|
Tạng Luật Đại Phẩm Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch Tụng Phẩm thứ nhì [138] Vào lúc bấy giờ, đức vua xứ Kāsī đã gởi đến Jīvaka Komārabhacca một tấm mền len (kambalaṃ) trị giá một nữa kāsī [1] hoặc tương đương với nữa kāsī. Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã cầm lấy tấm mền len trị giá một nữa kāsī ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đãnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, tấm mền len này của con trị giá một nữa kāsī hoặc tương đương với nữa kāsī đã được đức vua xứ Kāsī đã gởi đến. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lãnh tấm mền, điều ấy sẽ đem lại sự lợi ích và sự an lạc lâu dài cho con. Đức Thế Tôn đã thọ lãnh tấm mền len. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Jīvaka Komārabhacca đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép tấm mền len. [139] Vào lúc bấy giờ, có các y loại đặc biệt phát sanh đến hội chúng. Khi ấy, các vị Tỷ kheo khởi ý rằng: "Loại y nào đã được đức Thế Tôn cho phép, loại nào không được cho phép?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép sáu loại y: loại bằng sợi lanh (khomaṃ), loại bằng bông vải (kappāsikaṃ), loại bằng tơ lụa (koseyyaṃ), loại bằng sợi len (kambalaṃ), loại bằng gai thô (sāṇam), loại bằng chỉ bố (bhaṅgaṃ). Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo chấp nhận y của gia chủ, các vị ấy ngần ngại không chấp nhận loại vải dơ bị quăng bỏ (nghĩ rằng): "Chỉ một loại y đã được đức Thế Tôn cho phép chứ không phải hai." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chấp nhận y may từ vải dơ bị quăng bỏ đối với vị chấp nhận y của gia chủ và này các Tỷ kheo ta ngợi khen sự biết đủ với cả hai loại ấy, [140] Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số Tỷ kheo đã đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số Tỷ kheo đã không chờ đợi. Những vị Tỷ kheo đi vào bãi tha ma đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những vị Tỷ kheo không chờ đợi đã nói như vầy: - Này các Đại đức, hãy chia phần cho chúng tôi. Những vị kia đã nói như vầy: - Này các Đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không chờ đợi? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chia phần cho các vị không chờ đợi nếu không trái với ý muốn. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số Tỷ kheo đã đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số Tỷ kheo đã chờ đợi. Những vị Tỷ kheo đi vào bãi tha ma đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những Tỷ kheo chờ đợi đã nói như vầy: - Này các Đại đức, hãy chia phần cho chúng tôi. Những vị kia đã nói như vầy: - Này các Đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không đi vào? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chia phần cho các vị chờ đợi mặc dầu không muốn. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Một số Tỷ kheo đã đi vào bãi tha ma trước để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số Tỷ kheo đã đi vào sau. Những vị Tỷ kheo đi vào bãi tha ma trước đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Những vị Tỷ kheo đi vào sau đã không nhặt được. Những vị ấy đã nói như vầy: - Này các Đại đức, hãy chia phần cho chúng tôi. Những vị kia đã nói như vầy: - Này các Đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã đi vào sau? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chia phần cho các vị đi vào sau nếu không trái với ý muốn. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Các vị đã đi vào bãi tha ma cùng một lúc để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số vị Tỷ kheo đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Một số vị Tỷ kheo đã không nhặt được. Những vị Tỷ kheo không nhặt được đã nói như vầy: - Này các Đại đức, hãy chia phần cho chúng tôi. Những vị kia đã nói như vầy: - Này các Đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không nhặt được? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chia phần cho các vị đi vào cùng một lúc mặc dầu không muốn. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo đang đi đường xa ở trong xứ Kosala. Các vị đã cam kết với nhau rồi đã đi vào bãi tha ma để kiếm vải dơ bị quăng bỏ. Một số vị Tỷ kheo đã nhặt được nhiều vải quấn tử thi. Một số vị Tỷ kheo đã không nhặt được. Những vị Tỷ kheo không nhặt được đã nói như vầy: - Này các Đại đức, hãy chia phần cho chúng tôi. Những vị kia đã nói như vầy: - Này các Đại đức, chúng tôi sẽ không chia phần cho các vị. Tại sao các vị đã không nhặt được? Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chia phần cho các vị sau khi cam kết đã đi vào mặc dầu không muốn. [141] Vào lúc bấy giờ, dân chúng cầm y đi đến tu viện. Họ không gặp được vị có trách nhiệm tiếp nhận nên đã mang về. Y phát sanh lên bị ít đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chỉ định vị tiếp nhận y (cīvarapaṭiggāhaka) là vị Tỷ kheo hội đủ năm điều: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích; là vị không thể bị chi phối bởi sự sân hận; là vị không thể bị chi phối bởi sự si mê; là vị không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi; là vị biết (vật) được nhận hay không được nhận. Và này các Tỷ kheo, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị Tỷ kheo cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị tiếp nhận y. Đại đức nào thỏa thuận với việc chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị tiếp nhận y, xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên. Vị Tỷ kheo tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị tiếp nhận y. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy." [142] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo là các vị tiếp nhận y sau khi thọ lãnh y bỏ ngay tại chỗ ấy. Y bị mất. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chỉ định vị cất giữ y (cīvaranidāhaka) là vị Tỷ kheo hội đủ năm điều: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích; là vị không thể bị chi phối bởi sự sân hận; là vị không thể bị chi phối bởi sự si mê; là vị không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi; là vị biết (vật) đã được cất giữ hay đã không được cất giữ. Và này các Tỷ kheo, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị Tỷ kheo cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị cất giữ y. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị cất giữ y. Đại đức nào thỏa thuận với việc chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị cất giữ y, xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên. Vị Tỷ kheo tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị cất giữ y. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy." [143] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo là các vị cất giữ y đã cất giữ y ở mái che, ở gốc cây, ở hốc cây nimba, và ở ngoài trời. Các y đã bị gặm nhấm bởi chuột và mối. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chỉ định nhà kho chứa đồ (bhaṇḍāgāraṃ) thuộc loại nào mà hội chúng thích là trú xá (vihāraṃ), nhà một mái (aḍḍhayogaṃ), tòa nhà dài (pāsādaṃ), khu nhà lớn (hammiyaṃ), hang động (guhaṃ). Và này các Tỷ kheo, nên được chỉ định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà kho chứa đồ. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà kho chứa đồ. Đại đức nào thỏa thuận với việc chỉ định trú xá tên (như vầy) làm nhà kho chứa đồ xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên. Trú xá tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định làm nhà kho chứa đồ. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy." [144] Vào lúc bấy giờ, y ở trong nhà kho chứa đồ không được bảo quản. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chỉ định vị quản lý nhà kho (bhaṇḍāgārika) là vị Tỷ kheo hội đủ năm điều: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích; là vị không thể bị chi phối bởi sự sân hận; là vị không thể bị chi phối bởi sự si mê; là vị không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi; là vị biết (vật) đã được bảo quản hay đã không được bảo quản. Và này các Tỷ kheo, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị Tỷ kheo cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị quản lý nhà kho. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị quản lý nhà kho. Đại đức nào thỏa thuận với việc chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị quản lý nhà kho, xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên. Vị Tỷ kheo tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị quản lý nhà kho. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy." [145] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo nhóm Lục Sư làm cho vị quản lý nhà kho xao lãng (phận sự). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên làm vị giữ nhà kho xao lãng (phận sự). Vị nào làm xao lãng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). [146] Vào lúc bấy giờ, trong nhà kho chứa đồ của hội chúng y được dồi dào. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép hội chúng chia phần theo sự hiện diện. Vào lúc bấy giờ, tất cả hội chúng trong lúc chia phần y đã gây ra cảnh náo động. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chỉ định vị chia y (cīvarabhājaka) là vị Tỷ kheo hội đủ năm điều: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích; là vị không thể bị chi phối bởi sự sân hận; là vị không thể bị chi phối bởi sự si mê; là vị không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi; là vị biết (y) đã được phân chia hay chưa được phân chia. Và này các Tỷ kheo, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị Tỷ kheo cần được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị chia y. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị chia y. Đại đức nào thỏa thuận với việc chỉ định vị Tỷ kheo tên (như vầy) là vị chia y, xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên. Vị Tỷ kheo tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là vị chia y. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy." Sau đó, các Tỷ kheo là vị chia y đã khởi ý rằng: "Y nên được chia như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép trước tiên phân loại, phỏng định giá trị, làm cho đồng đều (giá trị), đếm số Tỷ kheo, gom lại thành nhóm, rồi xác định phần chia về y. Sau đó, các vị Tỷ kheo chia y đã khởi ý rằng: "Phần chia về y có nên được ban cho đến sa-di hay không?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép cho các sa-di một nữa của phần chia về y. Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ có ý muốn vượt qua (uttaritukāmo) (sông hoặc đoạn đường hoang vắng) với phần chia của bản thân. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép trao cho phần chia của bản thân đến vị đang (chuẩn bị) vượt qua (sông hoặc đoạn đường hoang vắng). Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ có ý muốn vượt qua (sông hoặc đoạn đường hoang vắng) với phần chia nhiều hơn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép trao cho phần chia nhiều hơn khi vật đền bù được trao lại. Sau đó, các vị Tỷ kheo chia y đã khởi ý rằng: "Phần chia về y nên được trao cho như thế nào, theo thứ tự đi đến hay là theo thâm niên?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép bốc thăm để làm hoan hỷ các vị không được phần (vikalake tosetvā kusapātam kātunti). [147] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo nhuộm y với phân bò và đất sét đỏ. Y có màu sắc xấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép sáu loại thuốc nhuộm: thuốc nhuộm làm từ rễ cây, thuốc nhuộm từ thân cây, thuốc nhuộm từ vỏ cây, thuốc nhuộm từ lá cây, thuốc nhuộm từ bông hoa, thuốc nhuộm từ trái cây. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo nhuộm y với nước lạnh. Y có mùi hôi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép nồi nhuộm loại nhỏ để nấu thuốc nhuộm. Thuốc nhuộm bị tràn ra. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép buộc vòng đế tròn (uttarāḷuvam bandhitum) (ở phần trên mặt nước của nồi thuốc nhuộm). Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo không biết thuốc nhuộm đã được nấu hay chưa được nấu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép nhỏ giọt vào trong nước hoặc ở bề lưng của móng tay. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo khi đổ thuốc nhuộm ra, cái nồi bị xoay tròn. Cái nồi bị bể. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép cái môi múc thuốc nhuộm, cái gàu có cán. Vào lúc bấy giờ, cái thùng để nhuộm của các vị Tỷ kheo chưa được sử dụng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chậu nhuộm, lu nhuộm. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo dẫm đạp y trong cái đĩa, trong bình bát. Y đã bị thủng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép máng nhuộm. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo trải y ra ở trên nền đất. Y bị lấm bụi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép thảm cỏ. Thảm cỏ bị mối nhấm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép sào máng y, dây treo y. Các vị treo cao lên ở giữa. Thuốc nhuộm chảy ra hai bên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép buộc ở góc (y). Góc (y) bị sờn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép sợi chỉ ở góc (y). Thuốc nhuộm chảy ở một bên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép nhuộm bằng cách trở y đầu này, rồi đảo trở lại, và không được bỏ đi khi nước chưa ngừng nhỏ giọt. Vào lúc bấy giờ, y bị cứng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép ngâm trong nước Vào lúc bấy giờ, y bị thô nhám. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép đập bằng bàn tay. [148] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo nhóm Lục Sư mặc y chưa được cắt, mặc y màu ngà voi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên mặc y chưa được cắt. Vị nào mặc thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). [149] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Vương Xá (Rājagaha) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến Dakkhiṇāgiri. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết nối bằng những đường biên dài rộng xung quanh, được kết nối bằng những đường biên ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông giao nhau; sau khi nhìn thấy đã bảo Đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, ngươi có nhìn thấy mảnh ruộng ở Magadha được kết nối bằng những khoảnh vuông vức, được kết nối bằng những đường biên dài rộng xung quanh, được kết nối bằng những đường biên ở giữa, được kết nối bằng những mảnh vuông giao nhau không? - Bạch ngài, thưa có. - Này Ānanda, ngươi có khả năng thực hiện các y có kiểu mẫu như thế cho các vị Tỷ kheo không? - Bạch Thế Tôn, con có khả năng. Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại Dakkhiṇāgiri theo như ý thích, đã quay trở về lại thành Vương Xá (Rājagaha). Khi ấy, Đại đức Ānanda sau khi thực hiện các y cho nhiều vị Tỷ kheo đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin Thế Tôn hãy nhìn xem các y con đã thực hiện. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, Ānanda thật thông thái. Này các Tỷ kheo, Ānanda có đại trí tuệ bởi vì vị ấy hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ của điều đã được ta nói ra một cách vắn tắt. Vị ấy làm được dải nối theo chiều dọc (của y), vị ấy làm được dải nối theo chiều ngang (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc dải điều (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc dải điều (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc dải điều giữa (của y), vị ấy làm được mảnh lớn thuộc các dải điều bên (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc dải điều giữa (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc các dải điều kế (của y), vị ấy làm được mảnh nhỏ thuộc hai dải điều biên (của y), (như thế y) sẽ được cắt ra, sần sùi khi được ráp lại, phù hợp với sa-môn, không còn được mong mỏi bởi những kẻ đối nghịch. Này các Tỷ kheo, ta cho phép y hai lớp (saṅghāṭi) đã được cắt ra, thượng y (uttarāsaṅgaṃ) đã được cắt ra, y nội (antaravāsakaṃ) đã được cắt ra (rồi ráp lại). [150] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Vương Xá (Rājagaha) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Vệ Xá (Vesālī). Khi đang đi trên đoạn đường xa giữa Rājagaha và Vesālī, Đức Thế Tôn đã nhìn thấy nhiều vị Tỷ kheo đang đi ngược chiều với nhiều y được túm lại thành đống, các vị đã làm một cuộn y ở trên đầu, các vị đã làm một cuộn y ở vai, các vị đã làm một cuộn y ở hông, sau khi nhìn thấy, đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Những kẻ rồ dại này đã xoay xở được nhiều y thật mau mắn, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y." Rồi trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Vesālī. Tại nơi đó, ở Vesālī, đức Thế Tôn ngụ tại điện thờ Gotamaka. Vào lúc bấy giờ, trong những đêm mùa đông lạnh lẽo vào khoảng giữa tháng Aṭṭhaka là mùa tuyết rơi, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y và đức Thế Tôn không có cảm giác lạnh. Khi canh một đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ hai và đức Thế Tôn không còn cảm giác lạnh. Khi canh giữa đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ ba và đức Thế Tôn không còn cảm giác lạnh. Khi canh cuối đã qua, khi hừng đông đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở đức Thế Tôn, đức Thế Tôn đã trùm lên y thứ tư và đức Thế Tôn không còn cảm giác lạnh. