|
Tạng Luật Đại Phẩm Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch Tụng Phẩm thứ tư [78] Vào lúc bấy giờ, các vương tử giòng Licchavi rất danh tiếng khi ngồi trong nhà hội họp hoặc khi tụ hội lại đều tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng bằng vô số cách thức. Vào lúc bấy giờ, tướng quân Sīha là đệ tử của Nigaṇṭha đang ngồi trong tập thể ấy. Khi ấy, tướng quân Sīha đã khởi ý rằng: "Không còn nghi ngờ gì nữa đức Thế Tôn ấy phải là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác bởi vì chính các vương tử giòng Licchavi rất danh tiếng khi ngồi trong nhà hội họp, hoặc khi tụ hội lại đều tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng bằng vô số cách thức; hay là ta nên đi đến để diện kiến đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác?" Sau đó, tướng quân Sīha đã đi đến gặp Nigaṇṭha Nāṭaputta,[1] sau khi đến đã đảnh lễ Nigaṇṭha Nāṭaputta rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, tướng quân Sīha đã nói với Nigaṇṭha Nāṭaputta điều này: - Bạch ngài, tôi muốn đi đến để diện kiến Sa môn Gotama. - Này Sīha, ngươi là người theo thuyết hành động, sao lại đi đến diện kiến Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động? Này Sīha, chính Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về Pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy. Khi ấy, ước muốn đi đến để diện kiến đức Thế Tôn của tướng quân Sīha đã được lắng dịu đi. Đến lần thứ nhì, ...(như trên)... Đến lần thứ ba, các vương tử giòng Licchavi rất danh tiếng khi ngồi trong nhà hội họp, hoặc khi tụ hội lại đều tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng bằng vô số cách thức. Lần thứ ba tướng quân Sīha đã khởi ý rằng: "Không còn nghi ngờ gì nữa đức Thế Tôn ấy phải là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác bởi vì chính các vương tử giòng Licchavi rất danh tiếng khi ngồi trong nhà hội họp, hoặc khi tụ hội lại đều tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng bằng vô số cách thức. Những người Nigaṇṭha dầu có được hỏi ý kiến hay không được hỏi ý kiến thì sẽ làm được điều gì đối với ta? Hay là ta không cần hỏi ý kiến Nigaṇṭha và nên đi đến để diện kiến đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác?" Sau đó, tướng quân Sīha cùng với năm trăm cỗ xe đã rời thành Vesālī lúc mặt trời mọc để diện kiến đức Thế Tôn. Sau khi đi hết khoảng đường dành cho cỗ xe, tướng quân Sīha đã xuống xe dùng chính đôi chân đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi ngồi xuống ở một bên, tướng quân Sīha đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, tôi được nghe rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về Pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Bạch ngài, những người nào nói như vầy: "Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về Pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy," bạch ngài, có phải những người ấy nói đúng về đức Thế Tôn và không gièm pha đức Thế Tôn với sự sai trái? Và có phải những người ấy tuyên bố về pháp phù hợp với Pháp (của ngài) không? Và có phải bất cứ người nào sống theo Pháp, có lời nói hợp với giáo lý đều không có cơ sở để chê bai? Bạch ngài, chúng tôi thật tình không có ý lên án đức Thế Tôn. [79] - Này Sīha, có pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về Pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, có pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về hành động, giảng về Pháp hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, có pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về đoạn diệt, giảng về Pháp đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, có pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người có sự ghê tởm, giảng về Pháp ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, có pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người từ bỏ, giảng về Pháp từ bỏ, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, có pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thiêu đốt, giảng về Pháp thiêu đốt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, có pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thoát khỏi thai bào, giảng về Pháp thoát khỏi thai bào, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, có pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người tự tin, giảng về Pháp tự tin, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, thế nào là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về Pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, bởi vì ta giảng về không hành động của thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, ta giảng về không hành động của các pháp ác và bất thiện dưới nhiều hình thức. Này Sīha, đây là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về Pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, thế nào là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về hành động, giảng về Pháp hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, bởi vì ta giảng về hành động của thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, ta giảng về hành động của các thiện pháp dưới nhiều hình thức. Này Sīha, đây là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về hành động, giảng về Pháp hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, thế nào là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về đoạn diệt, giảng về Pháp đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, bởi vì ta giảng về sự đoạn diệt của tham, của sân, của si, ta giảng về sự đoạn diệt của các pháp ác và bất thiện dưới nhiều hình thức. Này Sīha, đây là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thuyết về đoạn diệt, giảng về Pháp đoạn diệt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, thế nào là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người có sự ghê tởm, giảng về Pháp ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, bởi vì ta ghê tởm với việc làm ác của thân, với lờì nói ác của miệng, với suy nghĩ ác của ý, ta giảng Pháp về sự ghê tởm trong sự tạo thành tựu của các pháp ác và bất thiện dưới nhiều hình thức. Này Sīha, đây là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người có sự ghê tởm, giảng về Pháp ghê tởm, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, thế nào là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người từ bỏ, giảng về Pháp từ bỏ, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, bởi vì ta giảng