|
Tạng Luật Đại Phẩm Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch Tụng Phẩm thứ ba [61] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại thành Ba La Nại (Bārāṇasī) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến Andhakavindam cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo. Vào lúc bấy giờ, dân chúng trong xứ cho người chất lên các xe hàng rất nhiều muối, dầu, gạo lức, vật thực loại cứng rồi lần lượt nối đuôi theo sau hội chúng Tỷ kheo có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng): "Khi nào chúng tôi đến phiên, chúng tôi sẽ thực hiện bữa trai phạn," và có số lượng là năm trăm người ăn thức ăn còn thừa. Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến Andhakavindam. Khi ấy, có một người Bà La Môn nọ không nhận được phiên nên đã khởi ý rằng: "Hơn hai tháng nay, ta đã theo sau hội chúng Tỷ kheo có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng): ‘Khi nào ta đến phiên, ta sẽ thực hiện bữa trai phạn,’ mà ta không nhận được phiên. Ta thì đơn chiếc, nhiều công việc gia đình đã bị ta bỏ bê. Hay là ta nên nhìn xem ở nhà ăn và ta nên chuẩn bị sẵn sàng món gì ở nhà ăn không có?" Rồi trong khi nhìn xem ở nhà ăn, người Bà La Môn ấy đã không thấy hai món là cháo và mật viên. Sau đó, người Bà La Môn ấy đã đi đến gặp Đại đức Ānanda, sau khi đến đã nói với Đại đức Ānanda điều này: - Bạch ngài Ānanda, ở đây tôi không nhận được phiên nên đã khởi ý rằng: "Hơn hai tháng nay, ta đã theo sau hội chúng Tỷ kheo có đức Thế Tôn đứng đầu (nghĩ rằng): ‘Khi nào ta đến phiên, ta sẽ thực hiện bữa trai phạn,’ mà ta không nhận được phiên. Ta thì đơn chiếc, nhiều công việc gia đình đã bị ta bỏ bê. Hay là ta nên nhìn xem ở nhà ăn và ta nên chuẩn bị sẵn sàng món gì ở nhà ăn không có?" Bạch ngài Ānanda, trong khi nhìn xem ở nhà ăn, tôi đã không thấy hai món là cháo và mật viên. Bạch ngài Ānanda, nếu tôi chuẩn bị sẵn sàng thì Ngài Gotama có thọ nhận cháo và mật viên của tôi hay không? - Này ông Bà La Môn, như thế thì tôi sẽ hỏi đức Thế Tôn. Khi ấy, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế tôn. - Này Ānanda, như vậy thì bảo ông ta hãy cho chuẩn bị sẵn sàng. (Sau đó, Đại đức Ānanda đã nói với người Bà La Môn như vầy): - Này ông Bà La Môn, như vậy thì ông hãy cho chuẩn bị sẵn sàng. Sau khi trải qua đêm ấy, người Bà La Môn ấy đã cho người chuẩn bị sẵn sàng nhiều cháo và mật viên rồi đem dâng đến đức Thế Tôn: - Bạch Ngài Gotama, xin hãy thọ lãnh cháo và mật viên của tôi. - Này Bà La Môn, như thế thì hãy dâng đến các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo ngần ngại nên không thọ lãnh. - Này các Tỷ kheo, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Khi ấy, người Bà La Môn ấy sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với nhiều cháo và mật viên rồi đã (đến) ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn khi ấy đã thọ thực xong, tay đã được rửa và bàn tay đã rời khỏi bình bát. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người Bà La Môn ấy đang ngồi ở một bên điều này: - Này Bà La Môn, đây là mười điều lợi ích của cháo. Mười điều ấy là gì? Trong khi bố thí cháo người ấy bố thí tuổi thọ, người ấy bố thí sắc đẹp, người ấy bố thí sự an lạc, người ấy bố thí sức mạnh, người ấy bố thí trí tuệ, người đã húp cháo dứt hẳn cơn đói, chận đứng cơn khát, điều hòa gió, làm sạch bàng quang, và làm tiêu hóa phần (vật thực) thô còn lại chưa được tiêu hóa. Này Bà La Môn, mười điều này là lợi ích của cháo. [62]