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Những vị ở trong Pháp và Luật này là con trai của những nhà danh giá thường bị ảnh hưởng bởi sự lạnh và khiếp sợ sự lạnh, các vị ấy có thể đối phó (với sự lạnh) bằng ba y, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y cho các Tỷ kheo, ta nên cho phép ba y." Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhận sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ở đây, trong khi đi trên đoạn đường xa giữa Rājagaha và Vesālī, ta đã nhìn thấy nhiều vị Tỷ kheo đang đi ngược chiều với nhiều y được túm lại thành đống, các vị đã làm một cuộn y ở trên đầu, các vị đã làm một cuộn y ở vai, các vị đã làm một cuộn y ở hông, sau khi nhìn thấy, ta đã khởi ý rằng: "Những kẻ rồ dại này đã xoay xở được nhiều y thật mau mắn, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y." Này các Tỷ kheo, ở đây, trong những đêm mùa đông lạnh lẽo, vào khoảng giữa tháng Aṭṭhaka là mùa tuyết rơi, ta ngồi ở ngoài trời vào ban đêm chỉ với một y và ta không có cảm giác lạnh. Khi canh một đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y thứ hai và ta không còn cảm giác lạnh. Khi canh giữa đã qua, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y thứ ba và ta không còn cảm giác lạnh. Khi canh cuối đã qua, khi hừng đông đã rạng, trời đêm lộ vẻ rạng rỡ, cảm giác lạnh đã xuất hiện ở ta, ta đã trùm lên y thứ tư và ta không còn cảm giác lạnh. Khi ấy, ta đã khởi ý rằng: "Những vị ở trong Pháp và Luật này là con trai của những nhà danh giá thường bị ảnh hưởng bởi sự lạnh và khiếp sợ sự lạnh, các vị ấy có thể đối phó (với sự lạnh) bằng ba y, hay là ta nên xác định sự hạn chế về y và quy định sự giới hạn về y cho các Tỷ kheo, ta nên cho phép ba y." Này các Tỷ kheo, ta cho phép ba y gồm có y saṅghāṭi hai lớp, thượng y (uttarāsaṅgaṃ) một lớp, và y nội (antaravāsakaṃ) một lớp. [151] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): "Đức Thế Tôn đã cho phép ba y," rồi đi vào làng với ba y khác, sinh hoạt trong tu viện với ba y khác nữa, và đi xuống tắm với ba y khác nữa. Các Tỷ kheo ít ham muốn, ...(như trên)... Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các Tỷ kheo nhóm Lục Sư lại sử dụng y phụ trội (atirekacīvaraṃ)? Rồi các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi đã bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên sử dụng y phụ trội, vị nào sử dụng thì nên được hành xử theo Pháp. Vào lúc bấy giờ, y phụ trội đã phát sanh đến Đại đức Ānanda. Và Đại đức Ānanda có ý muốn dâng y ấy đến Đại đức Sāriputta. Đại đức Sāriputta đang ngụ ở Sāketa. Khi ấy, Đại đức Ānanda khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn quy định rằng: 'Không nên sử dụng y phụ trội.' Và y phụ trội này đã phát sanh đến ta. Và ta có ý muốn dâng y này đến Đại đức Sāriputta mà Đại đức Sāriputta lại đang ngụ ở Sāketa. Vậy ta nên thực hành như thế nào?" Sau đó, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này Ānanda, bao lâu nữa Sāriputta sẽ đi lại đây? - Bạch Thế Tôn, ngày thứ chín hoặc ngày thứ mười. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi đã bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép cất giữ y phụ trội tối đa mười ngày. Khi ấy, các vị Tỷ kheo đã khởi ý rằng: "Chúng ta nên thực hành như thế nào đối với các y phụ trội?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo ta cho phép chú nguyện để dùng chung (vikappetuṃ) y phụ trội. [152] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Vệ Xá (Vesālī) theo như ý thích đã ra đi du hành đến thành Ba La Nại (Bāraṇasī). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Bārāṇasī. Tại nơi đó, ở Bārāṇasī, đức Thế Tôn ngự tại Isipatana, nơi vườn nai. Vào lúc bấy giờ, y nội của một Tỷ kheo nọ bị rách. Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã cho phép ba y gồm có y saṅghāṭi hai lớp, thượng y một lớp, và y nội một lớp. Và y nội này của ta bị rách, hay là ta nên đắp thêm một miếng vá, như thế xung quanh sẽ là hai lớp và ở giữa là một lớp." Đức Thế Tôn trong khi đi bộ dạo quanh các chỗ trú ngụ đã nhìn thấy vị Tỷ kheo ấy đang đắp thêm một mảnh vải, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp vị Tỷ kheo ấy, sau khi đến đã nói với vị Tỷ kheo ấy điều này: - Này Tỷ kheo, ngươi làm gì vậy? - Bạch Thế Tôn, con đắp thêm một mảnh vải. - Này Tỷ kheo, thật tốt thay, thật tốt thay! Này Tỷ kheo, thật tốt thay việc ngươi đắp thêm mảnh vải! Rồi đức Thế Tôn nhân lý do đó, nhân sự việc đó đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép khi vải là mới hoặc được xem như mới thì y saṅghāṭi là hai lớp, thượng y (uttarāsaṅgaṃ) là một lớp, và y nội (antaravāsakaṃ) là một lớp. Khi vải đã bị sờn bởi thời gian thì y saṅghāṭi là bốn lớp, thượng y là hai lớp, và y nội là hai lớp. Theo như nhu cầu, nên nổ lực (tìm kiếm) vải dơ bị quăng bỏ hay (được bỏ rơi) ở các cửa tiệm. Này các Tỷ kheo, ta cho phép (đắp thêm) mảnh vải, (dùng) chỉ mạng, (đắp chồng) một lớp nữa, miếng vá nhỏ, và việc may lại cho chắc chắn. [153] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Vương Xá (Rājagaha) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Xá Vệ (Sāvatthi). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Sāvatthi. Tại nơi đó, ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng bài Pháp thoại. Sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, bà Visākhā mẹ của Migāra đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, bà Visākhā mẹ của Migāra hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Vào lúc bấy giờ, khi trải qua đêm ấy, một đám mây lớn khắp cả bốn châu đã đổ mưa xuống. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo với các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, trời mưa ở Jetavana như thế nào thì trời mưa ở bốn châu cũng như thế ấy. Này các Tỷ kheo, hãy để cho thân thể ướt đẫm nước mưa đi, đây là trận mưa lớn khắp cả bốn châu lần cuối cùng. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi các vị Tỷ kheo ấy nghe theo đức Thế Tôn cởi y ra và để cho thân thể ướt đẫm nước mưa. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra đã cho chuẩn bị vật thực thượng hạng cứng mềm rồi bảo người tớ gái rằng: - Này em, hãy đi đến tu viện, sau khi đến hãy thông báo thời giờ rằng: "Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong." - Thưa bà, xin vâng. Rồi người tớ gái nghe theo bà Visākhā mẹ của Migāra đã đi đến tu viện và nhìn thấy các vị Tỷ kheo có y đã được cởi ra và đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): "Các Tỷ kheo không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa" rồi đã đi đến gặp bà Visākhā mẹ của Migāra, sau khi đến đã nói với bà Visākhā mẹ của Migāra điều này: - Thưa bà, các Tỷ kheo không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra là người trí tuệ, kinh nghiệm, thông minh đã khởi ý rằng: "Chắc chắn là các ngài Đại đức đã cởi y ra và để cho thân thể ướt đẫm nước mưa! Cô gái đần độn này đã nghĩ rằng: 'Các Tỷ kheo không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa'," nên đã bảo người tớ gái rằng: - Này em, hãy đi đến tu viện, sau khi đến hãy thông báo thời giờ rằng: "Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong." Khi đó, các vị Tỷ kheo ấy sau khi đã làm cho mát mẻ, cơ thể được khoẻ khoắn, đã mặc y, rồi đi vào trú xá của mình. Rồi người tớ gái ấy đã đi đến tu viện, khi không thấy các vị Tỷ kheo (nghĩ rằng): "Các Tỷ kheo không có ở trong tu viện, tu viện thì trống không," rồi đã đi đến gặp bà Visākhā mẹ của Migāra, sau khi đến đã nói với bà Visākhā mẹ của Migāra điều này: - Thưa bà, các Tỷ kheo không có ở trong tu viện, tu viện thì trống không. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra là người trí tuệ, kinh nghiệm, thông minh đã khởi ý rằng: "Chắc chắn là các ngài Đại đức sau khi đã làm cho mát mẻ, cơ thể được khoẻ khoắn, đã mặc y, rồi đi vào trú xá của mình. Cô gái đần độn này lại nghĩ rằng: 'Các Tỷ kheo không có ở trong tu viện, tu viện thì trống không' ," nên lại bảo người tớ gái rằng: - Này em, hãy đi đến tu viện, sau khi đến hãy thông báo thời giờ rằng: "Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong." Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, hãy sẵn sàng y bát, đã đến thời điểm của bữa ăn. - Bạch ngài, xin vâng. Các vị Tỷ kheo đã đáp lời đức Thế Tôn Sau đó, đức Thế Tôn giống như một người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế, đã biến mất tại Kỳ Viên (Jetavana) rồi hiện ra ở cổng nhà của bà Visākhā mẹ của Migāra. Rồi đức Thế Tôn đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được xếp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Khi ấy , bà Visākhā mẹ của Migāra (nghĩ rằng): "Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại oai lực! Trong khi cơn lụt đang dâng tới mức đầu gối, trong khi cơn lụt đang dâng lên tới hông thế mà không một vị Tỷ kheo nào có các bàn chân hoặc y bị ướt!" trở nên hoan hỷ, phấn khởi rồi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm, đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa, đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, bà Visākhā mẹ của Migāra đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, con cầu xin đức Thế Tôn tám điều ước muốn. - Này Visākhā, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn. - Bạch ngài, các điều ấy là hợp lý, các điều ấy không bị chê trách. - Này Visākhā, hãy nói đi. - Bạch ngài, con muốn dâng vải choàng (tắm) mưa đến hội chúng, dâng thức ăn dành cho vị đi đến (āgantukabhattaṃ), dâng thức ăn dành cho vị ra đi (gamikabhattaṃ), dâng thức ăn dành cho vị bị bệnh (gilānabhattaṃ), dâng thức ăn dành cho vị chăm sóc bệnh (gilānupaṭṭhākabhattaṃ), dâng dược phẩm dành cho vị bị bệnh (gilānabhesajjaṃ), dâng cháo hàng ngày (dhuvayāguṃ), dâng vải choàng tắm (udakasāṭikaṃ) đến hội chúng Tỷ kheo ni đến hết đời này. - Này Visākhā, trong khi thấy rõ sự hữu dụng gì mà bà lại cầu xin Như Lai tám điều ước muốn? - Bạch ngài, ở đây, con đã bảo người tớ gái rằng: "Này em, hãy đi đến tu viện, sau khi đến hãy thông báo thời giờ rằng: 'Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong'." Khi ấy, người tớ gái ấy đã đi đến tu viện và nhìn thấy các vị Tỷ kheo có y đã được cởi ra và đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa, sau khi nhìn thấy (nghĩ rằng): "Các Tỷ kheo không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa" rồi đã đi đến gặp con, sau khi đến đã nói với con điều này: "Thưa bà, các Tỷ kheo không có ở trong tu viện, (chỉ có) các đạo sĩ lõa thể đang để cho thân thể ướt đẫm nước mưa." Bạch ngài, sự trần truồng là không tinh khiết, ghê tởm, bị lên án. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng vải choàng (tắm) mưa đến hết đời này. Bạch ngài, còn điều khác nữa, vị Tỷ kheo vãng lai không rành rẽ đường xá, không rành rẽ khu vực, đi khất thực trong khi đang mệt mỏi. Vị ấy sau khi thọ thực thức ăn dành cho vị vãng lai của con (khi được) rành rẽ đường xá, rành rẽ khu vực, sẽ đi khất thực trong khi không còn mệt nhọc. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng thức ăn dành cho vị vãng lai đến hết đời này. Bạch ngài, còn điều khác nữa, vị Tỷ kheo ra đi trong khi tự mình tìm kiếm vật thực sẽ bị trễ đoàn lữ hành, sẽ đến được nơi (mà vị ấy) có ý muốn đi đến vào lúc trời tối, sẽ phải đi đường xa trong khi đang mệt mỏi. Vị ấy sau khi thọ thực thức ăn dành cho vị ra đi của con sẽ không bị trễ đoàn lữ hành, sẽ không đến được nơi (mà vị ấy) có ý muốn đi đến vào lúc trời tối, sẽ đi đường xa trong khi không mệt nhọc. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng thức ăn dành cho vị ra đi đến hết đời này. Bạch ngài, còn điều khác nữa, vị Tỷ kheo bị bệnh trong khi không nhận được thức ăn thích hợp, bệnh tình sẽ trầm trọng, và sẽ từ trần. Trong khi vị ấy thọ dụng thức ăn dành cho vị bệnh của con, bệnh tình sẽ không trầm trọng, và sẽ không từ trần. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng thức ăn dành cho vị bị bệnh đến hết đời này. Bạch ngài, còn điều khác nữa, vị Tỷ kheo là vị chăm sóc bệnh trong khi tự mình tìm kiếm thức ăn sẽ đem lại thức ăn của vị bệnh lúc mặt trời đã lên (cao) và sẽ bị lỡ bữa ăn. Vị ấy sau khi thọ dụng thức ăn dành cho vị chăm sóc bệnh của con sẽ đem lại thức ăn của vị bệnh lúc đúng thời và sẽ không bị lỡ bữa ăn. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng dâng thức ăn dành cho vị chăm sóc bệnh Bạch ngài, còn điều khác nữa, vị Tỷ kheo bị bệnh trong khi không nhận được các loại dược phẩm thích hợp, bệnh tình sẽ trầm trọng, và sẽ từ trần. Trong khi vị ấy thọ dụng dược phẩm dành cho vị bệnh của con, bệnh tình sẽ không trầm trọng, và sẽ không từ trần. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng dược phẩm dành cho vị bị bệnh đến hết đời này. Bạch ngài, còn điều khác nữa, ở Andhakavinde do thấy rõ mười điều lợi ích mà đức Thế Tôn đã cho phép (thọ dụng) cháo. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng cháo hàng ngày đến hết đời này. Bạch ngài, còn điều khác nữa, các Tỷ kheo ni trong khi tắm trần truồng với các cô điếm ở một bãi tắm của sông Aciravatī, bạch ngài các cô điếm ấy đã chế giễu các vị Tỷ kheo ni rằng: "Các bà Đại đức ơi, vì điều gì mà các bà thực hành Phạm hạnh trong lúc đang còn trẻ vậy? Chớ không phải là các dục lạc nên được thỏa thích hay sao? Khi nào trở nên già cả, các bà sẽ thực hành Phạm hạnh, như thế các bà sẽ vớ được cả hai đầu mối." Bạch ngài, khi bị các cô điếm chế giễu, các vị Tỷ kheo ni ấy đã mắc cở. Bạch ngài, sự trần truồng của phụ nữ là không tinh khiết, ghê tởm, bị lên án. Bạch ngài, trong khi thấy rõ sự hữu dụng này mà con muốn dâng đến hội chúng Tỷ kheo ni vải choàng tắm đến hết đời này. - Này Visākhā, trong khi thấy rõ lợi ích gì mà bà lại cầu xin Như Lai tám điều ước muốn? - Bạch ngài, trong trường hợp này, các Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa ở các phương sẽ đi đến Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, các vị ấy sau khi đi đến gặp đức Thế Tôn sẽ hỏi rằng: "Bạch ngài, vị Tỷ kheo tên (như vầy) đã từ trần. Cõi tái sanh của vị ấy là gì? Cảnh giới tương lai của vị ấy là gì?" Đức Thế Tôn sẽ nói về vị ấy rằng: "Trong quả vị Thất Lai, hoặc là trong quả vị Nhất Lai, hoặc là trong quả vị Bất Lai, hoặc là trong quả vị A La Hán." Và con sẽ đi đến gặp (các vị) và hỏi rằng: "Bạch ngài, có phải vị Đại đức ấy trước đây đã đi đến Sāvatthi?" Nếu các vị trả lời con rằng: "Vị Tỷ kheo ấy trước đây đã đi đến Sāvatthi." Trường hợp ấy, con sẽ đi đến sự khẳng định là: "Không phải nghi ngờ nữa là vị Đại đức ấy đã thọ dụng hoặc là vải choàng (tắm) mưa, hoặc là thức ăn dành cho vị vãng lai, hoặc là thức ăn dành cho vị ra đi, hoặc là thức ăn dành cho vị bị bệnh, hoặc là thức ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, hoặc là dược phẩm dành cho vị bị bệnh, hoặc là cháo hàng ngày," trong khi nhớ lại điều ấy, sự hân hoan sẽ được sanh khởi nơi con, do sự hân hoan mà hỷ sẽ được sanh khởi, do tâm có hỷ mà thân sẽ khinh an, do thân được khinh an con sẽ biết được sự an lạc, có sự an lạc tâm sẽ định, con sẽ có được sự tu tập về Căn Quyền, có sự tu tập về Lực, có sự tu tập về Giác Chi. Bạch ngài, trong khi thấy rõ lợi ích này mà con cầu xin Như Lai tám điều ước muốn. - Này Visākhā, thật tốt lắm, thật tốt lắm! Này Visākhā, thật tốt thay trong khi thấy rõ lợi ích này mà bà cầu xin Như Lai tám điều ước muốn. Này Visākhā, ta cho phép tám điều ước muốn ấy. Sau đó, đức Thế Tôn đã tùy hỷ công đức cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng những lời kệ rằng: [154]
[155] Sau khi tùy hỷ công đức cho bà Visākhā mẹ của Migāra bằng những lời kệ này, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi đã bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép vải choàng (tắm) mưa, thức ăn dành cho vị vãng lai, thức ăn dành cho vị ra đi, thức ăn dành cho vị bị bệnh, thức ăn dành cho vị chăm sóc bệnh, dược phẩm dành cho vị bị bệnh, cháo hàng ngày, vải choàng tắm đến hội chúng Tỷ kheo ni Dứt Tụng Phẩm thứ nhì, "Visākhā". [1] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng 1 kāsī là một ngàn (?), có thể là kahāpaṇa, một loại tiền vàng. -ooOoo-
Ðầu trang | Mục lục |
01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 | |