Pháp về sự từ bỏ tham, sân, si, ta giảng Pháp về sự từ bỏ các pháp ác và bất thiện dưới nhiều hình thức. Này Sīha, đây là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người từ bỏ, giảng về Pháp từ bỏ, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, thế nào là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thiêu đốt, giảng về Pháp thiêu đốt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, ta giảng về các pháp ác và bất thiện là việc làm ác của thân, lờì nói ác của miệng, suy nghĩ ác của ý cần được thiêu đốt. Này Sīha, người nào có các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt đã được từ bỏ, đã được thực hiện như sự việc cây thốt nốt có gốc rễ đã được chặt đứt, đã được làm cho không còn hiện hữu, không còn sanh khởi trong tương lai; ta gọi người ấy là: "Người thiêu đốt." Này Sīha, các pháp ác và bất thiện cần được thiêu đốt của đức Như Lai đã được từ bỏ, đã được thực hiện như sự việc cây thốt nốt có gốc rễ đã được chặt đứt, đã được làm cho không còn hiện hữu, không còn sanh khởi trong tương lai. Này Sīha, đây là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thiêu đốt, giảng về Pháp thiêu đốt, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, thế nào là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thoát khỏi thai bào, giảng về Pháp thoát khỏi thai bào, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, sự sanh vào trong bào thai trong ngày vị lai của người nào, tức là sự tái sanh và hiện hữu lần nữa, đã được từ bỏ, đã được thực hiện như sự việc cây thốt nốt có gốc rễ đã được chặt đứt, đã được làm cho không còn hiện hữu, không còn sanh khởi trong tương lai; ta gọi người ấy là: "Người thoát khỏi thai bào." Này Sīha, sự sanh vào trong bào thai tức là sự hiện hữu lần nữa và là sự tái sanh của đức Như Lai trong ngày vị lai đã được từ bỏ, đã được thực hiện như sự việc cây thốt nốt có gốc rễ đã được chặt đứt, đã được làm cho không còn hiện hữu, không còn sanh khởi trong tương lai. Này Sīha, đây là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người thoát khỏi thai bào, giảng về Pháp thoát khỏi thai bào, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, thế nào là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người tự tin, giảng về Pháp tự tin, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." Này Sīha, bởi vì ta là người tự tin, ta giảng về sự tự tin với sự tự tin tối thượng, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy. Này Sīha, đây là pháp môn, với pháp môn ấy trong khi nói một cách đúng đắn về ta, có thể nói rằng: "Sa môn Gotama là người tự tin, giảng về Pháp tự tin, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy." [80] Khi được nghe nói vậy, tướng quân Sīha đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, thắp sáng cây đèn dầu ở trong bóng tối (nghĩ rằng): "Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;" cũng như thế ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. - Này Sīha, ông hãy tiến hành việc suy xét, việc suy xét đối với những người nổi tiếng như ông là tốt đẹp. - Bạch ngài, với lời nói này của đức Thế Tôn con càng thêm hoan hỷ và phấn khởi bởi vì đức Thế Tôn nói với con như vầy: "Này Sīha, ông hãy tiến hành việc suy xét, việc suy xét đối với những người nổi tiếng như ông là tốt đẹp." Bạch ngài, bởi vì sau khi thâu nhận con làm đệ tử, các ngoại đạo có thể vác cờ đi khắp cả Vesālī (rêu rao) rằng: "Tướng quân Sīha đã tự nguyện trở thành đệ tử của chúng tôi!" thế mà đức Thế Tôn lại nói với con như vầy: "Này Sīha, ông hãy tiến hành việc suy xét, việc suy xét đối với những người nổi tiếng như ông là tốt đẹp." Bạch ngài, lần thứ nhì con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. - Này Sīha, lâu nay gia đình ông là nguồn nước cho những người Nigaṇṭha, vì thế ngươi nên suy nghĩ đến việc vật thực cần được bố thí cho những người đã đi đến ấy. - Bạch ngài, với lời nói này của đức Thế Tôn con càng thêm hoan hỷ và phấn khởi bởi vì đức Thế Tôn nói với con như vầy: "Này Sīha, lâu nay gia đình ông là nguồn nước cho những người Nigaṇṭha, vì thế ngươi nên suy nghĩ đến việc vật thực cần được bố thí cho những người đã đi đến ấy." Bạch ngài, con đã được nghe điều này: "Sa môn Gotama nói như vầy: ‘Vật cúng dường chỉ nên dâng đến ta thôi, vật cúng dường không nên dâng đến những người khác. Vật cúng dường chỉ nên dâng đến các đệ tử của ta thôi, vật cúng dường không nên dâng đến các đệ tử của những người khác. Đã dâng đến riêng ta thôi thì có quả báu lớn, đã dâng đến những người khác thì không có quả báu lớn. Đã dâng đến các đệ tử của riêng ta thôi thì có quả báu lớn, đã dâng đến các đệ tử của những người khác thì không có quả báu lớn’," thế mà đức Thế Tôn lại khuyến khích con việc bố thí cho những người Nigaṇṭha. Bạch ngài, vả lại, trường hợp này chúng con sẽ biết thời điểm. Bạch ngài, lần thứ ba, con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Sau đó, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến tướng quân Sīha như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục, và ngài đã chỉ rõ lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của tướng quân Sīha đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến tướng quân Sīha: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt." Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, tướng quân Sīha đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn và hội chúng Tỷ kheo nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, tướng quân Sīha biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Rồi tướng quân Sīha đã ra lệnh cho một người đàn ông nọ rằng: - Này khanh, hãy đi và tìm (mua) loại thịt đã được làm sẵn (pavattamaṃsaṃ). Rồi khi trải qua đêm ấy, tướng quân Sīha đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư dinh của tướng quân Sīha, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Vào lúc bấy giờ, có nhiều người Nigaṇṭha, từ đường phố (này) đến đường phố (khác) từ giao lộ (này) đến giao lộ (khác), huơ tay kêu gào rằng: "Hôm nay, tướng quân Sīha đã giết một con thú lớn và làm bữa trai phạn cho Sa môn Gotama, Sa môn Gotama tuy biết được điều ấy, vẫn cố tình thọ dụng thịt được làm với sự xác định (người thọ dụng), (đó là) nghiệp có tính cách liên đới." Sau đó, có một người đàn ông nọ đã đi đến gặp tướng quân Sīha, sau khi đến đã thì thầm vào tai của tướng quân Sīha rằng: - Thưa tướng quân, ngài cần biết điều này. Những người Nigaṇṭha ấy, từ đường