Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


IV. Chương Pavāraṇā
(Pavāraṇākkhandhakam)

Tụng Phẩm thứ nhất

[224] Vào lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Xá Vệ (Sāvatthi) Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika).

Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo là bạn bè đồng quan điểm đã vào mùa (an cư) mưa tại một trú xứ nọ ở trong xứ Kosala. Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Chúng ta là hòa thuận, luôn thân thiện, không cãi vả, vậy bằng phương thức nào có thể sống mùa (an cư) mưa một cách thỏai mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?" Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Nếu chúng ta có thể không nói với nhau và cũng không chuyện trò. Vị nào đi khất thực từ làng trở về trước tiên vị ấy sắp xếp chỗ ngồi, chuẩn bị nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi đem lại, đem lại nước uống và nước rửa. Vị nào đi khất thực từ làng trở về sau cùng, nếu vật thực được ăn còn thừa lại, nếu muốn thì vị ấy có thể ăn; nếu không muốn, thì đem quăng bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật. Vị ấy xếp chỗ ngồi lại, dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi cất đi, dọn dẹp nước uống, nước rửa, và quét nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, lu nước rửa, lu nước nhà vệ sinh hết nước, trống trơn, thì đổ nước vào. Nếu vị ấy không làm nổi, thì sau khi ra hiệu bằng tay mời vị thứ hai, vị ấy có thể yêu cầu phụ giúp với hành động bằng tay; và không vì lý do đó mà lời nói có thể phát ra. Như thế chúng ta là hòa thuận, luôn thân thiện, không cãi vả có thể sống sống mùa (an cư) mưa một cách thỏai mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực." Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã không nói với nhau và cũng không chuyện trò. Vị nào đi khất thực từ làng trở về trước tiên vị ấy sắp xếp chỗ ngồi, chuẩn bị nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi đem lại, đem lại nước uống và nước rửa. Vị nào đi khất thực từ làng trở về sau cùng, nếu vật thực được ăn còn thừa lại, nếu muốn thì vị ấy ăn; nếu không muốn, thì đem quăng bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật. Vị ấy xếp chỗ ngồi lại, dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi cất đi, dọn dẹp nước uống, nước rửa, và quét nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, lu nước rửa, lu nước nhà vệ sinh hết nước, trống trơn, thì đổ nước vào. Nếu vị ấy không làm nổi, thì sau khi ra hiệu bằng tay mời vị thứ hai, vị ấy yêu cầu phụ giúp với hành động bằng tay; và không vì lý do đó mà lời nói được phát ra.

[225] Điều này đã trở thành thông lệ của các Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa là đi đến để diện kiến đức Thế Tôn. Rồi các vị Tỷ kheo ấy, khi đã sống qua mùa (an cư) mưa với thời gian ba tháng, đã thu xếp chỗ trú ngụ, cầm y bát, ra đi về thành Sāvatthi. Tuần tự, các vị đã đến Kỳ Viên (Jetavana), tu viện của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở với các vị Tỷ kheo đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị Tỷ kheo ấy điều này:

- Này các Tỷ kheo, mọi việc có tốt đẹp không? Cuộc sống có thỏai mái không? Các ngươi là hòa thuận, luôn thân thiện, không cãi vả có phải đã sống mùa (an cư) mưa một cách thỏai mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực không?

- Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Bạch Thế Tôn cuộc sống được thỏai mái. Và bạch ngài, chúng con là hòa thuận, luôn thân thiện, không cãi vả, đã sống mùa (an cư) mưa một cách thỏai mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.

Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để chận đứng vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các vị Tỷ kheo với hai lý do: "Chúng ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử."

Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị Tỷ kheo ấy điều này:

- Này các Tỷ kheo, các ngươi là hòa thuận, luôn thân thiện, không cãi vả, đã sống mùa (an cư) mưa một cách thỏai mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực là như thế nào?

