tôn là người thường ngợi khen về sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, (y làm bằng) sợi của cây makaci đưa đến sự ít ham muốn, sự biết đủ, sự tận diệt, sự đoạn trừ, sự hài lòng, sự không gom góp, sự ra sức tinh tấn bằng nhiều phương thức. Bạch ngài tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép (y làm bằng) sợi của cây makaci đến các Tỷ kheo. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, ...(như trên)... Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi lại mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên mặc (y làm bằng) sợi của cây makaci. Vị nào mặc thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). [169] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo nhóm Lục Sư mặc y toàn màu xanh đậm, mặc y toàn màu vàng, mặc y toàn màu đỏ, mặc y toàn màu đỏ sậm, mặc y toàn màu đen, mặc y toàn màu vàng nâu, mặc y toàn màu vàng cam, mặc y không cắt đường viền, mặc y có đường viền rộng, mặc y có đường viền vẽ bông hoa, mặc y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang, mặc áo choàng ngắn, mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka, mang khăn xếp đội đầu. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - …(như trên)… giống những kẻ tại gia hưởng dục vậy? Các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên mặc y toàn màu xanh đậm, không nên mặc y toàn màu vàng, không nên mặc y toàn màu đỏ, không nên mặc y toàn màu đỏ sậm, không nên mặc y toàn màu đen, không nên mặc y toàn màu vàng nâu, không nên mặc y toàn màu vàng cam, không nên mặc y không cắt đường viền, không nên mặc y có đường viền rộng, không nên mặc y có đường viền vẽ bông hoa, không nên mặc y có đường viền vẽ hình rắn hổ mang, không nên mặc áo choàng ngắn, không nên mặc loại vải dệt bằng sợi vỏ cây tirīṭaka, không nên mang khăn xếp đội đầu. Vị nào mặc thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). [170] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại ra đi, hoàn tục, từ trần, được biết là sa-di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết là người phạm tội cực nặng, được biết là người điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được biết là vị bị thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ bị thiến, được biết là kẻ trộm tướng mạo (Tỷ kheo), được biết là kẻ đi theo ngoại đạo, được biết là thú vật, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A La Hán, được biết là kẻ làm ô uế Tỷ kheo ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm đức Phật chảy máu, được biết là kẻ lưỡng tính. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại ra đi, nên trao cho vị nhận thế thích hợp và (vị ấy) đang hiện diện. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh lại hoàn tục, từ trần, được biết là sa-di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết là người phạm tội cực nặng, hội chúng là chủ quản. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh thì được biết là người điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được biết là vị bị thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, nên trao cho vị nhận thế thích hợp và (vị ấy) đang hiện diện. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y chưa phát sanh được biết là kẻ bị thiến, ...(như trên)... được biết là kẻ lưỡng tính, hội chúng là chủ quản. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia lại ra đi, nên trao cho vị nhận thế thích hợp và đang hiện diện. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia lại hoàn tục, từ trần, được biết là sa-di, được biết là người xả bỏ điều học, được biết là người phạm tội cực nặng, hội chúng là chủ quản. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia thì được biết là người điên, được biết là vị có tâm rối loạn, được biết là vị bị thọ khổ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, nên trao cho vị nhận thế thích hợp và (vị ấy) đang hiện diện. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa khi y đã được phát sanh nhưng chưa phân chia được biết là kẻ bị thiến, ...(như trên)... được biết là kẻ lưỡng tính, hội chúng là chủ quản. Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho một nhóm (nói rằng): "Chúng tôi dâng y đến hội chúng." (Y) ấy là của hội chúng. Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho một nhóm (nói rằng): "Chúng tôi dâng y đến nhóm." (Y) ấy là (riêng) của nhóm. Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa và y chưa được phát sanh thì hội chúng bị chia rẽ. Ở đó, dân chúng dâng nước cho một nhóm và dâng y cho chính nhóm ấy (nói rằng): "Chúng tôi dâng y đến nhóm." (Y) ấy là (riêng) của nhóm. Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa và y đã được phát sanh nhưng chưa chia phần thì hội chúng bị chia rẽ. Nên chia đồng đều cho tất cả. [171] Vào lúc bấy giờ, Đại đức Revata gởi y cho Đại đức Sāriputta qua tay một vị Tỷ kheo nọ (nói rằng): "Hãy trao y này đến vị trưởng lão." Rồi trên đường đi, vị Tỷ kheo ấy đã lấy y ấy do sự thân thiết. Sau đó, Đại đức Revata đã đích thân đi đến Đại đức Sāriputta và hỏi rằng: - Bạch ngài, tôi đã gởi y cho ngài trưởng lão. Y ấy đã đến chưa? - Này sư đệ, ta không nhìn thấy y ấy. Sau đó, Đại đức Revata đã nói với vị Tỷ kheo ấy điều này: - Này Đại đức, tôi đã gởi y của ngài trưởng lão qua tay của Đại đức. Y ấy đâu rồi? - Bạch ngài, tôi đã lấy y ấy do sự thân thiết. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Hãy trao y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi đi; (y) đã được lấy đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Hãy trao y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi đi; (y) đã được lấy đúng đắn. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Hãy trao y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy nghe rằng: "Vị gởi (y) đã từ trần," rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy sai trái. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Hãy trao y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy nghe rằng: "Vị sẽ nhận (y) đã từ trần," rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy đúng đắn. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Hãy trao y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy nghe rằng: "Cả hai đã từ trần," rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị gởi đi; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy xác định y của người đã chết là thuộc về vị sẽ nhận; (y) đã được xác định sai trái. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Tôi đã cho y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Tôi đã cho y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Tôi đã cho y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy nghe rằng: "Vị gởi (y) đã từ trần," rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị sẽ nhận; (y) đã được lấy đúng đắn. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Tôi đã cho y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy nghe rằng: "Vị sẽ nhận (y) đã từ trần," rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị ấy; (y) đã được xác định đúng đắn. Vị ấy lấy (y ấy) do sự thân thiết với vị gởi; (y) đã được lấy sai trái. Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo gởi y qua tay một vị Tỷ kheo (nói rằng): "Tôi đã cho y này đến vị tên như vầy." Trên đường đi, vị ấy nghe rằng: "Cả hai đã từ trần," rồi xác định y của người đã chết là thuộc về vị gởi đi; (y) đã được xác định sai trái. Vị ấy xác định y của người đã chết là thuộc về vị sẽ nhận; (y) đã được xác định đúng đắn. [172] Này các Tỷ kheo, có tám tiêu đề về việc phát sanh y: (thí chủ) dâng trong ranh giới (sīmā), (thí chủ) dâng theo sự thỏa thuận, (thí chủ) dâng theo sự thông báo về vật thực, (thí chủ) dâng đến hội chúng, (thí chủ) dâng đến cả hai hội chúng (Tỷ kheo và Tỷ kheo ni), (thí chủ) dâng đến hội chúng đã sống qua mùa (an cư) mưa, (thí chủ) dâng sau khi đã thông báo, (thí chủ) dâng đến cá nhân. (Thí chủ) dâng trong ranh giới (sīmāya deti) thì nên chia phần cho hết thảy các vị Tỷ kheo đang ở trong ranh giới. (Thí chủ) dâng theo sự thỏa thuận (katikāya deti) thì toàn bộ các trú xứ đều có phần nhận lãnh đồng đều, (nghĩa là) khi được dâng ở một trú xứ thì tất cả các nơi đều được dâng. (Thí chủ) dâng theo sự thông báo về vật thực (bhikkhāpaññattiyā deti) là nơi nào có các sự hộ độ thường xuyên đến hội chúng thì dâng nơi ấy. (Thí chủ) dâng đến hội chúng thì nên chia phần đến hội chúng đang hiện diện. (Thí chủ) dâng đến cả hai hội chúng thì mặc dầu có nhiều Tỷ kheo mà có một Tỷ kheo ni thì nên được chia làm hai. Mặc dầu có nhiều Tỷ kheo ni mà có một Tỷ kheo thì nên được chia làm hai. (Thí chủ) dâng đến hội chúng đã sống qua mùa (an cư) mưa (vassam vutthassa saṅghassa deti) là nên chia phần cho hết thảy các vị Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa ở trú xứ ấy. (Thí chủ) dâng sau khi đã thông báo (ādissa deti) về cháo, các bữa ăn, vật thức cứng, y, chỗ trú ngụ, hoặc là dược phẩm. (Thí chủ) dâng đến cá nhân (puggalassa deti) là (nói rằng): "Tôi đã dâng y này đến vị tên (như vầy)." Dứt Chương Y Phục là chương thứ tám. Trong chương này có chín mươi sáu sự việc. Tóm lược chương này: [173]
[1] Tấm trải lót (paccattharanaṃ) tức là ngọa cụ, y lót ngồi (nisīdanaṃ) tức là tọa cụ. [2] Ngài Buddhaghosa giải thích là trong bốn tháng mùa mưa. [3] Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên về trường hợp một vị Tỷ kheo sống an cư mùa mưa ở hai nơi. Ngài Buddhaghosa giải thích vị ấy sống thay đổi chỗ ở trong thời hạn từ một ngày đến bảy ngày theo quy định về mùa (an cư) mưa. Quý vị nếu có thắc mắc có thể kiểm tra lại ở bản chú giải Samantapāsādikā. -ooOoo-
Ðầu trang | Mục lục |
01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 | |