phố (này) đến đường phố (khác) từ giao lộ (này) đến giao lộ (khác), huơ tay kêu gào rằng: "Hôm nay, tướng quân Sīha đã giết một con thú lớn và đã làm bữa trai phạn cho Sa môn Gotama, Sa môn Gotama vẫn cố tình thọ dụng thịt được làm với sự xác định (người thọ dụng), (đó là) nghiệp có tính cách liên đới." - Ông bạn ơi, thôi đi! Đã từ lâu nay, các ngài Đại đức ấy có ý muốn phỉ báng Phật, có ý muốn phỉ báng Pháp, có ý muốn phỉ báng Tăng nhưng các ngài Đại đức ấy không lượng sức, phí công, láo khoét, đã vu khống với điều không thật mà vẫn không làm tổn hại được đức Thế Tôn ấy. Và không vì lý do tồn tại mà chúng tôi cố ý tước đoạt mạng sống của chúng sanh. Khi ấy, tướng quân Sīha sau khi tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi đã (đến) ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn khi ấy đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa. Rồi đức Thế Tôn, sau khi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho tướng quân Sīha đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên cố tình thọ dụng thịt được làm với sự xác định (người thọ dụng). Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, ta cho phép cá và thịt có được ba điều tuyệt đối thanh tịnh: không được thấy, không được nghe, không nghi ngờ.[2] [81] Vào lúc bấy giờ, thành Vesālī có sự sung túc về vật thực, các vụ mùa tốt đẹp, vật thực kiếm được dễ dàng, sự sinh sống được dễ dàng bằng sự mót nhặt hoặc sự tốt bụng (của người khác). Vào lúc bấy giờ, trong lúc đức Thế Tôn thiền tịnh ở nơi thanh vắng, một ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: "Những điều gì mà ta đã cho phép các vị Tỷ kheo trong lúc khó khăn về vật thực, mùa màng bị thất thu, vật thực kiếm được khó khăn (như là) (vật thực) đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở trong phòng, đã được tự mình nấu, do việc thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên, (vật thực) đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong, đã được thọ lãnh trước bữa ăn, đã được mọc ở rừng (hoặc) đã mọc ở hồ nước, và phải chăng ngay cả hôm nay các Tỷ kheo vẫn còn thọ dụng những thứ ấy?" Sau đó, vào lúc chiều tối, khi xuất khỏi thiền tịnh đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, những điều gì mà ta đã cho phép các vị Tỷ kheo trong lúc khó khăn về vật thực, mùa màng bị thất thu, vật thực kiếm được khó khăn (như là) (vật thực) đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở trong phòng, đã được tự mình nấu, do việc thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên, đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong, đã được thọ lãnh trước bữa ăn, đã được mọc ở rừng (hoặc) đã mọc ở hồ nước, và phải chăng ngay cả hôm nay các Tỷ kheo vẫn còn thọ dụng những thứ ấy? - Bạch đức Thế Tôn, các vị vẫn thọ dụng. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, những điều gì mà ta đã cho phép các vị Tỷ kheo trong lúc khó khăn về vật thực, mùa màng bị thất thu, vật thực kiếm được khó khăn (như là) (vật thực) đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở trong phòng, đã được tự mình nấu, do việc thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên, (vật thực) đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong, đã được thọ lãnh trước bữa ăn, đã được mọc ở rừng (hoặc) đã mọc ở hồ nước, kể từ hôm nay ta hủy bỏ những điều ấy. Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng (vật thực) đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở trong phòng, đã được tự mình nấu, do việc thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng (vật thực) đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong, đã được thọ lãnh trước bữa ăn, đã được mọc ở rừng (hoặc) đã mọc ở hồ nước. Vị nào thọ dụng thì nên được hành xử theo Pháp. [82] Vào lúc bấy giờ, dân chúng trong xứ sở đã cho người chất lên các xe hàng rất nhiều muối, dầu, gạo lức, vật thực loại cứng rồi đánh xe quây thành vòng tròn ở phía bên ngoài cổng lớn của tu viện và chờ đợi (nghĩ rằng): "Khi nào chúng tôi đến phiên, chúng tôi sẽ thực hiện bữa trai phạn," Và một đám mây đen lớn kéo đến. Khi ấy, những người ấy đã đi đến gặp Đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với Đại đức Ānanda điều này: - Bạch ngài Ānanda, ở đây rất nhiều muối, dầu, gạo lức, vật thực loại cứng đã được chất trong các xe hàng và chúng đang còn đó. Giờ một đám mây đen lớn kéo đến. Bạch ngài Ānanda, vậy chúng tôi nên thực hành như thế nào? Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này Ānanda, như thế thì hội chúng hãy chỉ định một trú xá ở ven rào làm khu vực cho phép (kappiyabhūmi); hãy tích trữ (vāsetu) vật mà hội chúng mong muốn ở nơi ấy, (có thể) là trú xá (vihāraṃ), nhà một mái (aḍḍhayogaṃ), toà nhà dài (pāsādaṃ), khu nhà lớn (hammiyaṃ), hang động (guhaṃ). Và này các Tỷ kheo, nên được chỉ định như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định trú xá tên (như vầy) làm khu vực cho phép. Đây là lời đề nghị. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định trú xá tên (như vầy) làm khu vực cho phép. Đại đức nào thỏa thuận với việc chỉ định trú xá tên (như vầy) làm khu vực cho phép xin im lặng; vị nào không thỏa thuận, có thể nói lên. Trú xá tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định làm khu vực cho phép. Sự việc được hội chúng thỏa thuận nên im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy." Vào lúc bấy giờ, tại ngay chỗ đã được chỉ định làm khu vực cho phép, dân chúng nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị xúp, băm thịt, chẻ củi. Sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm, đức Thế Tôn đã nghe tiếng ồn, tiếng động lớn, tiếng kêu của những con quạ; sau khi nghe, ngài đã hỏi Đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, tiếng ồn ấy, tiếng động lớn ấy, tiếng kêu của những con quạ là gì vậy? - Bạch ngài, hiện nay dân chúng nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị xúp, băm thịt, chẻ củi tại ngay chỗ đã được chỉ định làm khu vực cho phép; bạch Thế Tôn, đó chính là tiếng ồn, tiếng động lớn, tiếng kêu của những con quạ. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên sử dụng khu vực cho phép đã được chỉ định. Vị nào sử dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, ta cho phép ba loại khu vực cho phép là loại do sự công bố (ussāvanantikaṃ), loại do sự ngẫu nhiên (gonisādikaṃ), và loại thuộc về gia chủ (gahapatikaṃ). Vào lúc bấy giờ, Đại đức Yasoja bị bệnh. Các dược phẩm thuộc về nhu cầu của vị ấy được mang đến. Các vị Tỷ kheo đã tích trữ chúng ở bên ngoài. Các con thú hoang đã ăn đi. Những kẻ trộm đã lấy đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép sử dụng khu vực cho phép thuộc về chỉ định. Này các Tỷ kheo, ta cho phép bốn loại khu vực cho phép là là loại do sự công bố (ussāvanantikaṃ), loại do sự ngẫu nhiên (gonisādikaṃ), loại thuộc về gia chủ (gahapatikaṃ), và loại thuộc về chỉ định (sammatikaṃ). [83] Vào lúc bấy giờ, gia chủ Meṇḍaka cư ngụ ở trong thành phố Bhaddiya. Vị ấy có năng lực thần thông như vầy: Sau khi gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi vị ấy ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì một trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa. Người vợ có năng lực thần thông như vầy: Sau khi ngồi xuống bên cạnh một cái tô bằng kim loại và có một tô súp, nàng phân phát thức ăn cho nô tỳ, người làm công, và người hầu cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái tô vẫn không hết. Cậu con trai có năng lực thần thông như vầy: Sau khi cầm một cái túi chỉ chứa một ngàn đồng, cậu ta trả lương sáu tháng cho nô tỳ, người làm công, và người hầu cho đến khi nào tay của cậu ta chưa rời khỏi thì cái túi vẫn không cạn (tiền). Cô con dâu có năng lực thần thông như vầy: Sau khi ngồi xuống bên cạnh một cái giỏ dung tích bốn doṇi, nàng cho nô tỳ, người làm công, và người hầu thức ăn sáu tháng cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái giỏ vẫn không cạn. Người tớ trai có năng lực thần thông như vầy: Khi anh ta kéo cày chỉ một đường thì bảy luống cày xuất hiện. Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nghe được rằng: "Nghe nói trong vương quốc của chúng ta, có gia chủ Meṇḍaka cư ngụ ở trong thành phố Bhaddiya. Vị ấy có năng lực thần thông như vầy: Sau khi gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi vị ấy ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì một trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa. Người vợ có năng lực thần thông như vầy: Sau khi ngồi xuống bên cạnh một cái tô bằng kim loại và có một tô súp, nàng phân phát thức ăn cho nô tỳ, người làm công, và người hầu cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái tô vẫn không hết. Cậu con trai có năng lực thần thông như vầy: Sau khi cầm một cái túi chỉ chứa một ngàn đồng, cậu ta trả lương sáu tháng cho nô tỳ, người làm công, và người hầu cho đến khi nào tay của cậu ta chưa rời khỏi thì cái túi vẫn không cạn (tiền). Cô con dâu có năng lực thần thông như vầy: Sau khi ngồi xuống bên cạnh một cái giỏ dung tích bốn doṇi, nàng cho nô tỳ, người làm công, và người hầu thức ăn sáu tháng cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái giỏ vẫn không cạn. Người tớ trai có năng lực thần thông như vầy: Khi anh ta kéo cày chỉ một đường thì bảy luống cày xuất hiện." Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã bảo một viên quan đại thần nọ là vị tổng quản rằng: - Này khanh, nghe nói trong vương quốc của chúng ta, có gia chủ Meṇḍaka cư ngụ ở trong thành phố Bhaddiya. Vị ấy có năng lực thần thông như vầy: Sau khi gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi vị ấy ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì một trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa. ...(như trên)... Người tớ trai có năng lực thần thông như vầy: Khi anh ta kéo cày chỉ một đường thì bảy luống cày xuất hiện. Này khanh, hãy đi và tìm hiểu, ngươi được thấy như thế nào thì cũng như đích thân ta đã thấy vậy. - Tâu đại vương, xin tuân lệnh. Rồi viên quan đại thần ấy nghe theo đức vua Seniya Bimbisāsa xứ Magadha cùng với đội quân gồm bốn loại binh chủng đã khởi hành đi đến thành phố Bhaddiya, tuần tự đã đến thành phố Bhaddiya rồi đã đi đến gặp gia chủ Meṇḍaka, sau khi đến đã nói với gia chủ Meṇḍaka điều này: - Này gia chủ, bởi vì ta được lệnh của đức vua rằng: "Này khanh, nghe nói trong vương quốc của chúng ta, có gia chủ Meṇḍaka cư ngụ ở trong thành phố Bhaddiya. Vị ấy có năng lực thần thông như vầy: Sau khi gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi vị ấy ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì một trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa. ...(như trên)... Người tớ trai có năng lực thần thông như vầy: Khi anh ta kéo cày chỉ một đường thì bảy luống cày xuất hiện. Này khanh, hãy đi và tìm hiểu, ngươi được thấy như thế nào thì cũng như đích thân ta đã thấy vậy." Này gia chủ, hãy cho chúng ta thấy năng lực thần thông của ngươi. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã gội rửa đầu và bảo người quét kho lúa rồi ngồi xuống ở bên ngoài cánh cửa thì một trận mưa thóc từ trên trời rơi xuống và làm ngập đầy kho lúa. - Này gia chủ, năng lực thần thông của ngươi đã được thấy rồi. Hãy cho chúng ta thấy năng lực thần thông của vợ ngươi. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã cho người gọi vợ (rồi bảo rằng): - Như vậy thì nàng hãy phân phát thức ăn cho đội quân gồm bốn loại binh chủng đi. Khi ấy, sau khi ngồi xuống bên cạnh một cái tô bằng kim loại và có một tô súp, người vợ của gia chủ Meṇḍaka đã phân phát thức ăn cho đội quân gồm bốn loại binh chủng; cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái tô vẫn không hết. - Này gia chủ, năng lực thần thông của vợ ngươi đã được thấy rồi. Hãy cho chúng ta thấy năng lực thần thông của con trai ngươi. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã cho người gọi con trai (rồi bảo rằng): - Như vậy thì con hãy trả lương sáu tháng cho đội quân gồm bốn loại binh chủng đi. Khi ấy, sau khi cầm một cái túi chỉ chứa một ngàn đồng, người con trai của gia chủ Meṇḍaka đã trả lương sáu tháng cho đội quân gồm bốn loại binh chủng đi; cho đến khi nào tay của cậu ta chưa rời khỏi thì cái túi vẫn không cạn (tiền). - Này gia chủ, năng lực thần thông của con trai ngươi đã được thấy rồi. Hãy cho chúng ta thấy năng lực thần thông của con dâu ngươi. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã cho người gọi con dâu (rồi bảo rằng): - Như vậy thì con hãy cho đội quân gồm bốn loại binh chủng thức ăn sáu tháng đi. Khi ấy, sau khi ngồi xuống bên cạnh một cái giỏ dung tích bốn doṇi, người con dâu của gia chủ Meṇḍakanàng đã cho đội quân gồm bốn loại binh chủng thức ăn sáu tháng; cho đến khi nào nàng chưa đứng dậy thì cái giỏ vẫn không cạn. - Này gia chủ, năng lực thần thông của con dâu ngươi đã được thấy rồi. Hãy cho chúng ta thấy năng lực thần thông của người tớ trai của ngươi. - Thưa ngài, năng lực thần thông của người tớ trai của tôi sẽ được thấy ở ngoài ruộng. - Này gia chủ, đủ rồi. Năng lực thần thông của người tớ trai của ngươi đã được thấy. Sau đó, viên quan đại thần ấy cùng với đội quân gồm bốn loại binh chủng quay trở về lại thành Vương Xá (Rājagaha) rồi đã đi đến gặp đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã trình sự việc ấy lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha. [84] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại thành Vesālī theo như ý thích, đã ra đi du hành đến Bhaddiya cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo. Trong khi tuần tự du hành, đức Thế Tôn đã ngự đến Bhaddiya. Tại nơi đó, ở Bhaddiya, đức Thế Tôn ngự tại khu rừng Jātiyā. Gia chủ Meṇḍaka đã nghe được rằng: "Chính xác là ngài Sa môn Gotama, con trai giòng Thích Ca (Sākya), từ giòng dõi Thích Ca (Sākya) đã xuất gia, nay đã ngự đến Bhaddiya và ngụ tại khu rừng Jātiyā. Tiếng đồn tốt đẹp về ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Vị ấy sau khi tự mình chứng ngộ thắng trí đã thấu suốt thế gian này tính luôn cõi chư thiên, cõi ma vương, cõi Phạm thiên, cho đến giòng dõi Sa môn, Bà La Môn, các hạng chư thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, có ý nghĩa, có văn tự, công bố một cách hoàn toàn đầy đủ về Phạm hạnh trong sạch. Tốt thay cho việc diện kiến vị A La Hán như thế ấy." Sau đó, gia chủ Meṇḍaka đã cho thắng (ngựa vào) những cỗ xe vô cùng lộng lẫy, rồi bước lên cỗ xe vô cùng lộng lẫy, sau đó rời khỏi Bhaddiya bằng những cỗ xe vô cùng lộng lẫy để diện kiến đức Thế Tôn. Rất nhiều du sĩ ngoại đạo đã thấy được gia chủ Meṇḍaka từ đàng xa đang đi lại, sau khi gặp đã nói với gia chủ Meṇḍaka rằng: - Này gia chủ, người đi đâu vậy? - Bạch các ngài, tôi đi để diện kiến Sa môn Gotama. - Này gia chủ, ngươi là người theo thuyết hành động, sao lại đi đến diện kiến Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động? Này gia chủ, chính Sa môn Gotama là người thuyết về không hành động, giảng về Pháp không hành động, và huấn luyện các đệ tử với điều ấy. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã khởi ý điều này: "Những người du sĩ ngoại đạo ganh tị như thế này thì không còn nghi ngờ gì về đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác nữa." Sau khi đã đi hết khoảng đường dành cho cỗ xe rồi gia chủ Meṇḍaka đã xuống xe dùng chính đôi chân đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Rồi đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến gia chủ Meṇḍaka đang ngồi ở một bên như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của Gia chủ Meṇḍaka đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến gia chủ Meṇḍaka: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt." Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, gia chủ Meṇḍaka đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, thắp sáng cây đèn dầu ở trong bóng tối (nghĩ rằng): "Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;" cũng như thế ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, gia chủ Meṇḍaka hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Rồi khi trải qua đêm ấy, gia chủ Meṇḍaka đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của gia chủ Meṇḍaka, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Rồi người vợ của gia chủ Meṇḍaka cùng với con trai, con dâu, và người tớ trai đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của những người ấy đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt." Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, thắp sáng cây đèn dầu ở trong bóng tối (nghĩ rằng): "Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;" cũng như thế ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, chúng con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là những cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi đã ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn khi ấy đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa. Khi đã ngồi xuống ở một bên, gia chủ Meṇḍaka đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, khi nào đức Thế Tôn còn ngụ tại Bhaddiya thì con xin dâng vật thực đều đặn đến hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu. Rồi đức Thế Tôn sau khi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho gia chủ Meṇḍaka bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. [85] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại Bhaddiya theo như ý thích, đã ra đi du hành đến Aṅguttarāpa cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo mà không thông báo cho gia chủ Meṇḍaka. Gia chủ Meṇḍaka đã nghe được rằng: "Nghe nói đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến Aṅguttarāpa cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo." Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho những người nô lệ và những người làm công rằng: - Này các người, như thế thì sau khi chất lên các xe hàng nhiều muối, dầu, gạo lức, vật thực loại cứng rồi hãy ra đi. Và một ngàn hai trăm năm mươi người chăn bò sau khi lấy ra một ngàn hai trăm năm mươi con bò cái rồi hãy ra đi đến nơi nào chúng ta gặp được đức Thế Tôn thì chúng ta sẽ dâng sữa tươi để (ngài) thọ dụng. Sau đó, trên đường đi gia chủ Meṇḍaka đã gặp được đức Thế Tôn ở một khu rừng vắng. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, gia chủ Meṇḍaka đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, gia chủ Meṇḍaka hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Rồi khi trải qua đêm ấy, gia chủ Meṇḍaka đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến chỗ cúng dường thức ăn của gia chủ Meṇḍaka, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka đã ra lệnh cho một ngàn hai trăm năm mươi người chăn bò rằng: - Này các người, như vậy thì hãy dắt mỗi một con bò cái đến đứng gần mỗi một vị Tỷ kheo rồi dâng sữa tươi để (các vị) thọ dụng. Sau đó, gia chủ Meṇḍaka đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm và sữa tươi. Các vị Tỷ kheo ngần ngại không thọ lãnh sữa tươi. - Này các Tỷ kheo, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Khi ấy, gia chủ Meṇḍaka sau khi tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm và sữa tươi rồi đã ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn khi ấy đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa. Khi đã ngồi xuống ở một bên, gia chủ Meṇḍaka đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, có