- Bạch ngài, trường hợp chúng con gồm nhiều vị Tỷ kheo là bạn bè đồng quan điểm đã vào mùa (an cư) mưa tại một trú xứ nọ ở trong xứ Kosala. Bạch ngài, chúng con đây đã khởi ý rằng: "Chúng ta là hòa thuận, luôn thân thiện, không cãi vả, vậy bằng phương thức nào có thể sống mùa (an cư) mưa một cách thỏai mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?" Bạch ngài, chúng con đây đã khởi ý rằng: "Nếu chúng ta có thể không nói với nhau và cũng không chuyện trò. Vị nào đi khất thực từ làng trở về trước tiên vị ấy sắp xếp chỗ ngồi, chuẩn bị nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi đem lại, đem lại nước uống và nước rửa. Vị nào đi khất thực từ làng trở về sau cùng, nếu vật thực được ăn còn thừa lại, nếu muốn thì vị ấy có thể ăn; nếu không muốn, thì đem quăng bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật. Vị ấy xếp chỗ ngồi lại, dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi cất đi, dọn dẹp nước uống, nước rửa, và quét nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, lu nước rửa, lu nước nhà vệ sinh hết nước, trống trơn, thì đổ nước vào. Nếu vị ấy không làm nổi, thì sau khi ra hiệu bằng tay mời vị thứ hai, vị ấy có thể yêu cầu phụ giúp với hành động bằng tay; và không vì lý do đó mà lời nói có thể phát ra. Như thế chúng ta là hòa thuận, luôn thân thiện, không cãi vả có thể sống sống mùa (an cư) mưa một cách thỏai mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực." Bạch ngài, sau đó chúng con đã không nói với nhau và cũng không chuyện trò. Vị nào đi khất thực từ làng trở về trước tiên vị ấy sắp xếp chỗ ngồi, chuẩn bị nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi đem lại, đem lại nước uống và nước rửa. Vị nào đi khất thực từ làng trở về sau cùng, nếu vật thực được ăn còn thừa lại, nếu muốn thì vị ấy ăn; nếu không muốn, thì đem quăng bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc đổ xuống nước không có sinh vật. Vị ấy xếp chỗ ngồi lại, dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân, rửa chậu đựng đồ thừa rồi cất đi, dọn dẹp nước uống, nước rửa, và quét nhà ăn. Vị nào thấy lu nước uống, lu nước rửa, lu nước nhà vệ sinh hết nước, trống trơn, thì đổ nước vào. Nếu vị ấy không làm nổi, thì sau khi ra hiệu bằng tay mời vị thứ hai, vị ấy yêu cầu phụ giúp với hành động bằng tay; và không vì lý do đó mà lời nói được phát ra.

[226] Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, thật ra những kẻ rồ dại này đã sống một cách không thỏai mái lại bảo rằng: "Chúng con đã cùng nhau sống một cách thỏai mái." Này các Tỷ kheo, thật ra những kẻ rồ dại này đã sống với lối sống chung của loài thú lại bảo rằng: "Chúng con đã cùng nhau sống một cách thỏai mái." Này các Tỷ kheo, thật ra những kẻ rồ dại này đã sống với lối sống chung của loài cừu lại bảo rằng: "Chúng con đã cùng nhau sống một cách thỏai mái." Này các Tỷ kheo, thật ra những kẻ rồ dại này đã sống với lối cộng trú của những kẻ lười biếng lại bảo rằng: "Chúng con đã cùng nhau sống một cách thỏai mái." Này các Tỷ kheo, vì sao những kẻ rồ dại này lại thọ trì lối thực hành của ngoại đạo là bắt chước kẻ câm. Này các Tỷ kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, không nên thọ trì lối thực hành của ngoại đạo là bắt chước kẻ câm. Vị nào thọ trì thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, đối với các Tỷ kheo đã sống qua mùa (an cư) mưa ta cho phép thỉnh cầu dựa trên ba tình huống là do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ. Bằng cách ấy, các ngươi sẽ có được sự hòa hợp lẫn nhau, có được sự thoát ra khỏi tội, và có được sự hiểu rõ thêm về Luật. Và này các Tỷ kheo, nên thỉnh cầu như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

"Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hôm này là ngày lễ Pavāraṇā.[1] Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thỉnh cầu."

