Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng Phẩm thứ nhì

[233] Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú đã tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy đã không biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi đã thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đã đi đến. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu.

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu.

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu.

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. ...(như trên)... có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. ...(như trên)... có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu.

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, trong khi hội chúng còn chưa đứng lên thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. ...(như trên)... có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu.

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, một số thuộc hội chúng đã đứng lên thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. ...(như trên)... có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu.

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong, toàn bộ hội chúng đã đứng lên thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu. ...(như trên)... có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Vô tội đối với các vị đã thỉnh cầu.

Dứt Mười lăm Trường hợp Vô tội.

[234] Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). ...(như trên)... Có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy tưởng là đúng Pháp, tưởng là đúng Luật, là phe nhóm lại tưởng là hợp nhất rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong ...(như trên)... trong khi hội chúng còn chưa đứng lên ...(như trên)... một số thuộc hội chúng đã đứng lên ...(như trên)... toàn bộ hội chúng đã đứng lên thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Dứt Mười lăm Trường hợp là Phe nhóm lại tưởng là Hợp nhất.

[235] Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: "Lễ Pavāraṇā của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?" rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). ...(như trên)... Có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy có sự nghi ngờ rằng: "Lễ Pavāraṇā của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?" rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong ...(như trên)... trong khi hội chúng còn chưa đứng lên ...(như trên)... một số thuộc hội chúng đã đứng lên ...(như trên)... toàn bộ hội chúng đã đứng lên thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Dứt Mười lăm Trường hợp Nghi ngờ.

[236] Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị có sự ngần ngại rằng: "Lễ Pavāraṇā của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?" rồi vẫn thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). ...(như trên)... Có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy có sự ngần ngại rằng: "Lễ Pavāraṇā của chúng ta được phép thực hiện hay không được phép?" rồi vẫn thực hiện lễ Pavāraṇā. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong ...(như trên)... trong khi hội chúng còn chưa đứng lên ...(như trên)... một số thuộc hội chúng đã đứng lên ...(như trên)... toàn bộ hội chúng đã đứng lên thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Dứt Mười lăm Trường hợp Có sự Ngần Ngại.

[237] Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): "Các vị nầy tiêu mất đi! Các vị nầy chết mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?" rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Trong khi các vị ấy đang thỉnh cầu thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm trọng tội (thullaccaya). ...(như trên)... Có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, các vị còn lại nên thỉnh cầu. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm trọng tội (thullaccaya).

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy biết rằng: "Có những Tỷ kheo thường trú khác đã không đi đến." Các vị ấy có dự tính chia rẽ (nghĩ rằng): "Các vị nầy tiêu mất đi! Các vị nầy chết mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?" rồi thực hiện lễ Pavāraṇā. Khi các vị ấy vừa thỉnh cầu xong ...(như trên)... trong khi hội chúng còn chưa đứng lên ...(như trên)... một số thuộc hội chúng đã đứng lên ...(như trên)... toàn bộ hội chúng đã đứng lên thì có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) nhiều hơn đi đến. Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy nên thỉnh cầu lại. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm trọng tội (thullaccaya). ...(như trên)... Có các vị Tỷ kheo thường trú khác (có số lượng) tương đương đi đến. ...(như trên)... (có số lượng) ít hơn đi đến. Các vị đã thỉnh cầu là đã thỉnh cầu tốt đẹp, (các vị đến sau) nên thỉnh cầu trong sự hiện diện của các vị ấy. Các vị đã thỉnh cầu thì phạm trọng tội (thullaccaya).

Dứt Mười lăm Trường hợp Có Dự tính Chia rẽ.

