Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng Phẩm thứ nhì

[113] Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y. Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y. Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: "Ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

[114] Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: "Ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

[115] Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y và không có dứt khoát; vị ấy không khởi ý rằng: "Ta có thể trở về" và vị ấy cũng không khởi ý rằng: "Ta có thể không trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y và không có dứt khoát; vị ấy không khởi ý rằng: "Ta có thể trở về" và vị ấy cũng không khởi ý rằng: "Ta có thể không trở về." . Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y và không có dứt khoát; vị ấy không khởi ý rằng: "Ta có thể trở về" và vị ấy cũng không khởi ý rằng: "Ta có thể không trở về." . Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y và không có dứt khoát; vị ấy không khởi ý rằng: "Ta có thể trở về" và vị ấy cũng không khởi ý rằng: "Ta có thể không trở về." . Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: "Ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Dứt mười hai trường hợp "không như ý mong mỏi."

[116] Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: "Ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

[117] Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: "Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi." Vị ấy khởi ý như vầy: "Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: "Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi." Vị ấy khởi ý như vầy: "Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: "Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi." Vị ấy khởi ý như vầy: "Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nghe được (tin) rằng: "Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi." Vị ấy khởi ý như vầy: "Bởi vì Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi, vậy ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

[118] Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, nghe được (tin) rằng: "Nghe nói Kaṭhina tại trú xứ ấy đã được thâu hồi." Sự việc nghe được (tin) là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: "Ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về, ta có thể trở về," và chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi với niềm mong mỏi về y (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được như ý mong mỏi và không nhận được không như ý mong mỏi. Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về, ta có thể trở về." Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị Tỷ kheo ấy là chung (lượt) với các vị Tỷ kheo.

Dứt mười hai trường hợp "như ý mong mỏi."

[119] Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

 Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó. Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

[120] Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

 Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

[121] Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó, và không có dứt khoát; vị ấy không khởi ý rằng: "Ta có thể trở về" và vị ấy cũng không khởi ý rằng: "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó, và không có dứt khoát; vị ấy không khởi ý rằng: "Ta có thể trở về" và vị ấy cũng không khởi ý rằng: "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó, và không có dứt khoát; vị ấy không khởi ý rằng: "Ta có thể trở về" và vị ấy cũng không khởi ý rằng: "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Vị ấy nhận được không như ý mong mỏi và không nhận được như ý mong mỏi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu, ra đi chính vì có công việc cần làm nào đó, và không có dứt khoát; vị ấy không khởi ý rằng: "Ta có thể trở về" và vị ấy cũng không khởi ý rằng: "Ta có thể không trở về." Khi vị ấy đi ra khỏi ranh giới thì niềm mong mỏi về y sanh khởi. Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể lưu tâm đến niềm mong mỏi về y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy lưu tâm đến niềm mong mỏi về y ấy. Niềm mong mỏi về y ấy của vị ấy bị tan vỡ. Sự đổ vỡ trong niềm mong mỏi về y là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Dứt mười hai trường hợp "có công việc cần làm."

[122] Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi không mang theo phần chia về y. Các vị Tỷ kheo đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:

- Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các đại đức, phần chia y của tôi đâu?

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, đây là phần chia y của ngài. Ngài sẽ đi đâu vậy?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị Tỷ kheo ở đó sẽ làm y cho tôi.

Các vị ấy nói như vầy:

- Được rồi, này đại đức, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ...(như trên)... Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ...(như trên)... Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

[123] Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi không mang theo phần chia về y. Các vị Tỷ kheo đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:

- Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các đại đức, phần chia y của tôi đâu?

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, đây là phần chia y của ngài.

Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Giữa đường đi, các vị Tỷ kheo hỏi vị ấy rằng:

- Này đại đức, ngài sẽ đi đâu?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị Tỷ kheo ở đó sẽ làm y cho tôi.

Các vị ấy nói như vầy:

- Được rồi, này đại đức, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi không mang theo phần chia về y. Các vị Tỷ kheo đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:

- Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các đại đức, phần chia y của tôi đâu?