Vị Tỷ kheo trưởng lão nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các Tỷ kheo ấy như vầy: "Này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu hội chúng. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ nhì, này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu hội chúng. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ ba, này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu hội chúng. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa."

Vị Tỷ kheo mới tu nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: "Bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu hội chúng. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ nhì, bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu hội chúng. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ ba, bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu hội chúng. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa."

[227] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo nhóm Lục Sư ngồi yên trên chỗ ngồi trong lúc các Tỷ kheo trưởng lão đang ngồi chồm hổm thỉnh cầu. Các vị Tỷ kheo ít ham muốn, ...(như trên)... Các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Tỷ kheo nhóm Lục Sư lại ngồi yên trên chỗ ngồi trong lúc các Tỷ kheo trưởng lão đang ngồi chồm hổm thỉnh cầu?

Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, nghe nói các Tỷ kheo nhóm Lục Sư ngồi yên trên chỗ ngồi trong lúc các Tỷ kheo trưởng lão đang ngồi chồm hổm thỉnh cầu, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này các Tỷ kheo, vì sao các Tỷ kheo nhóm Lục Sư lại ngồi yên trên chỗ ngồi trong lúc các Tỷ kheo trưởng lão đang ngồi chồm hổm thỉnh cầu. Này các Tỷ kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ..(như trên)...

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, không nên ngồi yên trên chỗ ngồi trong lúc các Tỷ kheo trưởng lão đang ngồi chồm hổm thỉnh cầu. Vị nào ngồi yên thì phạm tội tác ác (dukkaṭa). Này các Tỷ kheo, ta cho phép tất cả ngồi chồm hổm để thỉnh cầu.

Vào lúc bấy giờ, có vị trưởng lão nọ già yếu đã ngồi chồm hổm (nghĩ rằng): "Đến khi tất cả thỉnh cầu xong," trong lúc chờ đợi đã bị choáng váng rồi té xuống. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép ngồi chồm hổm trong lúc chờ đến phiên thỉnh cầu, sau khi thỉnh cầu thì ngồi xuống trên chỗ ngồi.

[228] Rồi các vị Tỷ kheo đã khởi ý rằng: "Có bao nhiêu lễ Pavāraṇā?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, đây là hai lễ Pavāraṇā: lễ ngày mười bốn và lễ ngày mười lăm. Này các Tỷ kheo, đây là hai lễ Pavāraṇā.

Rồi các vị Tỷ kheo đã khởi ý rằng: "Có bao nhiêu hành sự Pavāraṇā?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, đây là bốn hành sự Pavāraṇā: Hành sự Pavāraṇā sai Pháp theo phe nhóm, hành sự Pavāraṇā sai Pháp có sự hợp nhất, hành sự Pavāraṇā đúng Pháp theo phe nhóm, hành sự Pavāraṇā đúng Pháp có sự hợp nhất.

Này các Tỷ kheo, trường hợp này tức là hành sự Pavāraṇā sai Pháp theo phe nhóm, này các Tỷ kheo, không nên thực hiện hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế và hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế không được ta cho phép.

Này các Tỷ kheo, trường hợp này tức là hành sự Pavāraṇā sai Pháp có sự hợp nhất, này các Tỷ kheo, không nên thực hiện hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế và hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế không được ta cho phép.

Này các Tỷ kheo, trường hợp này tức là hành sự Pavāraṇā đúng Pháp theo phe nhóm, này các Tỷ kheo, không nên thực hiện hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế và hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế không được ta cho phép.