[238] Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có nhiều vị Tỷ kheo thường trú tụ hội lại là năm vị hoặc hơn. Các vị ấy không biết rằng: "Các vị Tỷ kheo thường trú khác đang đi vào trong ranh giới," ...(như trên)... Các vị ấy không biết rằng: "Các vị Tỷ kheo thường trú khác đã đi vào trong ranh giới," ...(như trên)... Các vị ấy không nhìn thấy các vị Tỷ kheo thường trú khác đang đi vào trong ranh giới, ...(như trên)... Các vị ấy không nhìn thấy các vị Tỷ kheo thường trú khác đã đi vào trong ranh giới, ...(như trên)... Các vị ấy không nghe rằng: "Các vị Tỷ kheo thường trú khác đang đi vào trong ranh giới," ...(như trên)... Các vị ấy không nghe rằng: "Các vị Tỷ kheo thường trú khác đã đi vào trong ranh giới," ...(như trên)... Theo phương thức của một trăm bảy mươi lăm nhóm ba của vị thường trú với vị thường trú, của vị vãng lai với vị thường trú, của vị thường trú với vị vãng lai, của vị vãng lai với vị vãng lai; theo các thức thêm vào những phần tương tợ thì tạo ra được bảy trăm nhóm ba.

[239] Này các Tỷ kheo, trường hợp ngày mười bốn là của các Tỷ kheo thường trú, ngày mười lăm là của các Tỷ kheo vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu (có số lượng) bằng nhau thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên thuận theo các vị vãng lai.

Này các Tỷ kheo, trường hợp ngày mười lăm là của các Tỷ kheo thường trú, ngày mười bốn là của các Tỷ kheo vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu (có số lượng) bằng nhau thì các vị vãng lai nên thuận theo các vị thường trú. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên thuận theo các vị vãng lai.

Này các Tỷ kheo, trường hợp ngày đầu tháng là của các Tỷ kheo thường trú, ngày mười lăm là của các Tỷ kheo vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn và các vị thường trú không chịu thì không nên bày tỏ sự hợp nhất đối với các vị vãng lai; các vị vãng lai nên đi ra khỏi ranh giới rồi tiến hành lễ Pavāraṇā. Nếu (có số lượng) bằng nhau và các vị thường trú không chịu thì không nên bày tỏ sự hợp nhất đối với các vị vãng lai; các vị vãng lai nên đi ra khỏi ranh giới rồi tiến hành lễ Pavāraṇā.  Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn thì các vị thường trú nên bày tỏ sự hợp nhất đối với các vị vãng lai hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới.

Này các Tỷ kheo, trường hợp ngày mười lăm là của các Tỷ kheo thường trú, ngày đầu tháng là của các Tỷ kheo vãng lai. Nếu các vị thường trú (có số lượng) nhiều hơn thì các vị vãng lai nên bày tỏ sự hợp nhất đối với các vị thường trú hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới. Nếu (có số lượng) bằng nhau thì các vị vãng lai nên bày tỏ sự hợp nhất đối với các vị thường trú hoặc là nên đi ra khỏi ranh giới. Nếu các vị vãng lai (có số lượng) nhiều hơn và các vị vãng lai không chịu thì không nên bày tỏ sự hợp nhất đối với các vị thường trú; các vị thường trú nên đi ra khỏi ranh giới rồi tiến hành lễ Pavāraṇā.

[240] Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo vãng lai nhìn thấy sự biểu hiện của việc cư trú, đặc điểm của việc cư trú, hiện tướng của việc cư trú, dấu hiệu của việc cư trú của các vị Tỷ kheo thường trú (như là) giường ghế nệm gối được sắp xếp cẩn thận, nước uống nước rửa được khéo bố trí, phòng ốc được quét dọn sạch sẽ, sau khi nhìn thấy khởi lên nghi ngờ: "Có các vị Tỷ kheo thường trú hay không có?" Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm lại tiến hành lễ Pavāraṇā thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy mới tiến hành lễ Pavāraṇā thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Pavāraṇā riêng rẽ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy (nói rằng): "Các vị nầy tiêu mất đi! Các vị nầy chết mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?" có dự tính chia rẽ rồi tiến hành lễ Pavāraṇā thì phạm trọng tội (thullaccaya).

Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo vãng lai nghe được sự biểu hiện của việc cư trú, đặc điểm của việc cư trú, hiện tướng của việc cư trú, dấu hiệu của việc cư trú của các vị Tỷ kheo thường trú (như là) tiếng bước chân của những vị đi kinh hành, tiếng học bài, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi, sau khi nghe khởi lên nghi ngờ: "Có các vị Tỷ kheo thường trú hay không có?" Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm lại tiến hành lễ Pavāraṇā thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy mới tiến hành lễ Pavāraṇā thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Pavāraṇā riêng rẽ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy (nói rằng): "Các vị nầy tiêu mất đi! Các vị nầy chết mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?" có dự tính chia rẽ rồi tiến hành lễ Pavāraṇā thì phạm trọng tội (thullaccaya).

Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo thường trú nhìn thấy sự biểu hiện của việc đi đến, đặc điểm của việc đi đến, hiện tướng của việc đi đến, dấu hiệu của việc đi đến của các vị Tỷ kheo vãng lai (như là) bình bát khác lạ, y khác lạ, toạ cụ khác lạ, sự vung vãi nước rửa các bàn chân, sau khi nhìn thấy khởi lên nghi ngờ: "Có các vị Tỷ kheo vãng lai hay không có?" Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm lại tiến hành lễ Pavāraṇā thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy mới tiến hành lễ Pavāraṇā thì vô tội. ...(như trên)... Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Pavāraṇā riêng rẽ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy (nói rằng): "Các vị nầy tiêu mất đi! Các vị nầy chết mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?" có dự tính chia rẽ rồi tiến hành lễ Pavāraṇā thì phạm trọng tội (thullaccaya).

Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo thường trú nghe được sự biểu hiện của việc đi đến, đặc điểm của việc đi đến, hiện tướng của việc đi đến, dấu hiệu của việc đi đến của các vị Tỷ kheo vãng lai (như là) tiếng bước chân của các vị đang đi đến, tiếng động gây nên bởi các đôi dép, tiếng đằng hắng, tiếng hắt hơi, sau khi nghe khởi lên nghi ngờ: "Có các vị Tỷ kheo vãng lai hay không có?" Các vị nghi ngờ nhưng không tìm kiếm, sau khi không tìm kiếm lại tiến hành lễ Pavāraṇā thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). ...(như trên)... Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm không nhìn thấy, sau khi không nhìn thấy mới tiến hành lễ Pavāraṇā thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì vô tội. Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy rồi tiến hành lễ Pavāraṇā riêng rẽ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị nghi ngờ rồi tìm kiếm, sau khi tìm kiếm thì nhìn thấy, sau khi nhìn thấy (nói rằng): "Các vị nầy tiêu mất đi! Các vị nầy chết mất đi! Ai mà cần đến các vị ấy?" có dự tính chia rẽ rồi tiến hành lễ Pavāraṇā thì phạm trọng tội (thullaccaya).

[241] Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo vãng lai nhìn thấy các vị Tỷ kheo thường trú là thuộc nhóm cộng trú khác (nānāsamvāsaka). Các vị ấy nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú (samānasamsāsaka), sau khi nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú rồi không hỏi, sau khi không hỏi rồi tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì vô tội. ...(như trên)... Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi lại không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi lại không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Pavāraṇā riêng rẽ thì vô tội.

Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo vãng lai nhìn thấy các vị Tỷ kheo thường trú là các vị thuộc cùng nhóm cộng trú. Các vị ấy nhận lầm là thuộc nhóm cộng trú khác, sau khi nhận lầm là thuộc nhóm cộng trú khác lại không hỏi, sau khi không hỏi lại tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). ...(như trên)... Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi lại thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Pavāraṇā riêng rẽ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi lại thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì vô tội.

Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo thường trú nhìn thấy các vị Tỷ kheo vãng lai là thuộc nhóm cộng trú khác. Các vị ấy nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú, sau khi nhận lầm là thuộc cùng nhóm cộng trú rồi không hỏi, sau khi không hỏi rồi tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì vô tội. ...(như trên)... Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi lại không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) lại tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi lại không thay đổi (quan điểm), sau khi không thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Pavāraṇā riêng rẽ thì vô tội.

Này các Tỷ kheo, trường hợp các Tỷ kheo thường trú nhìn thấy các vị Tỷ kheo vãng lai là thuộc cùng nhóm cộng trú. Các vị ấy nhận lầm là thuộc nhóm cộng trú khác, sau khi nhận lầm là thuộc nhóm cộng trú khác lại không hỏi, sau khi không hỏi lại tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi lại thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Pavāraṇā riêng rẽ thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Các vị ấy hỏi, sau khi hỏi lại thay đổi (quan điểm), sau khi thay đổi (quan điểm) rồi tiến hành lễ Pavāraṇā chung thì vô tội.

[242] Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.

Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.

Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ không có Tỷ kheo trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.

Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ có Tỷ kheo nhưng các Tỷ kheo ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo nhưng các Tỷ kheo ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm. Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo nhưng các Tỷ kheo ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.

Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... nơi không phải là chỗ trú ngụ ...(như trên)... chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo nhưng các Tỷ kheo ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.

Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo không nên đi đến chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo nhưng các Tỷ kheo ở nơi ấy là thuộc nhóm cộng trú khác trừ phi (đi cùng) với hội chúng, trừ phi có nguy hiểm.

Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā từ chỗ trú ngụ có Tỷ kheo có thể đi đến chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo và các Tỷ kheo ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu vị ấy biết rằng: "Ta có thể đi đến nội trong ngày nay."

Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā vị Tỷ kheo từ nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo có thể đi đến chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo và các Tỷ kheo ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu vị ấy biết rằng: "Ta có thể đi đến nội trong ngày nay."

Này các Tỷ kheo, vào ngày lễ Pavāraṇā vị Tỷ kheo từ chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo có thể đi đến chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo ...(như trên)... chỗ trú ngụ hoặc nơi không phải là chỗ trú ngụ có Tỷ kheo và các Tỷ kheo ở nơi ấy thuộc cùng nhóm cộng trú, nếu vị ấy biết rằng: "Ta có thể đi đến nội trong ngày nay."

[243] Này các Tỷ kheo, không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có vị Tỷ kheo ni. Vị nào thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, không nên ... có cô ni tu tập sự ... có vị sa-di ... có vị sa-di ni ... có người đã từ bỏ điều học ... không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có vị đã phạm tội cực nặng. Vị nào thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội. Vị nào thỉnh cầu thì nên được hành xử theo pháp. ... đến hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi ... Không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác. Vị nào thỉnh cầu thì nên được hành xử theo pháp.

Này các Tỷ kheo, không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có kẻ bị thiến. Vị nào thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). ... có kẻ trộm tướng mạo (Tỷ kheo) ... có kẻ đã chuyển sang ngoại đạo ... có loài thú ... có kẻ giết mẹ ... có kẻ giết cha ... có kẻ giết A La Hán ... có kẻ làm nhơ nhớp Tỷ kheo ni ... có kẻ chia rẽ hội chúng ... có kẻ làm chảy máu chân đức Phật ... không nên thỉnh cầu với hội chúng đã ngồi xuống có kẻ lưỡng tánh. Vị nào thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, lễ Pavāraṇā không nên tiến hành với việc bày tỏ lời thỉnh cầu của vị hành parivāsa, trừ trường hợp tập thể chưa đứng lên (avuṭṭhitāya parisāya).[1]

Này các Tỷ kheo, không nên tiến hành lễ Pavāraṇā không nhằm ngày Pavāraṇā trừ phi vào lúc hợp nhất hội chúng.

Dứt Tụng Phẩm thứ nhì.



[1] Việc này tương tợ như [202] ở chương Lễ Uposatha.

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]