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, đây là phần chia y của ngài.

Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Giữa đường đi, các vị Tỷ kheo hỏi vị ấy rằng:

- Này đại đức, ngài sẽ đi đâu?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị Tỷ kheo ở đó sẽ làm y cho tôi.

Các vị ấy nói như vầy:

- Được rồi, này đại đức, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi không mang theo phần chia về y. Các vị Tỷ kheo đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:

- Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các đại đức, phần chia y của tôi đâu?

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, đây là phần chia y của ngài.

Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Giữa đường đi, các vị Tỷ kheo hỏi vị ấy rằng:

- Này đại đức, ngài sẽ đi đâu?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi sẽ đi trú xứ kia, các vị Tỷ kheo ở đó sẽ làm y cho tôi.

Các vị ấy nói như vầy:

- Được rồi, này đại đức, ngài chớ có đi. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

[124] Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi không mang theo phần chia về y. Các vị Tỷ kheo đã hỏi vị du hành phương xa ấy rằng:

- Này đại đức, ngài đã trú mùa (an cư) mưa ở đâu? Và phần chia về y của ngài đâu?

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi đã trú mùa (an cư) mưa ở trú xứ kia và phần chia về y của tôi còn ở nơi ấy.

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, hãy đi và đem y ấy lại. Chúng tôi sẽ làm y cho ngài ở đây.

Vị ấy đi về lại trú xứ ấy và hỏi các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các đại đức, phần chia y của tôi đâu?

Các vị ấy nói như vầy:

- Này đại đức, đây là phần chia y của ngài.

Vị ấy cầm lấy y ấy và đi đến trú xứ kia. Khi đã đi đến trú xứ kia, vị ấy đã khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ...(như trên)... "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị du hành phương xa, ra đi ...(như trên)... "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Dứt chín trường hợp "không mang theo."

[125] Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị sống ở trú xá với sự an lạc, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): "Ta sẽ đi đến trú xứ ấy. Nếu ở nơi đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ kia. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ nọ. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ trở về." Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Sự việc (y) được hoàn tất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị sống ở trú xá với sự an lạc, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): "Ta sẽ đi đến trú xứ ấy. Nếu ở nơi đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ kia. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ nọ. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ trở về." Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: "Ta có thể không nhờ (người) làm y này nữa và có thể không trở về." Sự việc tự mình quyết định là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị sống ở trú xá với sự an lạc, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): "Ta sẽ đi đến trú xứ ấy. Nếu ở nơi đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ kia. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ nọ. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ trở về." Khi vị ấy đi khỏi ranh giới thì khởi ý như vầy: "Ta có thể nhờ (người) làm y này ở chỗ kia và có thể không trở về." Vị ấy nhờ (người) làm y ấy. Trong khi y ấy của vị ấy đang được làm thì bị mất. Sự việc bị mất là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị sống ở trú xá với sự an lạc, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): "Ta sẽ đi đến trú xứ ấy. Nếu ở nơi đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ kia. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ nọ. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về, ta có thể trở về," rồi chờ đợi sự hết hiệu lực Kaṭhina ở bên ngoài. Sự việc vượt qua ranh giới là sự hết hiệu lực Kaṭhina đối với vị Tỷ kheo ấy.

Có vị Tỷ kheo, có Kaṭhina đã được thành tựu và là vị sống ở trú xá với sự an lạc, đã cầm lấy y rồi ra đi (nghĩ rằng): "Ta sẽ đi đến trú xứ ấy. Nếu ở nơi đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ kia. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ đi đến trú xứ nọ. Nếu ở đó có sự an lạc cho ta, ta sẽ cư ngụ. Nếu không có sự an lạc cho ta, ta sẽ trở về." Vị ấy đã đi ra khỏi ranh giới và nhờ (người) làm y ấy. Vị ấy, có y đã được làm xong, (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về, ta có thể trở về." Thời điểm hết hiệu lực Kaṭhina đã đến. Sự hết hiệu lực Kaṭhina của vị Tỷ kheo ấy là chung (lượt) với các vị Tỷ kheo.