Này các Tỷ kheo, trường hợp này tức là hành sự Pavāraṇā đúng Pháp có sự hợp nhất, này các Tỷ kheo, nên thực hiện hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế và hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế được ta cho phép. Do đó, này các Tỷ kheo, ở đây chúng ta sẽ thực hiện hành sự Pavāraṇā có hình thức như thế tức là "Đúng Pháp có sự hợp nhất." Này các Tỷ kheo, các ngươi nên học tập theo đúng như thế.

[229] Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, hãy tụ hội lại, hội chúng sẽ thực hiện lễ Pavāraṇā.

Khi được nói như thế, có vị Tỷ kheo nọ đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, có vị Tỷ kheo bệnh. Vị ấy đã không đến.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo bệnh được bày tỏ lời thỉnh cầu. Và này các Tỷ kheo, nên bày tỏ như vầy: Vị Tỷ kheo bệnh nên đi đến gặp một vị Tỷ kheo, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, chắp tay lên và nên nói như vầy: "Tôi xin bày tỏ lời thỉnh cầu. Hãy chuyển đạt lời thỉnh cầu của tôi. (Hãy thông báo lời thỉnh cầu của tôi.)[2] Hãy thỉnh cầu vì sự lợi ích của tôi." (Nếu) vị ấy thể hiện bằng thân, thể hiện bằng lời nói, thể hiện bằng thân và lời nói, thì lời thỉnh cầu đã được bày tỏ. (Nếu) vị ấy không thể hiện bằng thân, không thể hiện bằng lời nói, không thể hiện bằng thân và lời nói, thì lời thỉnh cầu đã không được bày tỏ. Nếu việc ấy có thể đạt được như vậy thì việc ấy được tốt đẹp. Này các Tỷ kheo, nếu không thể đạt được (như vậy) thì nên dùng cái giường hoặc cái ghế khiêng vị Tỷ kheo bệnh ấy đến giữa hội chúng rồi nên thực hiện lễ Pavāraṇā. Này các Tỷ kheo, nếu các vị Tỷ kheo chăm sóc bệnh khởi ý rằng: "Nếu chúng ta di chuyển vị bị bệnh ra khỏi chỗ này, bệnh sẽ trầm trọng hơn hoặc sẽ gây tử vong," này các Tỷ kheo, không nên di chuyển vị bị bệnh ra khỏi chỗ ấy. Hội chúng nên đi đến và nên thực hiện lễ Pavāraṇā ở nơi ấy. Và không nên thực hiện lễ Pavāraṇā bởi hội chúng theo phe nhóm. Vị nào thực hiện thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu từ chính chỗ ấy bỏ đi (nơi khác) thì lời thỉnh cầu nên được bày tỏ đến vị khác. Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu ngay chính chỗ ấy hoàn tục, ...(như trên)... từ trần, vị ấy được biết là vị (xuống lại) sa-di, được biết là người đã từ bỏ điều học, được biết là vị phạm tội cực nặng, được biết là vị bị điên, được biết là bị loạn trí, được biết là vị bị thọ khổ hành hạ, được biết là vị bị án treo trong việc không nhìn nhận tội, được biết là vị bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi, được biết là vị bị án treo trong việc không từ bỏ tà kiến ác, được biết là kẻ bị thiến, được biết là kẻ trộm tướng mạo (Tỷ kheo), được biết là kẻ đã chuyển sang ngoại đạo, được biết là loài thú, được biết là kẻ giết mẹ, được biết là kẻ giết cha, được biết là kẻ giết A La Hán, được biết là kẻ làm nhơ nhớp Tỷ kheo ni, được biết là kẻ chia rẽ hội chúng, được biết là kẻ làm chảy máu chân đức Phật, được biết là kẻ lưỡng tánh thì lời thỉnh cầu nên được bày tỏ đến vị khác.

Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu ở khoảng giữa đường lại bỏ đi (nơi khác) thì lời thỉnh cầu vẫn chưa được chuyển đạt. Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu ở khoảng giữa đường lại hoàn tục, từ trần, ...(như trên)... được biết là kẻ lưỡng tánh thì lời thỉnh cầu vẫn chưa được chuyển đạt.

Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu đã đến được hội chúng rồi bỏ đi (nơi khác) thì lời thỉnh cầu đã được chuyển đạt. Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu đã đến được hội chúng rồi hoàn tục, từ trần, ...(như trên)... được biết là kẻ lưỡng tánh thì lời thỉnh cầu đã được chuyển đạt.

Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu đã đến được hội chúng rồi ngủ quên nên không thông báo thì lời thỉnh cầu đã được chuyển đạt. Vị chuyển đạt lời thỉnh cầu không bị phạm tội. Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu đã đến được hội chúng rồi nhập định nên không thông báo thì lời thỉnh cầu đã được chuyển đạt. Vị chuyển đạt lời thỉnh cầu không bị phạm tội. Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu đã đến được hội chúng rồi lơ đễnh nên không thông báo thì lời thỉnh cầu đã được chuyển đạt. Vị chuyển đạt lời thỉnh cầu không bị phạm tội.

Này các Tỷ kheo, khi lời thỉnh cầu đã được bày tỏ, nếu vị chuyển đạt lời thỉnh cầu đã đến được hội chúng rồi cố ý không thông báo thì lời thỉnh cầu đã được chuyển đạt và vị chuyển đạt lời thỉnh cầu bị phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, ta cho phép vào ngày lễ Pavāraṇā vị bày tỏ lời thỉnh cầu (đồng thời) bày tỏ sự tùy thuận (phòng khi) hội chúng có hành sự cần được thực hiện.

[230] Vào lúc bấy giờ, vào ngày lễ Pavāraṇā các thân quyến đã cầm giữ lại vị Tỷ kheo nọ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, trường hợp vào ngày lễ Pavāraṇā các thân quyến cầm giữ vị Tỷ kheo lại. Các thân quyến ấy nên được các vị Tỷ kheo nói như vầy: "Này các đạo hữu, các người hãy trả tự do cho vị Tỷ kheo này trong chốc lát đến khi nào vị Tỷ kheo này thực hiện lễ Pavāraṇā xong." Nếu việc ấy có thể đạt được như vậy thì việc ấy được tốt đẹp; nếu không thể đạt được (như vậy) thì các thân quyến ấy nên được các vị Tỷ kheo nói như vầy: "Này các đạo hữu, các người hãy tránh sang một bên trong chốc lát đến khi nào vị Tỷ kheo này bày tỏ lời thỉnh cầu xong." Nếu việc ấy có thể đạt được như vậy thì việc ấy được tốt đẹp; nếu không thể đạt được (như vậy) thì các thân quyến ấy nên được các vị Tỷ kheo nói như vầy: "Này các đạo hữu, các người hãy dẫn vị Tỷ kheo này ra khỏi ranh giới trong chốc lát đến khi nào hội chúng thực hiện lễ Pavāraṇā xong." Nếu việc ấy có thể đạt được như vậy thì việc ấy được tốt đẹp; nếu không thể đạt được (như vậy) vẫn không nên thực hiện lễ Pavāraṇā bởi hội chúng theo phe nhóm. Vị nào thực hiện thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, trường hợp vào ngày lễ Pavāraṇā các đức vua cầm giữ vị Tỷ kheo lại. ...(như trên)... Các kẻ trộm cướp cầm giữ ...(như trên)... Những kẻ bất lương cầm giữ ...(như trên)... Những kẻ đối nghịch Tỷ kheo cầm giữ vị Tỷ kheo lại. Những kẻ đối nghịch Tỷ kheo ấy nên được các vị Tỷ kheo nói như vầy: "Này các đạo hữu, các người hãy trả tự do cho vị Tỷ kheo này trong chốc lát đến khi nào vị Tỷ kheo này thực hiện lễ Pavāraṇā xong." Nếu việc ấy có thể đạt được như vậy thì việc ấy được tốt đẹp; nếu không thể đạt được (như vậy) thì những kẻ đối nghịch Tỷ kheo ấy nên được các vị Tỷ kheo nói như vầy: "Này các đạo hữu, các người hãy tránh sang một bên trong chốc lát đến khi nào vị Tỷ kheo này bày tỏ lời thỉnh cầu xong." Nếu việc ấy có thể đạt được như vậy thì việc ấy được tốt đẹp; nếu không thể đạt được (như vậy) thì những kẻ đối nghịch Tỷ kheo ấy nên được các vị Tỷ kheo nói như vầy: "Này các đạo hữu, các người hãy dẫn vị Tỷ kheo này ra khỏi ranh giới trong chốc lát đến khi nào hội chúng thực hiện lễ Pavāraṇā xong." Nếu việc ấy có thể đạt được như vậy thì việc ấy được tốt đẹp; nếu không thể đạt được (như vậy) vẫn không nên thực hiện lễ Pavāraṇā bởi hội chúng theo phe nhóm. Vị nào thực hiện thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[231] Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có năm vị Tỷ kheo cư ngụ. Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Hội chúng nên tiến hành lễ Pavāraṇā,’ và chúng ta là năm người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ Pavāraṇā như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thỉnh cầu với hội chúng của (trường hợp) năm (vị).

Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có bốn vị Tỷ kheo cư ngụ. Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã cho phép thỉnh cầu với hội chúng của (trường hợp) năm (vị), và chúng ta là bốn người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ Pavāraṇā như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) bốn (vị). Và này các Tỷ kheo, nên thỉnh cầu như vầy: Các vị Tỷ kheo ấy nên được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Xin các đại đức hãy lắng nghe tôi, hôm này là ngày lễ Pavāraṇā vào ngày mười lăm. Nếu là thời điểm thích hợp cho các đại đức, chúng ta nên thỉnh cầu lẫn nhau."

Vị Tỷ kheo trưởng lão nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các Tỷ kheo ấy như vầy: "Này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ nhì, này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ ba, này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa."

Vị Tỷ kheo mới tu nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các Tỷ kheo ấy như vầy: "Bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ nhì, bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ ba, bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa."

Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có ba vị Tỷ kheo cư ngụ. Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã cho phép thỉnh cầu với hội chúng của (trường hợp) năm (vị), thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) bốn (vị), và chúng ta là ba người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ Pavāraṇā như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) ba (vị). Và này các Tỷ kheo, nên thỉnh cầu như vầy: Các vị Tỷ kheo ấy cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Xin các đại đức hãy lắng nghe tôi, hôm này là ngày lễ Pavāraṇā vào ngày mười lăm. Nếu là thời điểm thích hợp cho các đại đức, chúng ta nên thỉnh cầu lẫn nhau."

Vị Tỷ kheo trưởng lão nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các Tỷ kheo ấy như vầy: "Này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ nhì, này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ ba, này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa."

Vị Tỷ kheo mới tu nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với các Tỷ kheo ấy như vầy: "Bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ nhì, bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ ba, bạch các ngài, tôi xin thỉnh cầu các đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin các đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa."

Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có hai vị Tỷ kheo cư ngụ. Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã cho phép thỉnh cầu với hội chúng của (trường hợp) năm (vị), thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) bốn (vị),thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) ba (vị), và chúng ta là hai người, vậy chúng ta nên thực hiện lễ Pavāraṇā như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) hai (vị). Và này các Tỷ kheo, nên thỉnh cầu như vầy: Vị Tỷ kheo trưởng lão nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với vị Tỷ kheo mới tu như vầy: "Này sư đệ, tôi xin thỉnh cầu đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ nhì, này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ ba, này các sư đệ, tôi xin thỉnh cầu đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa."