những con đường, những khu rừng vắng, ít nước, ít vật thực, công việc không được thuận tiện nếu đi đường không tiên liệu trước. Bạch ngài, tốt thay xin đức Thế Tôn hãy cho phép sự tiên liệu (về hành trình đường xa) đến các vị Tỷ kheo. Rồi đức Thế Tôn sau khi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho gia chủ Meṇḍaka bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép năm sản phẩm từ bò là sữa tươi (khīram), sữa đông (dadhi), sữa bơ (takka), bơ đặc (navanītaṃ), bơ lỏng (sappi). Này các Tỷ kheo, có những con đường, những khu rừng vắng, ít nước, ít vật thực, sẽ không được thuận tiện khi đi đường nếu không tiên liệu trước. Này các Tỷ kheo, vì sự tiên liệu (về hành trình đường xa) ta cho phép tầm cầu về gạo lức với vị có nhu cầu về gạo lức, đậu xanh với vị có nhu cầu về đậu xanh, đậu māsa (?) với vị có nhu cầu về đậu māsa, muối với vị có nhu cầu về muối, đường với vị có nhu cầu về đường, dầu với vị có nhu cầu về dầu, bơ lỏng với vị có nhu cầu về bơ lỏng. Này các Tỷ kheo, có những người dân có niềm tin đã được an trú, những người này sẽ để tiền vàng vào trong bàn tay của những người làm các vật trở thành đúng phép (kappiyakāraka) (nói rằng): "Hãy dâng đến ngài Đại đức vật đã làm trở thành đúng phép từ (số tiền) này." Này các Tỷ kheo, ta cho phép chấp nhận với vật đã làm trở thành đúng phép từ điều ấy, nhưng này các Tỷ kheo ta không nói rằng: "Vàng và bạc có thể được chấp nhận, có thể được tầm cầu bởi bất cứ cách thức nào." [86] Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến Āpaṇa. Đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nghe được rằng: "Chính xác là ngài Sa môn Gotama, con trai giòng Thích Ca (Sākya), từ giòng dõi Thích Ca (Sākya) đã xuất gia, nay đã ngự đến Bhaddiya và ngụ tại khu rừng Jātiyā. Tiếng đồn tốt đẹp về ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Vị ấy sau khi tự mình chứng ngộ thắng trí đã thấu suốt thế gian này tính luôn cõi chư thiên, cõi ma vương, cõi Phạm thiên, cho đến giòng dõi Sa môn, Bà La Môn, các hạng chư thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, có ý nghĩa, có văn tự, công bố một cách hoàn toàn đầy đủ về Phạm hạnh trong sạch. Tốt thay cho việc diện kiến vị A La Hán như thế ấy." Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã khởi ý rằng: "Ta nên cho người đem đến cho Sa môn Gotama vật gì đây?" Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã khởi ý rằng: "Những người ẩn sĩ trước đây là Bà La Môn, là những người làm ra chú thuật, là những người sử dụng chú thuật, những người ấy có hình thức chú thuật cổ điển đã được ca, đã được nói ra, đã được thực hiện mà những người Bà La Môn hiện nay cũng ca theo hình thức ấy, nói ra theo hình thức ấy, giảng giải theo điều đã được giảng giải, nói lại điều đã được nói, (các vị ấy) như là: Aṭṭhako, Vāmako, Vāmadevo, Vessāmitto, Yamataggi, Aṅgiraso, Bhāradvājo, Vāseṭṭho, Kassapo, Bhagu đã không ăn vào buổi tối, đã cử kiêng việc ăn sau ngọ, các vị ấy chấp nhận các vật như là các thức uống. Sa môn Gotama cũng không ăn vào buổi tối và kiêng cử việc ăn sau ngọ nên Sa môn Gotama cũng xứng đáng được chấp nhận các vật như là các thức uống," nên đã cho người chuẩn bị sẵn sàng rất nhiều thức uống và cho người đem đi bằng những giỏ mang sau vai rồi đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Xin ngài Gotama hãy thọ lãnh thức uống của tôi. - Này Keṇiya, như vậy thì hãy dâng cho các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã ngần ngại không thọ lãnh. - Này các Tỷ kheo, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Sau đó, đạo sĩ bện tóc Keṇiya sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với rất nhiều thức uống đã ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn khi ấy đã rửa tay xong, bàn tay và bình bát đã được rửa. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đạo sĩ bện tóc Keṇiya bằng bài Pháp thoại. Rồi đạo sĩ bện tóc Keṇiya sau khi được đức Thế tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. - Này Keṇiya, hội chúng Tỷ kheo rất đông có đến một ngàn hai trăm năm chục vị Tỷ kheo và ngươi đã đặt nhiều niềm tin vào các vị Bà La Môn. Đến lần thứ nhì, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài Gotama, dầu cho hội chúng Tỷ kheo rất đông có đến một ngàn hai trăm năm chục vị Tỷ kheo và (dầu cho) tôi đã đặt nhiều niềm tin vào các vị Bà La Môn, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. - Này Keṇiya, hội chúng Tỷ kheo rất đông có đến một ngàn hai trăm năm chục vị Tỷ kheo và ngươi đã đặt nhiều niềm tin vào các vị Bà La Môn. Đến lần thứ ba, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài Gotama, dầu cho hội chúng Tỷ kheo rất đông có đến một ngàn hai trăm năm chục vị Tỷ kheo và (dầu cho) tôi đã đặt nhiều niềm tin vào các vị Bà La Môn, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, đạo sĩ bện tóc Keṇiya hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép tám loại thức uống: nước xoài (amba), nước táo hồng (jambu), nước chuối hột (coca), nước chuối không hột (moca), nước mật ong (madhu), nước nho (muddika), nước ngó sen (sāluka), nước dâu (phārusaka). Này các Tỷ kheo, ta cho phép tất cả các loại nước cốt trái cây (phalarasaṃ) ngoại trừ nước cốt của ngũ cốc. Này các Tỷ kheo, ta cho phép tất cả các loại nước cốt của lá cây (phalarasaṃ) ngoại trừ nước cốt của loại rau cải nấu chín. Này các Tỷ kheo, ta cho phép tất cả các loại nước cốt của bông hoa (puppharasaṃ) ngoại trừ nước cốt của bông cây cam thảo (madhukapuppharasaṃ). Này các Tỷ kheo, ta cho phép nước cốt của cây mía. Rồi khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm tại khu ẩn dật của mình rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài Gotama, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến khu ẩn dật của đạo sĩ bện tóc Keṇiya, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Sau đó, đạo sĩ bện tóc Keṇiya đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng rồi đã ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn khi ấy đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa. Đức Thế Tôn đã tùy hỷ công đức cho đạo sĩ bện tóc Keṇiya đang ngồi ở một bên bằng những lời kệ này: [87]