[63] Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi tùy hỷ công đức của người Bà La Môn bằng những lời kệ này rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép (thọ dụng) cháo và mật viên. [64] Dân chúng đã nghe rằng: "Nghe nói đức Thế Tôn cho phép cháo và mật viên." Vào buổi sáng sớm, họ đã cho chuẩn bị sẵn sàng cháo đặc và mật viên. Các Tỷ kheo vào buổi sáng sớm đã được thỏa mãn với cháo đặc và mật viên nên không thọ thực được như ý ở chỗ thọ thực. Vào lúc bấy giờ, có một vị quan đại thần mới có đức tin đã thỉnh mời hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu vào ngày hôm sau. Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã khởi ý rằng: "Hay là ta nên chuẩn bị sẵn sàng một ngàn hai trăm năm mươi đĩa thịt cho một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo rồi sẽ dâng đến cứ mỗi một vị Tỷ kheo là một đĩa thịt." Sau khi trải qua đêm ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm và một ngàn hai trăm năm mươi đĩa thịt rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư dinh của vị quan đại thần mới có đức tin ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Rồi vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã dâng đến các vị Tỷ kheo ở trong nhà ăn. Các vị Tỷ kheo đã nói như vầy: - Này đạo hữu, chỉ dâng chút ít thôi. Này đạo hữu, chỉ dâng chút ít thôi. - Bạch các ngài, chớ có thọ lãnh chỉ một chút ít (vì nghĩ rằng): "Vị quan đại thần này mới có đức tin." Tôi đã cho chuẩn bị sẵn sàng nhiều vật thực loại cứng, mềm, và tôi sẽ dâng đến mỗi một vị Tỷ kheo là một đĩa thịt. Bạch các ngài, hãy thọ lãnh cho đủ với nhu cầu. - Này đạo hữu, không phải vì lý do ấy mà chúng tôi thọ lãnh chỉ một chút ít mà là vì vào sáng sớm chúng tôi đã được thỏa mãn với cháo đặc và mật viên rồi; cho nên chúng tôi thọ lãnh chỉ một chút ít. Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các Đại đức đã được tôi thỉnh mời lại thọ dụng cháo đặc của người khác? Không lẽ tôi không đủ khả năng để bố thí cho đủ với nhu cầu hay sao? rồi đã trở nên giận dữ, không còn hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên khi bình bát của các vị Tỷ kheo đã được vun đầy thì đã đi đến (nói rằng): - Hãy ăn đi còn không thì hãy mang đi. Sau đó, vị quan đại thần mới có đức tin ấy sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi đã (đến) ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn khi ấy đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho vị quan đại thần mới có đức tin ấy đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã khởi lên sự ăn năn, đã khởi lên nỗi ân hận: "Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Vì ta đã trở nên giận dữ, không còn hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên khi bình bát của các vị Tỷ kheo đã được vun đầy thì đã đi đến (nói rằng): ‘Hãy ăn đi còn không thì hãy mang đi.’ Ta đã tạo ra được nhiều điều gì, là phước báu hay là tội lỗi?" Sau đó, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, vị quan đại thần mới có đức tin ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, ở đây, khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, con đã khởi lên sự ăn năn, đã khởi lên nỗi ân hận: "Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Vì ta đã trở nên giận dữ, không còn hoan hỷ, và có ý muốn lăng mạ nên khi bình bát của các vị Tỷ kheo đã được vun đầy thì đã đi đến (nói rằng): ‘Hãy ăn đi còn không thì hãy mang đi.’ Ta đã tạo ra được nhiều về điều gì, là phước báu hay là tội lỗi?" Bạch ngài, con đã tạo ra được nhiều về điều gì, là phước báu hay là tội lỗi? - Này đạo hữu, lúc ngươi thỉnh mời hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu cho ngày hôm sau, vào lúc ấy ngươi đã tạo ra được nhiều phước báu. Lúc mỗi một phần cơm của ngươi được mỗi một vị Tỷ kheo thọ lãnh, vào lúc ấy ngươi đã tạo ra được nhiều phước báu. Các cõi trời đã được thành tựu cho ngươi rồi. Khi ấy, vị quan đại thần mới có đức tin ấy (nghĩ rằng): "Nghe nói ta có được điều lợi ích! Nghe nói ta đã đạt được điều tốt! Nghe nói ta đã tạo ra được nhiều phước báu! Nghe nói các cõi trời đã được thành tựu cho ta!" nên đã hoan hỷ, phấn khởi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã triệu tập hội chúng Tỷ kheo lại và hỏi các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, nghe nói các Tỷ kheo thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác, có đúng không vậy? - Đúng vậy, bạch Thế Tôn. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này các Tỷ kheo, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác? Này các Tỷ kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng cháo đặc của người khác khi đã được thỉnh mời của một nơi khác. Vị nào thọ dụng thì nên được hành xử theo Pháp. [65] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại Andhakavinda theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Vương Xá (Rājagaha) cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo. Vào lúc bấy giờ, Velaṭṭha Kaccāna đang trên đường xa từ Rājagaha đi Andhakavinda cùng với năm trăm xe hàng chất đầy các hũ mật đường. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy Velaṭṭha Kaccāna đang đi lại từ đàng xa, sau khi thấy đã rời đường lộ và đến ngồi xuống ở một gốc cây nọ. Sau đó, Velaṭṭha Kaccāna đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, Velaṭṭha Kaccāna đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, con muốn dâng đến mỗi một vị Tỷ kheo một hũ mật đường - Này Kaccāna, như vậy thì ngươi hãy mang lại chỉ một hũ mật đường thôi. - Xin vâng, bạch ngài. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã cầm lấy chỉ một hũ mật đường rồi đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã bạch với đứcThế Tôn điều này: - Bạch ngài, hũ mật đường đã được mang lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy dâng mật đường đến các vị Tỷ kheo. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi dâng mật đường đến các vị Tỷ kheo rồi đã bạch đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, mật đường đã được dâng đến các vị Tỷ kheo, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy dâng mật đường đến các vị Tỷ kheo theo như nhu cầu. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi dâng mật đường đến các vị Tỷ kheo theo như nhu cầu rồi đã bạch đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, mật đường đã được dâng đến các vị Tỷ kheo theo như nhu cầu, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy làm cho các vị Tỷ kheo được thỏa mãn với nhiều mật đường. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã làm cho các vị Tỷ kheo được thỏa mãn với nhiều mật đường. Một số các vị Tỷ kheo đã chứa đầy các bình bát, (một số) đã chứa đầy các túi lọc nước và các túi xách. Rồi Velaṭṭha Kaccāna sau khi đã làm cho các vị Tỷ kheo được thỏa mãn với nhiều mật đường rồi đã bạch đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, các vị Tỷ kheo đã được thỏa mãn với nhiều mật đường, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi đã cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa rồi đã bạch đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, mật đường đã được cho đến những người ăn thức ăn còn thừa, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa theo như nhu cầu. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn sau khi đã cho mật đường đến những người ăn thức ăn còn thừa theo như nhu cầu rồi đã bạch đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, mật đường đã được cho đến những người ăn thức ăn còn thừa theo như nhu cầu, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường. Một số người ăn thức ăn còn thừa đã chứa đầy các lọ, các bình, (một số) đã chứa đầy các giỏ, và dùng luôn cả phần y ở phía trước (túm lại để chứa đường). Rồi Velaṭṭha Kaccāna sau khi đã làm cho những người ăn thức ăn còn thừa được thỏa mãn với nhiều mật đường rồi đã bạch đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, những người ăn thức ăn còn thừa đã được thỏa mãn với nhiều mật đường, và nhiều mật đường như vầy vẫn còn thừa lại. Bạch ngài, con sẽ thực hành như thế nào đây? - Này Kaccāna, ta không thấy một ai trong thế gian tính luôn cõi của chư thiên, cõi ma vương, cõi Phạm thiên, cho đến giòng dõi Sa môn, Bà La Môn, các hạng chư thiên và loài người mà đường này sau khi được ăn vào có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hoặc đệ tử của Như Lai. Này Kaccāna, như thế thì ngươi hãy đổ bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật. - Bạch ngài, xin vâng. Rồi Velaṭṭha Kaccāna nghe theo đức Thế Tôn đã đổ bỏ mật đường ấy ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật. Rồi khi được đổ vào trong nước, mật đường ấy đã sủi bọt xì xèo, bốc hơi và tỏa khói giống như một lưỡi cày đã được nung đỏ trọn ngày được bỏ vào trong nước đã sủi bọt xì xèo, bốc hơi và tỏa khói; tương tợ như thế, mật đường ấy khi được đổ vào trong nước đã sủi bọt xì xèo, bốc hơi và tỏa khói. Khi ấy, Velaṭṭha Kaccāna trở nên hoảng hốt, lông dựng đứng lên, và đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Rồi đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến Velaṭṭha Kaccāna đang ngồi ở một bên như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của Velaṭṭha Kaccāna đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến Velaṭṭha Kaccāna: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt." Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, Velaṭṭha Kaccāna đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, thắp sáng cây đèn dầu ở trong bóng tối (nghĩ rằng): "Những ai có mắt sẽ thấy được các hình dáng;" cũng như thế ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. [66] Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến thành Vương Xá (Rājagaha). Tại nơi đó, trong thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Trúc Lâm (Veḷuvana), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Rājagaha, mật đường được dồi dào. Các Tỷ kheo (nghĩ rằng): "Mật đường đã được đức Thế Tôn cho phép đến vị bị bệnh, còn chúng ta thì không có bệnh," nên đã ngần ngại rồi không thọ dụng mật đường. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép mật đường (guḷa) đối với vị bị bệnh, và nước (có pha) mật đường (guḷodaka) đối với vị không có bệnh [67] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại thành Vương Xá (Rājagaha) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến Pāṭaligāma [1] cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỷ kheo. Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến Pāṭaligāma. Các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đã nghe rằng: "Nghe nói đức Thế Tôn đã ngự đến Pāṭaligāma." Rồi các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại. Khi ấy, các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng Tỷ kheo chấp nhận (trú tại) nhà nghỉ trọ. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi đi đến nhà nghỉ trọ, sau khi đến đã trải ra tất cả thảm trải ở nhà nghỉ trọ, cho sắp đặt các chỗ ngồi, cho bố trí lu nước, chuẩn bị cây đèn dầu, rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, tất cả thảm trải ở nhà nghỉ trọ đã được trải ra, các chỗ ngồi đã được cho sắp đặt, lu nước đã được cho bố trí, cây đèn dầu đã được chuẩn bị. Bạch ngài, bây giờ là thời điểm của việc gì thì xin đức Thế Tôn hãy suy tính về việc ấy. Sau đó, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi cùng với đại chúng Tỷ kheo đi đến nhà nghỉ trọ, sau khi đến đã rửa sạch hai bàn