Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng Phẩm thứ mười

[136] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo nhóm Lục Sư ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sĩ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sĩ. Vị nào ban cho thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo cư trú (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sĩ. Chẳng bao lâu sau, các vị ấy cũng trở thành các vị Tỷ kheo ác xấu, không có liêm sĩ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cư trú (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sĩ. Vị nào cư trú thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên ban cho sự nương nhờ đến những vị không có liêm sĩ và không nên cư trú (với pháp) nương nhờ vào những vị không có liêm sĩ,’ vậy làm thế nào chúng ta biết được (vị nào) là có liêm sĩ hoặc không có liêm sĩ?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép chờ đợi bốn năm ngày đến khi (xác định được rằng): "Ta biết được bản chất (sabhāgatam) của vị Tỷ kheo."

[137] Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ du hành đường xa trong xứ Kosala. Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là đang cần có sự nương nhờ nhưng đang du hành đường xa, vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo đang du hành đường xa trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.

[138] Vào lúc bấy giờ, có hai vị Tỷ kheo du hành đường xa trong xứ Kosala. Họ đã đi đến gần một trú xứ nọ. Ở đó có một vị Tỷ kheo bị bệnh. Khi ấy, vị Tỷ kheo bệnh ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là đang cần có sự nương nhờ nhưng bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.

Khi ấy, vị Tỷ kheo chăm sóc vị bị bệnh đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là đang cần có sự nương nhờ nhưng vị Tỷ kheo này thì bị bệnh, vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo chăm sóc vị bị bệnh trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ.

Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo nọ trú ngụ ở trong rừng. Và vị ấy có được sự thích hợp (cho việc tu tiến) trong chỗ trú ngụ đó. Sau đó, vị Tỷ kheo ấy đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên sống không nương nhờ,’ và ta là đang cần có sự nương nhờ nhưng ta trú ngụ ở trong rừng và ta có sự thích hợp trong chỗ trú ngụ này, vậy ta nên thực hành như thế nào?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo ở rừng nhắm đến việc có được chỗ cư trú thích hợp (cho việc tu tiến) trong khi không đạt được sự nương nhờ thì được sống không nương nhờ (nghĩ rằng): "Khi nào vị đủ pháp cho nương nhờ phù hợp đi đến thì ta sẽ sống nương nhờ vào vị ấy."

[139] Vào lúc bấy giờ, có người có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức Mahākassapa. Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã phái sứ giả đến gặp đại đức Ānanda nhắn rằng: "Ānanda hãy đi đến và tuyên ngôn cho người này." Đại đức Ānanda nói như vầy:

- Tôi không thể đọc lên tên của ngài trưởng lão, ngài trưởng lão là bậc trưởng thượng của tôi.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép đọc lên bằng tên của dòng họ.

[140] Vào lúc bấy giờ, có hai người có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức Mahākassapa. Họ tranh cãi rằng: "Tôi sẽ tu lên bậc trên trước, tôi sẽ tu lên bậc trên trước." Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thực hiện hai (người) trong một lần tuyên ngôn.

Vào lúc bấy giờ, có nhiều người có ý muốn tu lên bậc trên với các vị trưởng lão. Họ tranh cãi rằng: "Tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên, tôi sẽ tu lên bậc trên trước tiên." Các vị trưởng lão nói như vầy:

- Này các đại đức, chúng ta hãy thực hiện tất cả trong một lần tuyên ngôn đi.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thực hiện hai hoặc ba (người) trong một lần tuyên ngôn. Và điều ấy là với cùng một thầy tế độ chứ không phải với thầy tế độ khác nhau.

[141] Vào lúc bấy giờ, đại đức Kumārakassapa là hai mươi tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên. Sau đó, đại đức Kumārakassapa đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Không nên cho tu lên bậc trên người chưa đủ hai mươi tuổi,’ và ta là hai mươi tính theo thai bào đã được tu lên bậc trên, vậy thì ta đã được tu lên bậc trên hay là chưa được tu lên bậc trên?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, khi tâm đầu tiên sanh khởi trong bụng của người mẹ thì thức đầu tiên đã xuất hiện; liên quan đến điều ấy nên chính thời điểm đó là sự sanh ra của người ấy. Này các Tỷ kheo, ta cho phép cho tu lên bậc trên người là hai mươi tính theo thai bào.

[142] Vào lúc bấy giờ, các vị đã tu lên bậc trên được thấy là (có liên quan đến) bệnh cùi (kuttham), bệnh mụt nhọt (gando), bệnh chàm (kilāso), bệnh lao phổi (soso), bệnh động kinh (apamāro). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị trong khi ban phép tu lên bậc trên được hỏi về mười ba pháp chướng ngại. Và này các Tỷ kheo, nên hỏi như vầy: "Ngươi có các bệnh như vầy không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không bị thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?"

Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo hỏi các pháp chướng ngại đến các người có ý muốn tu lên bậc trên chưa được học tập trước. Các người có ý muốn tu lên bậc trên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép giảng giải trước rồi hỏi các pháp chướng ngại sau.

Các vị đã giảng giải ngay tại chỗ ấy, ở giữa hội chúng. Như thế ấy, các người có ý muốn tu lên bậc trên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép giảng giải ở một góc rồi hỏi các pháp chướng ngại ở giữa hội chúng. Và này các Tỷ kheo, nên giảng giải như vầy:

Trước tiên, nên bảo chọn vị thầy tế độ. Sau khi đã bảo chọn vị thầy tế độ rồi nên chỉ y bát: "Đây là bình bát của ngươi, đây là y hai lớp (saṅghāti) của ngươi, đây là thượng y của ngươi, đây là y nội của ngươi. Hãy đi đến đứng ở chỗ trống đàng kia."

Các vị (Tỷ kheo) ngu dốt, thiếu kinh nghiệm đã giảng giải. Các người có ý muốn tu lên bậc trên do được giảng giải tồi nên đã bị bối rối, trở nên mắc cở, rồi không thể trả lời. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, vị (Tỷ kheo) ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên giảng giải. Vị nào giảng giải thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực được giảng giải.

Những vị (Tỷ kheo) không được chỉ định đã giảng giải. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, vị không được chỉ định không nên giảng giải. Vị nào giảng giải thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các Tỷ kheo, ta cho phép giảng giải đối với vị đã được chỉ định. Và này các Tỷ kheo, nên chỉ định như vầy: Tự mình chỉ định cho chính mình, hoặc người khác chỉ định cho người khác.

Thế nào là tự mình chỉ định cho chính mình?

Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

- Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ giảng giải cho người tên (như vầy).

Như vậy là tự mình chỉ định cho chính mình.

Thế nào là người khác chỉ định cho người khác?

Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

- Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, vị tên (như vầy) sẽ giảng giải cho người tên (như vầy).

Như vậy là người khác chỉ định cho người khác.

Vị Tỷ kheo đã được chỉ định ấy nên đi đến gần người có ý muốn tu lên bậc trên và nên nói với người ấy như vầy:

- Này người tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: "Đúng;" nếu không đúng, nên nói: "Không đúng." Không nên bối rối, không nên mắc cở. Các vị sẽ hỏi ngươi như vầy: "Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không bị thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?"

Họ đi đến cùng một lúc.

- Này các Tỷ kheo, không nên đi đến cùng một lúc. Vị giảng giải nên đi đến trước và thông báo cho hội chúng: "Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Tôi đã giảng giải cho ngưòi ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, nên cho người tên (như vầy) đi đến." và nên nói rằng: "Hãy đi đến."

Nên bảo (người ấy) đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các Tỷ kheo, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và nên bảo (người ấy) cầu xin sự tu lên bậc trên: "Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy vì lòng thương xót mà tế độ tôi. Lần thứ nhì, bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy vì lòng thương xót mà tế độ tôi. Lần thứ ba, bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, xin hội chúng hãy vì lòng thương xót mà tế độ tôi."

Hội chúng nên được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, tôi sẽ hỏi các pháp chướng ngại đến người tên (như vầy)."

"Này người tên (như vầy), hãy lắng nghe. Đối với ngươi, bây giờ là thời điểm của sự thật, là thời điểm của bản chất. Trong khi được hỏi ở giữa hội chúng, điều gì được đề cập đến, nếu điều ấy là đúng thì nên nói: ‘Đúng;’ nếu không đúng, nên nói: ‘Không đúng.’ Ngươi có các bệnh như thế này không: Bệnh cùi? Bệnh mụt nhọt? Bệnh chàm? Bệnh lao phổi? Bệnh động kinh? Ngươi là loài người? Ngươi là người nam? Ngươi là người được tự do (không phải nô lệ)? Ngươi không bị thiếu nợ? Ngươi không phải là lính của đức vua? Ngươi đã được cha mẹ cho phép? Ngươi đã tròn hai mươi tuổi? Ngươi có đầy đủ y bát không? Ngươi tên gì? Vị thầy tế độ của ngươi tên gì?"