Trong các loại cúng tế Sau khi đã tùy hỷ công đức cho đạo sĩ bện tóc Keṇiya đang ngồi ở một bên bằng những lời kệ ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. [88] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại Bhaddiya theo như ý thích, đã ra đi du hành đến Kusinārā cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo. Những người dân Malla ở Kusinārā đã nghe được rằng: "Nghe nói đức Thế Tôn đi đến Kusinārā cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo." Họ đã ra quy định là: "Ai không đi ra đón đức Thế Tôn sẽ bị hành phạt là năm trăm." Vào lúc bấy giờ, Roja người Malla là bạn của Đại đức Ānanda. Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến Kusinārā. Những người dân Malla ở Kusinārā đã đi ra đón đức Thế Tôn. Khi ấy, Roja người Malla sau khi đi ra đón đức Thế Tôn đã đi đến gặp Đại đức Ānanda, sau khi đến đã đảnh lễ Đại đức Ānanda rồi đứng ở một bên. Đại đức Ānanda đã nói với Roja người Malla đang đứng một bên điều này: - Này bạn Roja, thật là tuyệt vời khi bạn đã đi ra đón đức Thế Tôn. - Bạch ngài Ānanda, tôi không làm gì nhiều với Phật, với Pháp, hay với Tăng, chỉ vì thân quyến ra quy định là: "Ai không đi ra đón đức Thế Tôn sẽ bị hành phạt là năm trăm." Bạch ngài Ānanda, tôi vì sợ hành phạt như thế của thân quyến nên đã đi ra để đón đức Thế Tôn. Khi ấy, Đại đức Ānanda đã không được phấn khởi (nghĩ rằng): "Vì sao Roja người Malla lại nói như thế?" Sau đó, Đại đức Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồì xuống một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, Đại đức Ānanda đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, Roja người Malla này được nổi tiếng, là người có danh tiếng, những người có danh tiếng như vầy nếu có được niềm tin trong Pháp và Luật này sẽ là người có nhiều sự lợi ích. Bạch ngài, thật tốt đẹp thay xin đức Thế Tôn hãy làm như thế nào đó để Roja người Malla có thể an trú niềm tin vào Pháp và Luật này. - Này Ānanda, điều ấy không phải là việc khó làm đối với đức Như Lai như là việc Roja người Malla có thể an trú niềm tin vào Pháp và Luật này. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi phát ra một luồng tâm bác ái đến Roja người Malla rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào trú xá. Khi ấy, Roja người Malla bị tràn ngập bởi luồng tâm bác ái của đức Thế Tôn, cũng giống như là con bê con (đi tìm) bò mẹ; tương tợ như thế, (Roja người Malla )đã đi đến từ trú xá này đến trú xá khác, từ phòng này đến phòng khác và hỏi các vị Tỷ kheo rằng: - Bạch ngài, bây giờ đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác đang ngụ ở đâu vậy, bởi vì chúng tôi có ý muốn diện kiến đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán đấng Chánh Đẳng Giác? - Này đạo hữu Roja, hãy đi đến trú xá có cánh cửa đóng lại kia với sự nhẹ nhàng và chớ có vượt qua (cánh cửa), hãy bước vào hành lang, đằng hắng, và gõ vào thanh cài cửa, rồi đức Thế Tôn sẽ mở cửa cho đạo hữu. Sau đó, Roja người Malla đã đi đến trú xá có cánh cửa đóng lại kia với sự nhẹ nhàng, không có vượt qua (cánh cửa), rồi bước vào hành lang, đằng hắng, và gõ vào thanh cài cửa. Đức Thế Tôn đã mở cánh cửa ra. Khi ấy, Roja người Malla đã bước vào trú xá, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Rồi đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến Roja người Malla như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của Roja người Malla đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến Roja người Malla: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt." Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, Roja người Malla đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, tốt đẹp thay nếu các ngài có thể thọ lãnh y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bịnh của riêng mình con thôi, không phải của người khác. - Này Roja, nếu những người đã thấy được Pháp với trí tuệ của vị hữu học, với tầm nhìn của vị hữu học như là ngươi đây thì những người ấy cũng khởi ý rằng: "Nếu như các ngài có thể thọ lãnh y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bịnh của riêng mình con thôi, không phải của người khác." Này Roja, như thế thì các vị (Tỷ kheo) sẽ thọ lãnh của chính ngươi và của những người khác nữa. Vào lúc bấy giờ, ở Kusinārā, sự dâng vật thực theo tuần tự của các bữa ăn hảo hạng đã được quy định. Khi ấy, Roja người Malla đã không nhận được phiên nên đã khởi ý rằng: "Hay là ta nên nhìn vào nhà ăn, trong nhà ăn không có món gì thì ta sẽ cho chuẩn bị sẵn sàng món đó?" Sau đó, Roja người Malla trong khi nhìn vào nhà ăn đã thấy không có hai món là rau xanh và bánh bột. Rồi Roja người Malla đã đi đến gặp Đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với Đại đức Ānanda điều này: - Bạch ngài Ānanda, ở đây, trong khi tôi không nhận được phiên nên đã khởi ý rằng: "Hay là ta nên nhìn vào nhà ăn, trong nhà ăn không có món gì thì ta sẽ cho chuẩn bị sẵn sàng món đó?" Bạch ngài Ānanda, rồi trong khi nhìn vào nhà ăn tôi đã thấy không có hai món là rau xanh và bánh bột. Bạch ngài Ānanda, nếu tôi cho chuẩn bị sẵn sàng đức Thế Tôn có thể nhận lãnh rau xanh và bánh bột của tôi không? - Này Roja, như thế thì tôi sẽ hỏi đức Thế Tôn. Sau đó, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này Ānanda, như thế thì (Roja) hãy cho chuẩn bị sẵn sàng. - Này Roja, như thế thì bạn hãy cho chuẩn bị sẵn sàng. Rồi khi trải qua đêm ấy, Roja người Malla sau khi cho chuẩn bị sẵn sàng rau cải và bánh bột rồi đã đem dâng đến đức Thế Tôn. - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhận lãnh rau cải và bánh bột - Này Roja, như vậy thì hãy dâng cho các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã ngần ngại không thọ lãnh. - Này các Tỷ kheo, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Khi ấy, Roja người Malla sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với rất nhiều rau cải và bánh bột rồi đã ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn có cánh tay đã được rửa, bàn tay và bình bát đã được rửa. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Roja người Malla bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép tất cả các loại rau xanh và tất cả các loại bánh bột. [89] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại Kusināra theo như ý thích, đã ra đi du hành đến Ātumā cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo. Vào lúc bấy giờ, có một vị trước đây là người thợ cạo và đã xuất gia lúc tuổi già đang ngụ tại Ātumā. Vị ấy có hai người con trai dễ mến, khôn ngoan, khéo léo, thiện nghệ trong nghề thợ cạo từ thầy của họ. Vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã nghe được rằng: "Nghe nói đức Thế Tôn đi đến Ātumā cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo." Khi ấy, vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã nói với hai người con trai ấy rằng: - Nghe nói đức Thế Tôn đi đến Ātumā cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo. Này hai con thương, hai con hãy mang theo thùng dao cạo đi từ nhà này qua nhà khác với sự thưởng công và gom góp muối, dầu, gạo lức, và vật thực loại cứng, chúng ta sẽ làm món nước cháo dành cho đức Thế Tôn khi đến. - Xin vâng, thưa cha. Rồi hai người con trai ấy nghe theo lời vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã mang theo thùng dao cạo đi từ nhà này qua nhà khác với sự thưởng công và đã gom góp muối, dầu, gạo lức, và vật thực loại cứng. Dân chúng khi thấy hai người con trai ấy dễ mến, khôn ngoan, dầu không có ý muốn thuê làm cũng đã bảo chúng làm, và sau khi bảo chúng làm xong đã thưởng rất nhiều. Sau đó, hai người con trai ấy đã gom góp nhiều muối, dầu, gạo lức, và vật thực loại cứng. Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến Ātumā. Tại nơi ấy, ở Ātumā, đức Thế Tôn ngụ tại Bhūsāgāra. Rồi khi trải qua đêm ấy, vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng rất nhiều cháo rồi đã đem dâng đến đức Thế Tôn. - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy thọ lãnh cháo của con. Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để chận đứng vấn đề. Các vị Phật Thế Tôn hỏi các vị Tỷ kheo vì hai lý do: "Hoặc là chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử." Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị xuất gia lúc tuổi già ấy điều này: - Này Tỷ kheo, cháo này từ đâu vậy? Khi ấy, vị xuất gia lúc tuổi già ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa môn, là sai trái, không nên làm. Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi là vị xuất gia lại bảo người khác làm việc không được phép? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, vị xuất gia không nên bảo người khác làm việc không được phép. Vị nào bảo làm thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, vị trước đây là thợ cạo không nên mang theo thùng dao cạo. Vị nào mang theo thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại Ātumā theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Sāvatthi. Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi ấy, ở thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngụ tại Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika). Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Sāvatthi, loại vật thực cứng là trái cây được dồi dào. Khi ấy, các vị Tỷ kheo khởi ý rằng: "Loại vật thực cứng là trái cây nào đã được cho phép, loại nào không được cho phép?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép tất cả các loại vật thực cứng là trái cây. [91] Vào lúc bấy giờ, các hạt giống của hội chúng được gieo trồng trên vùng đất của một cá nhân, các hạt giống của các cá nhân được gieo trồng trên vùng đất của hội chúng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, các hạt giống của hội chúng đã được gieo trồng trên vùng đất của một cá nhân nên được thọ dụng sau khi đã cho chia phần. Các hạt giống của các cá nhân đã được gieo trồng trên vùng đất của hội chúng nên được thọ dụng sau khi đã cho chia phần. [92] Vào lúc bấy giờ, sự ngần ngại của các vị Tỷ kheo về vấn đề này về vấn đề nọ được sanh khởi: "Điều nào đã được đức Thế Tôn cho phép, điều nào đã không được cho phép?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, điều nào ta chưa cấm rằng: "Điều này không được phép," và điều ấy phù hợp với điều không được phép và trái nghịch với điều được phép, đối với các ngươi điều ấy là không được phép. Này các Tỷ kheo, điều nào ta chưa cấm rằng: "Điều này không được phép," và điều ấy phù hợp với điều được phép và trái nghịch với điều không được phép, đối với các ngươi điều ấy là được phép. Này các Tỷ kheo, điều nào ta chưa cho phép rằng: "Điều này được phép," và điều ấy phù hợp với điều không được phép và trái nghịch với điều được phép, đối với các ngươi điều ấy là không được phép. Này các Tỷ kheo, điều nào ta chưa cho phép rằng: "Điều này được phép," và điều ấy phù hợp với điều được phép và trái nghịch với điều không được phép, đối với các ngươi điều ấy là được phép. [93] Khi ấy, các vị Tỷ kheo đã khởi ý rằng: "Vật dùng đến hết đêm (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ là được phép, hay là không được phép? Vật dùng trong bảy ngày (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ là được phép, hay là không được phép? Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ là được phép, hay là không được phép?[3] Vật dùng trong bảy ngày (trộn lẫn) với vật dùng đến hết đêm là được phép, hay là không được phép? Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng đến hết đêm là được phép, hay là không được phép? Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng trong bảy ngày là được phép, hay là không được phép?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, vật dùng đến hết đêm (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép lúc hợp thời, phi thời không được phép. Vật dùng trong bảy ngày (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép lúc hợp thời, phi thời không được phép. Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng đến hết ngọ (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép lúc hợp thời, phi thời không được phép. Này các Tỷ kheo, vật dùng trong bảy ngày (trộn lẫn) với vật dùng đến hết đêm (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép trong đêm, không được phép khi đêm đã trôi qua. Vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng đến hết đêm (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép trong đêm, không được phép khi đêm đã trôi qua. Này các Tỷ kheo, vật dùng suốt đời (trộn lẫn) với vật dùng trong bảy ngày (nếu) được thọ lãnh trong ngày hôm ấy thì được phép trong bảy ngày, không được phép khi bảy ngày đã trôi qua. Dứt Chương Dược Phẩm là chương thứ sáu. Trong chương này có một trăm lẻ sáu sự việc. Tóm lược chương này: [94]
[1] Một trong sáu vị đứng đầu sáu nhóm ngoại đạo thời đó. [2] Nếu cá và thú ấy bị giết với sự xác định là sẽ làm thức ăn cho một cá nhân nào đó thọ dụng thì cá nhân người ấy không nên ăn. [3] Vật dùng đến hết ngọ: Yāvakālika. Vật dùng đến hết đêm: Yāmakālika.Vật dùng trong bảy ngày: Sattāhakālika. Vật dùng suốt đời: Yāvajīvika. -ooOoo-
Ðầu trang | Mục lục |
01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 | |