chân, rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ cột nhà ở chính giữa, mặt nhìn về hướng đông. Hội chúng Tỷ kheo cũng đã rửa sạch các bàn chân, rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ bức tường ở phía tây, mặt nhìn về hướng đông, và có đức Thế Tôn trong tầm nhìn. Các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma cũng đã rửa sạch các bàn chân, rồi đi vào nhà nghỉ trọ và ngồi xuống chỗ bức tường ở phía đông, mặt nhìn về hướng tây, và có đức Thế Tôn trong tầm nhìn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma rằng: [68] Này các cư sĩ, đây là năm điều tai hại của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Năm điều ấy là gì? Này các cư sĩ, kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới gánh chịu sự mất mát lớn về tài sản do nguyên nhân xao lãng. Đây là điều tai hại thứ nhất của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, một điều khác nữa là tiếng đồn xấu xa của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới lan rộng. Đây là điều tai hại thứ nhì của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, một điều khác nữa là kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới đi vào một tập thể nào khác dầu là tập thể những người Sát Đế Lỵ (Khattiya), dầu là tập thể những người Bà La Môn (Brāhmaṇa), dầu là tập thể các gia chủ, dầu là tập thể các Sa môn, kẻ ấy đi vào thiếu sự tự chủ và trở nên bối rối. Đây là điều tai hại thứ ba của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, một điều khác nữa là kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới có sự mê mờ khi từ trần. Đây là điều tai hại thứ tư của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, một điều khác nữa là kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới khi thân này bị tan rã, sau khi chết đi sẽ tái sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Đây là điều tai hại thứ năm của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. Này các cư sĩ, đây là năm điều tai hại của kẻ ác giới có sự hư hỏng về giới. [69] Này các cư sĩ, đây là năm điều lợi ích của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Năm điều ấy là gì? Này các cư sĩ, người giữ giới có sự thành tựu về giới thành tựu số lượng lớn về tài sản do nguyên nhân không xao lãng. Đây là điều lợi ích thứ nhất của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, một điều khác nữa là tiếng đồn tốt đẹp của người giữ giới có sự thành tựu về giới lan rộng. Đây là điều lợi ích thứ nhì của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, một điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới đi vào một tập thể nào khác dầu là tập thể những người Sát Đế Lỵ (Khattiya), dầu là tập thể những người Bà La Môn (Brāhmaṇa), dầu là tập thể các gia chủ, dầu là tập thể các Sa môn, người ấy đi vào có sự tự chủ và không có bối rối. Đây là điều lợi ích thứ ba của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, một điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới có sự không mê mờ khi từ trần. Đây là điều lợi ích thứ tư của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, một điều khác nữa là người giữ giới có sự thành tựu về giới khi thân này bị tan rã, sau khi chết đi sẽ tái sanh vào chốn an vui, cõi trời, cõi người. Đây là điều lợi ích thứ năm của người giữ giới có sự thành tựu về giới. Này các cư sĩ, đây là năm điều lợi ích của người giữ giới có sự thành tựu về giới. [70] Rồi đức Thế Tôn sau khi đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma bằng bài Pháp thoại đến tận đêm khuya rồi đã giải tán (bảo rằng): - Này các cư sĩ, đêm đã khuya. Bây giờ là thời điểm của việc gì thì các ngươi hãy suy tính về việc ấy. - Xin vâng, bạch ngài. Các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma nghe theo đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, khi các cư sĩ ở tại Pāṭaligāma ra đi không lâu, đức Thế Tôn đã đi vào ngôi nhà trống vắng. [71] Vào lúc bấy giờ, hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra cho xây thành lũy ở trong Pāṭaligāma để ngăn cản người Vajjī. Và đức Thế Tôn, sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm, bằng thiên nhãn thanh tịnh vượt xa loài người đã nhìn thấy nhiều vị trời đang chiếm giữ các khu vực ở trong Pāṭaligāma. Ở khu vực nào mà các vị trời có oai lực lớn chiếm giữ thì tại đó tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực lớn có khuynh hướng cho xây các dinh thự. Ở khu vực nào mà các vị trời có oai lực hạng trung bình chiếm giữ thì tại đó tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực trung bình cho xây các dinh thự. Ở khu vực nào mà các vị trời có oai lực kém chiếm giữ thì tại đó tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực kém cho xây các dinh thự. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, những ai là người cho xây thành lũy ở Pāṭaligāma vậy? - Bạch ngài, hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra là người cho xây thành lũy ở Pāṭaligāma để ngăn cản người Vajjī. - Này Ānanda, giống như là đã thỉnh ý với chư thiên ở cõi Tam Thập Tam Thiên (Tāvatimsa), cũng như thế ấy, này Ānanda, hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra đã cho xây thành lũy ở Pāṭaligāma để ngăn cản người Vajjī. Này Ānanda, ở đây sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm, bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt trên loài người, ta đã nhìn thấy nhiều vị trời đang chiếm giữ các khu vực ở trong Pāṭaligāma. Các vị trời có oai lực lớn chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực lớn ở khu vực đó cho xây các dinh thự. Các vị trời có oai lực trung bình chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực trung bình ở khu vực đó cho xây các dinh thự. Các vị trời có oai lực kém chiếm giữ khu vực nào thì các vị sai khiến tâm của các quan đại thần của các vị vua có oai lực kém ở khu vực đó cho xây các dinh thự. Này Ānanda, cho đến tận lãnh thổ của người những anh hùng và đến tận con đường của những nhà thương buôn, Pāṭaliputta sẽ trở thành một thành phố hàng đầu, là nơi phân phối các loại hàng hóa. Này Ānanada, thành Pāṭaliputta sẽ xảy ra ba tai họa do lửa, do nước, do sự chia hai từ trong nội bộ. [72] Sau đó, hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Xin ngài Gotama hãy nhận lời chúng tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã ra đi. Rồi hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài Gotama, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến nơi phân phối thức ăn của hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Khi đó, hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi đã (đến) ngồi xuống ở một bên đức Thế Tôn khi ấy đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa. Đức Thế Tôn đã tùy hỷ công đức cho hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra đang ngồi ở một bên bằng những lời kệ này: [72]
Rồi đức Thế Tôn sau khi tùy hỷ công đức cho hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra đang ngồi ở một bên bằng những lời kệ ấy rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Vào lúc bấy giờ, hai vị quan đại thần của xứ Magadha là Sunīdha và Vassakāra đã đi theo phía sau đức Thế Tôn (nghĩ rằng): "Hôm nay, Sa môn Gotama đi ra bằng cửa thành nào cửa thành ấy sẽ có tên là Cửa thành Gotama, và băng qua sông Hằng (Gaṅgā) bằng bến tàu nào thì bến tàu ấy sẽ có tên là Bến tàu Gotama." Sau đó, cửa thành mà đức Thế Tôn đã đi ra, cửa thành ấy có tên là Cửa thành Gotama. Rồi đức Thế Tôn đã đi đến sông Gaṅgā. Vào lúc bấy giờ, sông Gaṅgā luôn tràn đầy, mấp mé bờ khiến chim quạ có thể uống nước. Dân chúng một số người đi kiếm thuyền, một số đi kiếm xuồng, một số buộc thành chiếc bè với ước muốn đi sang bờ bên kia. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy những người ấy, một số người đang đi kiếm thuyền, một số đang đi kiếm xuồng, một số đang buộc thành chiếc bè với ước muốn đi sang bờ bên kia. Thấy vậy, giống như một người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế, đức Thế Tôn đã biến mất tại bờ bên này của sông Gaṅgā và hiện ra đứng ở bờ bên kia cùng với hội chúng Tỷ kheo. Khi ấy, đức Thế Tôn, sau khi đã hiểu được ý nghĩa sự việc ấy, rồi vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng rằng:
[75] Sau đó, đức Thế Tôn đã đi đến Koṭigāma. Tại nơi ấy, đức Thế Tôn ngự tại Koṭigāma. Ở đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, do sự không giác ngộ, không thấu triệt được bốn Chân Lý Cao Thượng, chính vì như thế mà ngay cả ta và các ngươi đã trải qua, đã luân hồi một khoảng thời gian dài thăm thẳm. Bốn điều ấy là gì? Này các Tỷ kheo, do sự không giác ngộ, không thấu triệt được Chân Lý Cao Thượng của Khổ, chính vì như thế mà ngay cả ta và các ngươi đã trải qua, đã luân hồi một khoảng thời gian dài thăm thẳm. ...(như trên)... Chân Lý Cao Thượng của Nguồn Gốc Sanh Khởi của Khổ, ...(như trên)... Chân Lý Cao Thượng của Sự Chấm Dứt của Khổ, ...(như trên)... Chân Lý Cao Thượng của Sự Thực Hành đưa đến Sự Chấm Dứt của Khổ, chính vì như thế mà ngay cả ta và các ngươi đã trải qua, đã luân hồi một khoảng thời gian dài thăm thẳm. Này các Tỷ kheo, khi Chân Lý Cao Thượng của Khổ này đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng của Nguồn Gốc Sanh Khởi của Khổ này đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng của Sự Chấm Dứt của Khổ này đã được giác ngộ đã được thấu triệt, Chân Lý Cao Thượng của Sự Thực Hành đưa đến Sự Chấm Dứt của Khổ này đã được giác ngộ đã được thấu triệt, sự khao khát về sự tái sanh đã được cắt đứt, lối đưa đến sự tái sanh đã cạn kiệt, giờ đây không còn sự tái sanh lần nữa. [76]
[77] Nàng kỷ nữ Ambapālī đã nghe được rằng: "Nghe nói đức Thế Tôn đã ngự đến Koṭigāma." Sau đó, nàng kỷ nữ Ambapālī đã cho thắng (ngựa vào) những cỗ xe vô cùng lộng lẫy, rồi bước lên cỗ xe vô cùng lộng lẫy, sau đó rời khỏi thành Vệ Xá (Vesālī) bằng những cỗ xe vô cùng lộng lẫy để diện kiến đức Thế Tôn. Sau khi đã đi hết khoảng đường dành cho cỗ xe, nàng đã xuống xe dùng chính đôi chân đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nàng kỷ nữ Ambapālī đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại. Rồi nàng kỷ nữ Ambapālī sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng Tỷ kheo chấp nhận bữa thọ trai vào ngày mai của con. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, nàng kỷ nữ Ambapālī sau khi biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Các vương tử giòng Licchavi ở Vesālī đã nghe được rằng: "Nghe nói đức Thế Tôn đã ngự đến Koṭigāma." Sau đó, các vương tử giòng Licchavi ở Vesālī đã cho thắng (ngựa vào) những cỗ xe vô cùng lộng lẫy, rồi bước lên cỗ xe vô cùng lộng lẫy, sau đó rời khỏi thành Vệ Xá (Vesālī) bằng những cỗ xe vô cùng lộng lẫy để diện kiến đức Thế Tôn. Một số các vị vương tử giòng Licchavi chuộng màu xanh, có vẻ bên ngoài màu xanh, y phục màu xanh, đồ trang sức màu xanh. Một số các vị vương tử giòng Licchavi chuộng màu vàng, có vẻ bên ngoài màu vàng, y phục màu vàng, đồ trang sức màu vàng. Một số các vị vương tử giòng Licchavi chuộng màu đỏ, có vẻ bên ngoài màu đỏ, y phục màu đỏ, đồ trang sức màu đỏ. Một số các vị vương tử giòng Licchavi chuộng màu trắng, có vẻ bên ngoài màu trắng, y phục màu trắng, đồ trang sức màu trắng. Khi ấy, nàng