Dứt năm trường hợp "trú xá với sự an lạc."

[126] Này các Tỷ kheo, đây là hai điều vướng bận (palibodha) của Kaṭhina, hai điều không vướng bận (apalibodha).

Và này các Tỷ kheo, hai điều vướng bận của Kaṭhina là gì?

Sự vướng bận về trú xứ và sự vướng bận về y.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là sự vướng bận về trú xứ?

Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo cư ngụ tại trú xứ nọ, khởi lên ước muốn rồi ra đi (nghĩ rằng): "Ta có thể trở về." Này các Tỷ kheo, như vậy là có sự vướng bận về trú xứ.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là sự vướng bận về y?

Này các Tỷ kheo, trường hợp y vị Tỷ kheo chưa được làm, hoặc là chưa được hoàn tất, hoặc là niềm mong mỏi về y chưa bị tan vỡ. Này các Tỷ kheo, như vậy là có sự vướng bận về y.

Này các Tỷ kheo, đây là đây là hai điều vướng bận của Kaṭhina.

Và này các Tỷ kheo, hai điều không vướng bận (apalibodha) của Kaṭhina là gì?

Sự không vướng bận về trú xứ và sự không vướng bận về y.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là sự không vướng bận về trú xứ?

Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo ra đi từ trú xứ ấy, với sự buông bỏ, với sự từ bỏ, với sự dứt bỏ, với sự không quan tâm (nghĩ rằng): "Ta có thể không trở về." Này các Tỷ kheo, như vậy là có sự không vướng bận về trú xứ.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là sự không vướng bận về y?

Này các Tỷ kheo, trường hợp y vị Tỷ kheo đã được làm xong, hoặc bị mất, hoặc bị hư hỏng, hoặc bị cháy, hoặc là niềm mong mỏi về y bị tan vỡ. Này các Tỷ kheo, như vậy là có sự không vướng bận về y.

Này các Tỷ kheo, đây là đây là hai điều không vướng bận của Kaṭhina.

Dứt Chương Kaṭhina là chương thứ bảy.

Trong chương này có mười hai sự việc và một trăm lẻ mười tám vấn đề được lặp lại.

Tóm lược chương này:

[127]

