|
Tạng Luật Đại Phẩm Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch Tụng Phẩm thứ nhì [48] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại thành Xá Vệ (Sāvatthi) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Vương Xá (Rājagaha). Trên đường đi, Đại đức Kaṅkhārevata [1] nhìn thấy lò nấu đường nên đã bước sang một bên. Sau khi nhìn thấy (những người thợ) bỏ bột mì và tro vào trong mật đường, vị ấy (nghĩ rằng): "Mật đường trộn với vật thực là không được phép, (vì thế) đường không được thọ dụng lúc phi thời," nên đã ngần ngại rồi cùng với tập thể không thọ dụng đường. Nhiều vị nghĩ rằng nên nghe theo vị ấy rồi cũng không thọ dụng đường. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, vì mục đích gì mà họ bỏ bột mì và tro vào trong mật đường vậy? - Bạch Thế Tôn, vì mục đích kết tinh. - Này các Tỷ kheo, nếu vì mục đích kết tinh mà họ bỏ bột mì và tro vào trong mật đường, (hỗn hợp) ấy kết thành khối vẫn gọi là "Đường" vậy. Này các Tỷ kheo, ta cho phép thọ dụng đường tùy theo sự thỏa thích. Trên đường đi, Đại đức Kaṅkhārevata đã nhìn thấy cây đậu tây (mugga) [2] sinh trưởng ở bãi phân. Sau khi nhìn thấy, vị ấy (nghĩ rằng): "Các hạt đậu tây là không được phép, mặc dầu đã được nấu chín các hạt đậu tây vẫn sinh trưởng," nên đã ngần ngại rồi cùng với tập thể không thọ dụng đậu tây. Nhiều vị nghĩ rằng nên nghe theo vị ấy rồi cũng không thọ dụng đậu tây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, mặc dù đã được nấu chín đậu tây vẫn sinh trưởng. Này các Tỷ kheo, ta cho phép thọ dụng đậu tây tùy theo sự thỏa thích. Vào lúc bấy giờ, có một vị Tỷ kheo nọ bị bệnh đau bụng bão (udaravātābādha). Vị ấy húp cháo chua có bỏ muối. Bệnh đau bụng bão ấy của vị ấy được thuyên giảm. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép thọ dụng cháo chua có bỏ muối đối với vị bị bệnh, đối với vị không bệnh (ta cho phép thọ dụng cháo chua có bỏ muối) đã được pha trộn với nước như là thức uống. [49] Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến thành Vương Xá (Rājagaha). Tại nơi đó, trong thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Trúc Lâm (Veḷuvana), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bị bệnh đau bụng bão. Khi ấy, Đại đức Ānanda (nghĩ rằng): "Trước đây, bệnh đau bụng bão của đức Thế Tôn được dịu đi nhờ cháo gồm có ba thứ," nên đã đích thân đi xin mè, gạo lức, và đậu tây, rồi chuẩn bị ở trong phòng, đích thân nấu ở trong phòng, và đã đem đến dâng lên đức Thế Tôn: - Xin Thế Tôn hãy húp cháo gồm có ba thứ. Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để chận đứng vấn đề. Các vị Phật Thế Tôn hỏi các vị Tỷ kheo vì hai lý do: "Hoặc là chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử." Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Ānanda rằng: - Này Ānanda, cháo này từ đâu vậy? Khi ấy, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này Ānanda, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, là sai trái, không nên làm. Này Ānanda, vì sao ngươi lại nghĩ đến việc đa đoan thế này? Này Ānanda, vật đã được chuẩn bị ở trong phòng là không được phép, vật đã được nấu ở trong phòng là không được phép, vật đã được tự mình nấu là không được phép. Này Ānanda, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng (vật) đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở trong phòng, đã được tự mình nấu. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở trong phòng, đã được tự mình nấu thì phạm ba tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở trong phòng, đã được những người khác nấu thì phạm hai tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở bên ngoài, đã được tự mình nấu thì phạm hai tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở bên ngoài, đã được những người khác nấu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở bên ngoài, đã được nấu ở trong phòng, đã được những người khác nấu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở bên ngoài, đã được nấu ở bên ngoài, đã được tự mình nấu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy thọ dụng vật đã được chuẩn bị ở bên ngoài, đã được nấu ở bên ngoài, đã được những người khác nấu thì vô tội. [50] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo (nghĩ rằng): "Việc tự mình nấu đã được đức Thế Tôn cấm đoán," nên đã ngần ngại trong việc nấu lại lần nữa. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép nấu (lại) vật đã được nấu. [51] Vào lúc bấy giờ, thành Rājagaha bị khó khăn về vật thực. Dân chúng đã đem đến tu viện muối, dầu, gạo lức, và vật thực cứng. Các vị Tỷ kheo đã chuẩn bị các thức ấy ở bên ngoài. Các con thú hoang đã ăn đi. Những kẻ trộm đã lấy đi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép chuẩn bị ở trong phòng. Sau khi chuẩn bị ở trong phòng, các vị nấu ở bên ngoài. Những người chuyên ăn vật thực thừa vây quanh. Các vị Tỷ kheo thọ dụng không được thoải mái. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép nấu ở trong phòng. Trong thời gian khó khăn về vật thực, những người làm các vật trở thành đúng phép (cho các vị Tỷ kheo sử dụng) đã mang đi nhiều nhưng dâng cho các vị Tỷ kheo lại ít. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép tự mình nấu. Này các Tỷ kheo, ta cho phép (vật) đã được chuẩn bị ở trong phòng, đã được nấu ở trong phòng, đã được tự mình nấu. [52] Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo, khi đã trải qua việc an cư mùa mưa ở xứ Kāsī, đang đi đến Rājagaha để diện kiến đức Thế Tôn. Trên đường đi, các vị đã không nhận được đầy đủ về vật thực dầu tầm thường hay hảo hạng theo như nhu cầu và có nhiều vật ăn được là trái cây nhưng lại không có người làm (các trái cây ấy) trở thành đúng phép. Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy với vóc dáng mệt mỏi đã đi đến thành Vương Xá (Rājagaha), Trúc Lâm (Veḷuvana), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Các vị đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Điều đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các Tỷ kheo đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị Tỷ kheo ấy điều này: - Này các Tỷ kheo, mọi việc có tốt đẹp không? Cuộc sống có thoải mái không? Các ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này các Tỷ kheo, các ngươi từ đâu đến vậy? - Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp. Bạch Thế Tôn, cuộc sống được thoải mái. Bạch ngài, trong trường hợp này thì chúng con đã trải qua việc an cư mùa mưa ở xứ Kāsī và đang đi đến Rājagaha để diện kiến đức Thế Tôn. Trên đường đi, chúng con đã không nhận được đầy đủ về vật thực dầu tầm thường hay hảo hạng theo như nhu cầu và có nhiều vật ăn được là trái cây nhưng lại không có người làm (các trái cây ấy) trở thành đúng phép; vì thế, chúng con đã đi đến đường xa đến với vóc dáng mệt mỏi. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép ở nơi nào thấy có trái cây có thể ăn được và không có người làm (trái cây) trở thành đúng phép, thì tự mình nhặt lấy, mang đi, dến khi gặp được người làm (trái cây) trở thành đúng phép thì đặt (trái cây) trên mặt đất, bảo (người ấy) trao lại, rồi thọ dụng. Này các Tỷ kheo, ta cho phép thọ lãnh (trái cây) đã được nhặt lên. [53] Vào lúc bấy giờ, một người Bà La Môn nọ có được mè mới và mật đường mới. Khi ấy, người Bà La Môn ấy đã khởi ý này: "Hay là ta nên dâng mè mới và mật đường mới đến hội chúng có đức Phật đứng đầu?" Sau đó, người Bà La môn ấy đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, người Bà La môn ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin ngài Gotama hãy nhận lời tôi về bữa trai phạn vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, người Bà La môn ấy hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã ra đi. Rồi trải qua đêm ấy, người Bà La môn ấy đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài Gotama, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của người Bà La môn ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Rồi người Bà La môn ấy, sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm, đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa, thì đã đến ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người Bà La môn ấy đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Khi đức Thế Tôn ra đi không lâu, người Bà La môn ấy đã khởi ý điều này: "Hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu đã được ta thỉnh mời vì mục đích của những thứ này: ‘Ta sẽ dâng mè mới và mật đường mới,’ nhưng ta đã quên dâng chúng rồi. Hay là ta sẽ cho người mang mè mới và mật đường mới bằng các vại và hũ đến tu viện vậy?" Sau đó, người Bà La Môn ấy đã cho người mang mè mới và mật đường mới bằng các vại và hũ đến tu viện rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, người Bà La Môn ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài Gotama, hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu đã được tôi thỉnh mời vì mục đích của những thứ này: ‘Ta sẽ dâng mè mới và mật đường mới,’ nhưng tôi đã quên dâng chúng rồi. Bạch ngài Gotama, xin hãy thọ lãnh mè mới và mật đường mới. - Này Bà La Môn, như vậy thì ngươi hãy dâng đến các vị Tỷ kheo đi. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo (đang ở) vào thời kỳ khó khăn về vật thực chỉ được dâng những khẩu phần ít ỏi nên đã suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được yêu cầu, nhưng các vị Tỷ kheo đã ngần ngại rồi không thọ lãnh. - Này các Tỷ kheo, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị đã ăn xong khi được yêu cầu thì được thọ dụng vật không phải còn thừa và đã được đem lại từ chỗ đã ăn xong. [54] Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của Tỷ kheo Upananda con trai giòng Sākya (Thích Ca) vì lợi ích của hội chúng đã cho người đem lại vật thực loại cứng: "Nên được dâng đến hội chúng sau khi đã giải thích là của ngài Đại đức Upananda." Vào lúc bấy giờ, Đại đức Upananda con trai giòng Sākya đã đi vào làng để khất thực. Khi ấy, những người ấy đã đi đến tu viện và hỏi các vị Tỷ kheo rằng: - Bạch các ngài, ngài Đại đức Upananda ở đâu vậy? - Này các đạo hữu, Đại đức Upananda con trai giòng Sākya đã đi vào làng để khất thực. - Bạch các ngài, vật thực loại cứng này nên được dâng đến cho hội chúng sau khi đã giải thích là của ngài Đại đức Upananda. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, như vậy thì sau khi thọ lãnh các ngươi hãy để đó dến khi Upananda trở về. Khi ấy, Đại đức Upananda con trai giòng Sākya trước bữa ăn đã đi giao thiệp với các gia đình rồi về lại trong ngày. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo (đang ở) vào thời kỳ khó khăn về vật thực chỉ được dâng những khẩu phần ít ỏi nên đã suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được yêu cầu, nhưng các vị Tỷ kheo đã ngần ngại rồi không thọ lãnh. - Này các Tỷ kheo, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị đã ăn xong khi được yêu cầu thì được thọ dụng vật không phải còn thừa và đã được thọ lãnh trước bữa ăn. [55] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Vương Xá (Rājagaha) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Xá Vệ (Sāvatthi). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến Sāvatthi. Tại nơi đó, ở Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika). Vào lúc bấy giờ, Đại đức Xá Lợi Phất (Sāriputta) bị bệnh sốt toàn thân. Khi ấy, Đại đức Mục Kiền Liên (Mahāmoggallāna) đã đi đến gặp Đại đức Sāriputta, sau khi đến đã nói với Đại đức Sāriputta điều này: - Này Đại đức Sāriputta, trước đây bịnh sốt toàn thân của Đại đức được dịu đi nhờ vào thứ gì? - Này Đại đức, tôi nhờ vào các cọng súng và cọng sen. Sau đó, Đại đức Mahāmoggallāna, giống như một người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế, đã biến mất tại Kỳ Viên (Jetavana) rồi hiện ra ở bờ hồ sen Mandākinī. Một con long tượng nọ đã nhìn thấy Đại đức Mahāmoggallāna đang đi lại từ đàng xa, sau khi thấy, đã nói với Đại đức Mahāmoggallāna điều này: - Bạch ngài, xin ngài Đại đức Mahāmoggallāna hãy đến. Bạch ngài, xin hoan nghênh ngài Đại đức Mahāmoggallāna. Bạch ngài, ngài Đại đức có nhu cầu gì? Tôi có thể dâng vật gì? - Này đạo hữu, ta có nhu cầu về các cọng súng và cọng sen. Khi ấy, con long tượng ấy đã ra lệnh cho một con long tượng khác. - Này bạn, như vậy bạn hãy dâng đến ngài Đại đức các cọng súng và cọng sen theo như nhu cầu. Sau đó, con long tượng ấy đã lội xuống hồ sen Mandākinī rồi dùng vòi nhổ các cọng súng và cọng sen rồi rửa sạch sẽ, sau khi rửa xong đã buộc lại thành bó rồi đi đến gặp Đại đức Mahāmoggallāna. Khi ấy, Đại đức Mahāmoggallāna, giống như một người đàn ông có sức mạnh có thể duỗi ra cánh tay đã được co lại hoặc có thể co lại cánh tay đã được duỗi ra, tương tợ như thế, đã biến mất ở bờ hồ sen Mandākinī rồi hiện ra tại Kỳ Viên (Jetavana). Con long tượng cũng đã biến mất ở bờ hồ sen Mandākinī và hiện ra tại Kỳ Viên. Rồi con long tượng ấy, sau khi đã dâng đến Đại đức Mahāmoggallāna các cọng súng và cọng sen, đã biến mất tại Kỳ Viên (Jetavana) và hiện ra ở bờ hồ sen Mandākinī. Sau đó, Đại đức Mahāmoggallāna đã đem lại các cọng súng và cọng sen cho Đại đức Sāriputta. Rồi khi Đại đức Sāriputta đã thọ dụng các cọng súng và cọng sen, bệnh sốt toàn thân đã được thuyên giảm. Nhiều cọng súng và cọng sen còn thừa lại. Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo (đang ở) vào thời kỳ khó khăn về vật thực chỉ được dâng những khẩu phần ít ỏi nên đã suy nghĩ rồi từ chối. Và toàn bộ hội chúng đã được yêu cầu, nhưng các vị Tỷ kheo đã ngần ngại rồi không thọ lãnh. - Này các Tỷ kheo, hãy thọ lãnh và hãy thọ dụng. Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị đã ăn xong khi được yêu cầu thì được thọ dụng vật không phải còn thừa và đã được mọc ở rừng (hoặc) đã mọc ở hồ nước. [56] Vào lúc bấy giờ, ở thành Xá Vệ (Sāvatthi) có vô số trái cây có thể ăn được nhưng lại không có người làm (các trái cây ấy) trở thành đúng phép. Các vị Tỷ kheo đã ngần ngại rồi không thọ dụng trái cây. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, ta cho phép thọ dụng trái cây không có hột, hoặc không còn hột, cho dù chưa được làm trở thành đúng phép. [57] Rồi đức Thế Tôn, sau khi ngự tại thành Xá Vệ (Sāvatthi) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Vương Xá (Rājagaha). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Vương Xá (Rājagaha). Tại nơi đó, trong thành Rājagaha, đức Thế Tôn ngự tại Trúc Lâm (Veḷuvana), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ bị bệnh lở loét. Thầy thuốc Ākāsagotta đã thực hiện việc mổ xẻ. Sau đó, đức Thế Tôn trong khi đi bộ dạo quanh các chỗ trú ngụ đã đi đến trú xá của vị Tỷ kheo nọ. Thầy thuốc Ākāsagotta đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang đi lại từ đàng xa, sau khi thấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài Gotama, xin hãy lại đây. Xin hãy nhìn xem hậu môn của vị Tỷ kheo này, giống như là miệng của con kỳ nhông vậy. Khi ấy, đức Thế Tôn (nghĩ rằng): "Kẻ rồ dại này (muốn) đùa cợt ta!" rồi đã từ nơi ấy quay trở về và nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã triệu tập hội chúng Tỷ kheo và hỏi các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, có phải trong trú xá ở đàng kia có vị Tỷ kheo bị bệnh? - Bạch Thế Tôn, thưa có. - Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo ấy bị bệnh gì? - Bạch ngài, Đại đức ấy bị bệnh lở loét. Thầy thuốc Ākāsagotta đã thực hiện việc mổ xẻ. Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này các Tỷ kheo, thật không đúng đắn cho kẻ rồ dại kia, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, là sai trái, không nên làm. Này các Tỷ kheo, vì sao kẻ rồ dại ấy lại cho người thực hiện việc mổ xẻ ở chỗ kín (của cơ thể)? Này các Tỷ kheo, da ở chỗ kín (của cơ thể) thì mỏng, vết thương khó liền da, dao khó điều khiển. Này các Tỷ kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên cho người thực hiện việc mổ xẻ ở chỗ kín (của cơ thể). Vị nào cho người thực hiện thì phạm trọng tội (thullaccaya). Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): "Việc mổ xẻ đã được đức Thế Tôn cấm đoán," nên đã cho người thực hiện việc bơm thụt. Các vị Tỷ kheo ít ham muốn, ...(như trên)... Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các Tỷ kheo nhóm Lục Sư lại cho người thực hiện việc bơm thụt? Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, nghe nói các Tỷ kheo nhóm Lục Sư cho người thực hiện việc bơm thụt, có đúng không vậy? - Đúng vậy, bạch Thế Tôn. ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên cho người thực hiện việc mổ xẻ hoặc việc bơm thụt xung quanh chỗ kín (của cơ thể) hai lóng tay. Vị nào cho người thực hiện thì phạm trọng tội (thullaccaya). [58] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Vương Xá (Rājagaha) theo như ý thích đã ra đi du hành đến thành Ba La Nại (Bārāṇasī). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Ba La Nại (Bārāṇasī). Tại nơi đó, trong thành Ba La Nại (Bārāṇasī), đức Thế Tôn ngự tại Isipatana, ở vườn nai. Vào lúc bấy giờ, trong thành Bārāṇasī, có nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā. Cả hai là người có đức tin, là thí chủ, là người phục vụ, là người hộ độ cho hội chúng. Khi ấy, nữ cư sĩ Suppiyā sau khi đi đến tu viện đã đi từ trú xá này đến trú xá khác, từ phòng này đến phòng khác, và hỏi các vị Tỷ kheo rằng: - Bạch ngài, vị nào bị bệnh? Vật gì cần được mang lại? Và cho vị nào? Vào lúc bấy giờ, có một vị Tỷ kheo nọ đã uống thuốc xổ. Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: - Này chị, tôi đã uống thuốc xổ. Tôi có nhu cầu về mùi vị của thịt. - Bạch ngài, xin vâng. (Vật ấy) sẽ được mang lại. Sau khi về nhà, nữ cư sĩ Suppiyā đã bảo người giúp việc rằng: - Này em, hãy đi và tìm (mua) loại thịt đã được làm sẵn (pavattamamsam). - Xin vâng, thưa cô chủ. Rồi người tớ trai nghe theo nữ cư sĩ Suppiyā đã đi rảo khắp cả thành Bārāṇasī nhưng vẫn không thấy loại thịt đã được làm sẵn. Sau đó, người tớ trai đã đi đến gặp nữ cư sĩ Suppiyā, sau khi đến đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: - Thưa cô chủ, không có thịt đã được làm sẵn. Hôm nay là ngày kiêng sát sanh. Khi ấy, nữ cư sĩ Suppiyā khởi ý rằng: "Vị Tỷ kheo bệnh ấy mà không có được mùi vị của thịt thì bệnh sẽ trầm trọng hơn hoặc sẽ chết. Đối với ta, việc ta đã hứa mà không cho người đem lại là việc không đúng đắn." Rồi nàng đã lấy con dao găm cắt miếng thịt ở đùi rồi trao cho người tớ gái (nói rằng): - Hãy chuẩn bị miếng thịt này rồi dâng đến vị Tỷ kheo bệnh ấy ở trong trú xá kia. Và ai hỏi ta thì hãy báo cho biết là: "Cô chủ bị bệnh." Rồi nàng đã lấy thượng y quấn quanh đùi, đi vào phòng trong, và nằm xuống trên giường. Sau đó, nam cư sĩ Suppiya sau khi trở về nhà đã hỏi người tớ gái rằng: - Suppiyā đâu rồi? - Thưa ông chủ, bà nằm ở phòng trong. Sau đó, nam cư sĩ Suppiya đã đi đến gặp nữ cư sĩ Suppiyā, sau khi đến đã nói với nữ cư sĩ Suppiyā điều này: - Vì sao nàng lại nằm vậy? - Thiếp bị bệnh. - Nàng bị bệnh gì vậy? Sau đó, nữ cư sĩ Suppiyā đã kể lại sự việc ấy cho nam cư sĩ Suppiya. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya (nghĩ rằng): "Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Nàng Suppiyā đã được an trú vào niềm tin đến thế. Bởi vì ngay cả thịt của chính bản thân còn được dứt bỏ thì còn có gì khác nữa mà nàng không thể bố thí?" nên đã hoan hỷ, phấn khởi đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, nam cư sĩ Suppiya đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. Đức Thế tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, nam cư sĩ Suppiya biết được sự nhận lời của đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi. Rồi trải qua đêm ấy, nam cư sĩ Suppiya đã cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng cứng mềm rồi cho người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của nam cư sĩ Suppiya, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Khi đó, nam cư sĩ Suppiya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Đức Thế Tôn đã nói với nam cư sĩ Suppiya đang đứng một bên điều này: - Suppiyā đâu rồi? - Bạch Thế Tôn, nàng bị bệnh. - Như vậy thì (nàng) hãy đi đến đây. - Bạch Thế Tôn, nàng không đủ sức. - Như vậy thì hãy ẵm rồi đưa (nàng) lại đây. Sau đó, nam cư sĩ Suppiya đã ẵm và đưa nữ cư sĩ Suppiyā lại. Khi đức Thế Tôn nhìn thấy nàng, ngay khi ấy vết thương lớn đã được liền lại, có làn da đẹp, và lông tơ đã mọc. Khi ấy, nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā (nghĩ rằng): "Thật kỳ diệu thay! Thật phi thường thay! Đức Như Lai có đại thần lực, có đại oai lực! Bởi vì chỉ với ánh nhìn của đức Thế Tôn ở nơi ấy thôi, ngay lập tức vết thương lớn đã được liền lại, có làn da đẹp, và lông tơ đã mọc," (trở nên) hoan hỷ, phấn khởi rổi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm, đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa, đã ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho nam cư sĩ Suppiya và nữ cư sĩ Suppiyā bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. [59] Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã triệu tập hội chúng Tỷ kheo lại và hỏi các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, vị nào đã yêu cầu nữ cư sĩ Suppiyā về thịt? Khi được hỏi như thế, vị Tỷ kheo ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, chính con đã yêu cầu nữ cư sĩ Suppiyā về thịt. - Này Tỷ kheo, có phải (thịt) đã được đem đến đây? - Bạch Thế Tôn, (thịt) đã được đem đến đây. - Này Tỷ kheo, có phải ngươi đã thọ dụng? - Bạch Thế Tôn, con đã thọ dụng. - Này Tỷ kheo, ngươi có quán xét (là thịt gì) hay không? - Bạch Thế Tôn, con đã không quán xét (là thịt gì). Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng: - Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi chưa quán xét mà lại thọ dụng thịt? Này kẻ rồ dại, ngươi đã thọ dụng thịt người. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, có những người có niềm tin đã được an trú, ngay thịt của chính bản thân còn được những người này dứt bỏ. Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt người. Vị nào thọ dụng thì phạm trọng tội (thullaccaya). Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt khi chưa quán xét. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). [60] Vào lúc bấy giờ, các con voi của đức vua bị chết. Dân chúng ở vào thời kỳ khó khăn về vật thực nên đã ăn thịt voi. Họ đã bố thí thịt voi đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo đã thọ dụng thịt voi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các sa-môn Thích Tử lại thọ dụng thịt voi? Các con voi là vật biểu tượng của hoàng gia, nếu đức vua biết thì ngài sẽ không hoan hỷ với các vị nữa đâu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt voi. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, các con ngựa của đức vua bị chết. Dân chúng ở vào thời kỳ khó khăn về vật thực nên đã ăn thịt ngựa. Họ đã bố thí thịt ngựa đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo đã thọ dụng thịt ngựa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các sa-môn Thích Tử lại thọ dụng thịt ngựa? Các con ngựa là vật biểu tượng của hoàng gia, nếu đức vua biết thì ngài sẽ không hoan hỷ với các vị nữa đâu. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt ngựa. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, dân chúng ở vào thời kỳ khó khăn về vật thực nên đã ăn thịt chó. Họ đã bố thí thịt chó đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo đã thọ dụng thịt chó. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các sa-môn Thích Tử lại thọ dụng thịt chó? Loài chó thì ghê tởm và đáng ghét. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt chó. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, dân chúng ở vào thời kỳ khó khăn về vật thực nên đã ăn thịt rắn. Họ đã bố thí thịt rắn đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo đã thọ dụng thịt rắn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Vì sao các sa-môn Thích Tử lại thọ dụng thịt rắn? Loài rắn thì ghê tởm và đáng ghét. Vua của loài rắn là Supassa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, Supassa vua của loài rắn đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, có những loài rắn không có đức tin, không được hoan hỷ, chúng có thể hãm hại các vị Tỷ kheo dầu là việc không đáng. Bạch ngài, thật tốt đẹp thay các ngài Đại đức chớ nên thọ dụng thịt rắn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Supassa vua của loài rắn bằng bài Pháp thoại. Rồi Supassa vua của loài rắn sau khi đã được đức Thế tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đã đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy, đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt rắn. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết một con sư tử rồi đã ăn thịt sư tử. Họ đã bố thí thịt sư tử đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo sau khi thọ dụng thịt sư tử rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con sư tử (nhận biết được) mùi thịt sư tử nên đã vồ lấy các vị Tỷ kheo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt sư tử. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết một con hổ rồi đã ăn thịt hổ. Họ đã bố thí thịt hổ đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo sau khi thọ dụng thịt hổ rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con hổ (nhận biết được) mùi thịt hổ nên đã vồ lấy các vị Tỷ kheo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt hổ. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết một con beo rồi đã ăn thịt beo. Họ đã bố thí thịt beo đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo sau khi thọ dụng thịt beo rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con beo (nhận biết được) mùi thịt beo nên đã vồ lấy các vị Tỷ kheo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt beo. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết một con gấu rồi đã ăn thịt gấu. Họ đã bố thí thịt gấu đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo sau khi thọ dụng thịt gấu rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con gấu (nhận biết được) mùi thịt gấu nên đã vồ lấy các vị Tỷ kheo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt gấu. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Vào lúc bấy giờ, những người thợ săn giết chết một con chó sói rồi đã ăn thịt chó sói. Họ đã bố thí thịt chó sói đến các vị Tỷ kheo đang đi khất thực. Các vị Tỷ kheo sau khi thọ dụng thịt chó sói rồi vào ngụ ở trong rừng. Những con chó sói (nhận biết được) mùi thịt chó sói nên đã vồ lấy các vị Tỷ kheo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - Này các Tỷ kheo, không nên thọ dụng thịt chó sói. Vị nào thọ dụng thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Dứt "Tụng phẩm Suppiya" là phần thứ nhì. [1] Kaṅkhā có nghĩa là sự hoài nghi, sự nghi ngờ, sự không chắc chắn. Sau khi dịch tiếp phần dưới, chúng tôi nghĩ rằng đây có thể là biệt hiệu của vị Tỷ kheo tên Revata; như thế tên vị ấy có thể dịch là "Revata đa nghi." [2] Không rõ loại đậu này là loại đậu gì? Ngài Buddhaghosa giải thích: "Chúng được phép vì đã được nấu chín." Theo mạch văn, chúng tôi nghĩ rằng loại hạt này dầu đã được nấu chín, và trải qua quá trình tiêu hóa, rồi được thải ra theo đường phân vẫn có thể nẩy mầm và mọc thành cây; nhưng vẫn không nghĩ ra được loại hạt gì có khả năng ấy. -ooOoo-
Ðầu trang | Mục lục |
01 |
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 | |