kỷ nữ Ambapālī di chuyển song song gọng xe với gọng xe, càng xe với càng xe, bánh xe với bánh xe, trục bánh xe với trục bánh xe của các vương tử rất trẻ tuổi giòng Licchavi. Khi ấy, các vương tử giòng Licchavi đã nói với nàng kỷ nữ Ambapālī điều này: - Này nàng Ambapālī, vì sao nàng lại di chuyển song song gọng xe với gọng xe, càng xe với càng xe, bánh xe với bánh xe, trục bánh xe với trục bánh xe của các vương tử rất trẻ tuổi giòng Licchavi vậy? - Này các cậu công tử, chính là vì tôi đã thỉnh mời được hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu vào ngày mai. - Này nàng Ambapālī, hãy nhường lại cho chúng tôi bữa thọ trai ấy với giá một trăm ngàn. - Này các cậu công tử, cho dù các cậu chịu nhường lại thành Vesālī luôn cả dân cư cho tôi, tôi cũng không chịu nhường lại bữa thọ trai ấy. Khi ấy, các vương tử giòng Licchavi ấy đã búng ngón tay (nói rằng): - Đúng là cô nàng vườn xoài đã cho chúng ta đo ván rồi! Đúng là cô nàng vườn xoài đã cho chúng ta đo ván rồi! Sau đó, các vương tử giòng Licchavi đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy các vương tử giòng Licchavi ấy đang đi đến từ đàng xa, sau khi thấy đã bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, chư thiên ở cõi Tam Thập Tam chưa được các Tỷ kheo nhìn thấy trước đây. Này các Tỷ kheo, hãy nhìn tập thể các vương tử giòng Licchavi. Này các Tỷ kheo, hãy nhìn tập thể các vương tử giòng Licchavi. Này các Tỷ kheo, hãy so sánh tập thể các vương tử giòng Licchavi với tập thể chư thiên cõi Tam Thập Tam. Khi ấy, các vương tử giòng Licchavi ấy sau khi đã đi hết khoảng đường dành cho cỗ xe rồi đã xuống xe dùng chính đôi chân đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các vương tử giòng Licchavi ấy đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại. Khi ấy, các vương tử giòng Licchavi ấy sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại đã bạch đã với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng Tỷ kheo chấp nhận bữa thọ trai vào ngày mai của chúng con. - Này các vị Licchavi, ta đã nhận lời nàng kỷ nữ Ambapālī về bữa thọ trai vào ngày mai rồi. Khi ấy, các vương tử giòng Licchavi ấy đã búng ngón tay (nói rằng): - Đúng là cô nàng vườn xoài đã cho chúng ta đo ván rồi! Đúng là cô nàng vườn xoài đã cho chúng ta đo ván rồi! Sau đó, các vương tử giòng Licchavi ấy đã được hoan hỷ và thỏa mãn với lời nói của đức Thế Tôn rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau khi đức Thế Tôn đã ngự tại Koṭigāma như ý thích rồi đã đi đến Nādikā. Tại nơi ấy, ở Nākikā, đức Thế Tôn ngự trong một căn nhà bằng gạch. Rồi trải qua đêm ấy, nàng kỷ nữ Ambapālī đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm trong khu vườn của mình rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến chỗ dâng cúng vật thực của nàng kỷ nữ Ambapālī, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Rồi nàng kỷ nữ Ambapālī sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm. Đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa, nàng đã ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, nàng kỷ nữ Ambapālī đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, con xin dâng khu vườn Ambapāli này đến hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu. Đức Thế Tôn đã thọ nhận khu vườn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nàng kỷ nữ Ambapālī bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến Đại Lâm (Mahāvana). Tại nơi ấy, ở Vesālī, đức Thế Tôn ngự tại Đại Lâm (Mahāvana), giảng đường Kūṭāgāra. Dứt Tụng Phẩm thứ ba, "Licchavi." [1] Pāṭaligāma là một làng (gāma) và Pāṭaliputta thuộc xứ Magadha, nay là thành phố Patna, Ấn Độ. -ooOoo-
Ðầu trang | Mục lục |
01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 | |