Vị Tỷ kheo mới tu nên đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với vị Tỷ kheo trưởng lão như vầy: "Bạch ngài, tôi xin thỉnh cầu đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ nhì, bạch ngài, tôi xin thỉnh cầu đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa. Lần thứ ba, bạch ngài, tôi xin thỉnh cầu đại đức. Do đã được thấy, hoặc do đã được nghe, hoặc do sự nghi ngờ, vì lòng trắc ẩn xin đại đức hãy nói với tôi. Khi nhận ra tôi sẽ sửa chữa."

Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có một vị Tỷ kheo cư ngụ. Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã cho phép thỉnh cầu với hội chúng của (trường hợp) năm (vị), thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) bốn (vị), thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) ba (vị), thỉnh cầu lẫn nhau của (trường hợp) hai (vị), và ta chỉ có một mình, vậy ta nên thực hiện lễ Pavāraṇā như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā có một vị Tỷ kheo cư ngụ. Này các Tỷ kheo, chỗ nào các vị Tỷ kheo thường quay trở về là ở giảng đường, ở mái che, hoặc ở gốc cây, vị Tỷ kheo ấy nên quét khu vực ấy, nên đem lại nước uống, nước rửa, nên sắp đặt chỗ ngồi, nên thắp sáng đèn, rồi nên ngồi xuống. Nếu có các Tỷ kheo khác đi đến thì nên thực hiện lễ Pavāraṇā với các vị ấy; nếu không có ai đi đến thì nên chú nguyện rằng: "Hôm nay là lễ Pavāraṇā của tôi." Nếu không chú nguyện thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, trường hợp ở nơi có năm vị Tỷ kheo cư ngụ, không nên chuyển đạt lời thỉnh cầu của một vị rồi thỉnh cầu với hội chúng bốn vị. Nếu các vị thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, trường hợp ở nơi có bốn vị Tỷ kheo cư ngụ, không nên chuyển đạt lời thỉnh cầu của một vị rồi thỉnh cầu lẫn nhau với ba (vị). Nếu các vị thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, trường hợp ở nơi có ba vị Tỷ kheo cư ngụ, không nên chuyển đạt không nên chuyển đạt lời thỉnh cầu của một vị rồi thỉnh cầu lẫn nhau với hai (vị). Nếu các vị thỉnh cầu thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

Này các Tỷ kheo, trường hợp ở nơi có hai vị Tỷ kheo cư ngụ, không nên chuyển đạt lời thỉnh cầu của một vị rồi chú nguyện bởi một (vị). Nếu chú nguyện thì phạm tội tác ác (dukkaṭa).

[232] Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ bị phạm tội vào ngày lễ Pavāraṇā. Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị bị phạm tội không nên tiến hành lễ Pavāraṇā,’ và ta thì bị phạm tội; vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo bị phạm tội vào ngày lễ Pavāraṇā. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo ấy nên đi đến gặp một vị Tỷ kheo, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, nên chắp tay lên và nói như vầy:

- Bạch đại đức, tôi đã phạm tội tên (như vầy), tôi xin sám hối tội ấy.

Vị kia nên nói rằng:

- (Đại đức) có thấy (tội ấy) không?

- Thưa có, tôi thấy.

- (Đại đức) hãy thu thúc trong tương lai.

Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo có nghi ngờ về sự phạm tội vào ngày lễ Pavāraṇā. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo ấy nên đi đến gặp một vị Tỷ kheo, nên đắp thượng y một bên vai, nên ngồi chồm hổm, nên chắp tay lên và nói như vầy:

- Bạch đại đức, tôi có nghi ngờ về sự phạm (một) tội tên (như vầy), khi nào tôi dứt khỏi hòai nghi khi ấy tôi sẽ sửa chữa tội ấy.

Nói xong thì lễ Pavāraṇā nên được tiến hành, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ Pavāraṇā chỉ vì nguyên nhân ấy.

Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ trong lúc đang thỉnh cầu thì nhớ ra tội. Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Vị bị phạm tội không nên thỉnh cầu,’ và ta thì bị phạm tội; vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo trong lúc đang thỉnh cầu thì nhớ ra tội. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo ấy nên nói với vị Tỷ kheo bên cạnh rằng: "Bạch đại đức, tôi đã phạm tội tên (như vầy), sau khi ra khỏi đây, tôi sẽ sửa chữa tội ấy." Nói xong, thì nên thỉnh cầu, nhưng không nên làm chướng ngại cho việc thỉnh cầu chỉ vì nguyên nhân ấy.

Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo trong lúc đang thỉnh cầu thì có nghi ngờ về sự phạm tội. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo ấy nên nói với vị Tỷ kheo bên cạnh rằng: "Bạch đại đức, tôi có nghi ngờ về sự phạm (một) tội tên (như vầy), khi nào tôi dứt khỏi hòai nghi khi ấy tôi sẽ sửa chữa tội ấy." Nói xong, thì nên thỉnh cầu, nhưng không nên làm chướng ngại cho việc thỉnh cầu chỉ vì nguyên nhân ấy.

Vào lúc bấy giờ, tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Khi ấy, các vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sám hối tội (đã phạm) giống nhau, không nên ghi nhận tội (đã phạm) giống nhau,’ và toàn bộ hội chúng này đã phạm tội giống nhau, vậy chúng ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā toàn bộ hội chúng đã phạm tội giống nhau. Này các Tỷ kheo, ngay trong hôm ấy các vị Tỷ kheo ấy nên phái một vị Tỷ kheo đi đến những trú xứ xung quanh (nói rằng): "Này đại đức, hãy đi và sau khi sửa chữa tội ấy hãy quay trở về, chúng tôi sẽ sửa chữa lại tội ấy trong sự hiện diện của đại đức." Nếu việc ấy có thể đạt được như vậy thì việc ấy được tốt đẹp. Này các Tỷ kheo, nếu không thể đạt được (như vậy) thì hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Toàn bộ hội chúng này đã phạm tội giống nhau, khi nào (hội chúng) nhìn thấy một vị Tỷ kheo khác trong sạch không phạm tội khi ấy (hội chúng) sẽ sửa chữa tội ấy trong sự hiện diện của vị ấy." Nói xong, thì lễ Pavāraṇā nên được tiến hành, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ Pavāraṇā chỉ vì nguyên nhân ấy.

Này các Tỷ kheo, trường hợp tại một trú xứ nọ vào ngày lễ Pavāraṇā toàn bộ hội chúng có nghi ngờ về sự phạm tội giống nhau. Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Toàn bộ hội chúng này có nghi ngờ về sự phạm tội giống nhau, khi nào (hội chúng) dứt khỏi hòai nghi khi ấy (hội chúng) sẽ sửa chữa tội ấy." Nói xong, thì lễ Pavāraṇā nên được tiến hành, nhưng không nên làm chướng ngại cho lễ Pavāraṇā chỉ vì nguyên nhân ấy.

Dứt Tụng Phẩm thứ nhất.



[1] Pavāraṇā: nghĩa là "sự thỉnh cầu" đồng thời là tên của buổi lễ dành cho các Tỷ kheo đã hoàn tất mùa (an cư) mưa thời điểm trước (Lễ này đã được dịch là Tự Tứ, chúng tôi mạn phép giữ nguyên từ Pāli). Pavāreti là động từ. Với động từ này, chúng tôi sẽ dịch theo hai lối là "thỉnh cầu" hoặc "tiến hành lễ Pavāraṇā" tùy theo ngữ cảnh.

[2] Ở CD của trường đại học Mahidol, Bangkok, không có câu này. Được thêm vào từ CD Chaṭṭhasaṅgāyana.

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]