Ba mươi vị Tỷ kheo
người ở xứ Pāvā
với tâm chẳng hài lòng
trú ở Sāketa.
Qua mùa an cư mưa,
các vị đã ra đi
diện kiến bậc Chiến Thắng
với (y) thấm đầy nước.
Đây chuyện Kaṭhina
và năm điều được phép:
không báo, không mang theo,
cũng thế ăn thành nhóm,
và giữ y tùy thích,
y phát sanh sẽ có
cho các vị thành tựu.
Lời đề nghị như thế,
và cũng thế thành tựu,
không thành tựu cũng thế:
được đánh dấu, và giặt,
tính toán, và việc cắt,
kết chỉ tạm, may thêm,
gắn miếng vải làm dấu,
may chắc chắn, may viền,
phần giữa, đắp lớp nữa,
nhuộm, dấu hiệu, lời giảng,
tạm thời, việc trì hoãn,
hủy bỏ, chưa được phép,
ngoại trừ ba y ấy,
ngoại trừ y năm điều,
hoặc nhiều điều hơn nữa,
được cắt rồi kết lại,
không ngoại trừ cá nhân
là được làm đúng đắn,
tùy hỷ đứng ngoài ranh
Kaṭhina không thành,
như thế đức Phật thuyết.
Không dơ, như không dơ,
choàng cũ, đồ quăng bỏ,
vải rơi nơi cửa tiệm,
không ra hiệu, thuyết giảng,
không tạm thời, không hoãn,
không hủy, dấu đã làm,
cũng thế là ba y,
năm điều hoặc hơn thế,
đã cắt, được kết lại,
thành tựu bởi cá nhân,
là việc làm đúng đắn,
tùy hỷ trong ranh giới,
như thế là thành tựu
của việc Kaṭhina.
Sự thu hồi tám điều:
sự ra đi, hoàn tất,
tự quyết định, mất đi,
nghe được, hết mong mỏi,
ranh giới, sự thu hồi
đồng lúc là thứ tám.
Cầm lấy y đã làm,
vị đi "không trở lại,"
Kaṭhina vị ấy
là đã được thu hồi
trong trường hợp ra đi.
Cầm lấy y chưa làm,
ra đi khỏi ranh giới,
vị ấy đã nghĩ rằng:
"Nơi đây ta sẽ làm
và không quay trở lại,"
trong khi được hoàn tất,
thu hồi Kaṭhina.
Cầm lấy, khỏi ranh giới,
vị ấy không nghĩ rằng:
"Ta không quay trở về,"
việc Kaṭhina ấy
của vị ấy thu hồi
có trong khi quyết định.
Cầm lấy y ra đi
khỏi ranh giới đã nghĩ:
"Nơi đây, ta sẽ làm
và không quay về nữa,"
trong khi làm bị mất,
việc Kaṭhina ấy
của vị ấy thu hồi
có trong trường hợp mất.
Cầm lấy rồi ra đi,
"Ta sẽ quay trở về,"
ở ngoài nhờ làm y,
y đã làm nghe được,
Kaṭhina nơi kia
đã được cho thu hồi,
việc Kaṭhina ấy
của vị ấy thu hồi
có trong trường hợp nghe.
Cầm lấy rồi ra đi,
"Ta sẽ quay trở về,"
ở ngoài nhờ làm y,
y đã được làm xong,
ở bên ngoài chờ đợi
thu hồi Kaṭhina;
việc Kaṭhina ấy
của vị ấy thu hồi
có do vượt qua ranh.
Cầm lấy rồi ra đi,
"Ta sẽ quay trở về,"
ở ngoài nhờ làm y,
y đã được làm xong,
"Ta sẽ quay trở về,"
đã đến thời của việc
thu hồi Kaṭhina;
việc Kaṭhina ấy
của vị ấy thu hồi
sanh lên đồng một lượt
với các vị Tỷ kheo.
Cầm lấy và mang theo,
có bảy, bảy phương thức,
những trường hợp ra đi,
không có trong nhóm sáu
đường lối chưa hoàn tất.
Cầm lấy đi khỏi ranh,
khởi ý "Sẽ nhờ làm"
làm xong, tự quyết định
bị mất, ba điều này.
Cầm lấy, "Ta không về,
ta làm ngoài ranh giới,"
làm xong, tự quyết định,
bị mất, ba điều này.
Khi không được dứt khoát,
cũng không cho vị ấy,
ba phương thức bên dưới.
Cầm lấy và ra đi
"Ta sẽ quay trở về,
ta làm ngoài ranh giới,"
"Ta sẽ không quay về"
vị nhờ làm hoàn tất,
thu hồi Kaṭhina.
Tự quyết định, bị mất,
nghe được, vượt qua ranh,
được sanh khởi đồng thời
với các vị Tỷ kheo,
như vầy mười lăm lối.
Mang theo, chưa hoàn tất,
mang theo như thế nữa,
bốn trường hợp này đây
toàn bộ mười lăm cách.
Không theo sự ước mốn,
và như sự mong mỏi,
có công việc cần làm,
ba điều ấy, nên hiểu
việc ấy từ phương thức
ba, mười hai, mười hai,
không thu gom, an lạc,
năm đường lối, nơi đây,
vướng bận, không vướng bận,
sự tóm tắt được làm
từ điều đã hướng dẫn.

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]