Hội chúng nên được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

"Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Người này có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho người tên (như vầy) tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Người này có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Hội chúng cho ngưòi tên (như vầy) sự tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Người này có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Hội chúng cho ngưòi tên (như vầy) sự tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Người này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là người trong sạch về các pháp chướng ngại. Người này có đầy đủ y bát. Người tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Hội chúng cho ngưòi tên (như vầy) sự tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của người tên (như vầy) với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Người tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy."

Dứt Hành sự tu lên bậc trên.

[143] Ngay khi ấy, bóng nắng cần được đo đạc, việc xác định mùa tiết nên được chỉ dạy, việc phân chia ngày (giờ) nên được chỉ dạy, điều đã được kết tập lại nên được chỉ dạy, bốn vật nương nhờ nên được chỉ dạy:

"Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy ngươi nên nỗ lực thực hiện cho đến hết đời; điều phụ trội được phép là bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu tháng.

Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ; trong trường hợp ấy ngươi nên nỗ lực thực hiện cho đến hết đời; điều phụ trội được phép là (y làm bằng) sợi lanh (khomam), bông vải (kappāsikam), tơ lụa (koseyyam), sợi len (kambalam), gai thô (sānam), chỉ bố (bhaṅgam).

Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây; trong trường hợp ấy ngươi nên nỗ lực thực hiện cho đến hết đời; điều phụ trội được phép là trú xá (vihāram), nhà một mái (addhayogam), tòa nhà dài (pāsādam), khu nhà lớn (hammiyam), hang động (guham).

Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc, trong trường hợp ấy ngươi nên nỗ lực thực hiện cho đến hết đời; điều phụ trội được phép là bơ lỏng (sappi), bơ đặc (navanītam), dầu ăn (telam), mật (madhu), đường mía (phānitam)."

Dứt Bốn vật nương nhờ.

[144] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo sau khi cho tu lên bậc trên vị Tỷ kheo nọ đã bỏ lại một mình rồi ra đi. Sau đó, vị ấy trong khi đi một mình đã gặp người vợ cũ ở khỏang giữa đường. Cô ta nói như vầy:

- Nay chàng đã xuất gia rồi sao?

- Đúng vậy, tôi đã xuất gia.

- Việc đôi lứa đối với các vị xuất gia là khó đạt được. Hãy đến và thực hiện việc đôi lứa đi.

Vị ấy sau khi thực hiện việc đôi lứa với nàng ta đã đi về trễ sau cùng. Các vị Tỷ kheo nói như vầy:

- Này sư đệ, vì sao sư đệ đã đi về trễ như vậy?

Khi ấy, vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Rồi đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép ban cho người cộng sự và chỉ dạy bốn điều không nên làm ngay sau khi cho tu lên bậc trên:

Vị đã được tu lên bậc trên trở thành Tỷ kheo không nên thực hành việc đôi lứa, thậm chí với loài thú cái. Vị Tỷ kheo nào thực hành việc đôi lứa không còn là sa-môn không còn là Thích Tử nữa. Giống như người đàn ông đã bị chặt đầu không thể sống với cái đầu được gắn lại vào thân; tương tợ như thế, vị Tỷ kheo sau khi thực hiện việc đôi lứa không còn là sa-môn không còn là Thích Tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời.

Vị đã được tu lên bậc trên trở thành Tỷ kheo không nên lấy vật không được cho như là kẻ trộm, thậm chí có liên quan đến cọng cỏ. Vị Tỷ kheo nào lấy vật không được cho là một pāda hoặc tương đương một pāda hoặc hơn một pāda được xem là kẻ trộm không còn là sa-môn không còn là Thích Tử nữa. Giống như chiếc lá vàng đã lìa cành không thể trở lại màu xanh; tương tợ như thế, vị Tỷ kheo sau khi lấy vật không được cho là một pāda hoặc tương đương một pāda hoặc hơn một pāda được xem là kẻ trộm không còn là sa-môn không còn là Thích Tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời.

Vị đã được tu lên bậc trên trở thành Tỷ kheo không nên tước đoạt lấy mạng sống của chúng sanh một cách cố tình thậm chí có liên quan đến loài kiến. Vị Tỷ kheo nào tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình thậm chí có liên quan đến việc phá thai không còn là sa-môn không còn là Thích Tử nữa. Giống như một tảng đá lớn đã bị vỡ làm hai mảnh không gắn liền lại được; tương tợ như thế, vị Tỷ kheo sau khi tước đoạt lấy mạng sống khỏi cơ thể con người một cách cố tình không còn là sa-môn không còn là Thích Tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời.

Vị đã được tu lên bậc trên trở thành Tỷ kheo không nên khẳng định về pháp của bậc cao nhân thậm chí (nói rằng): "Tôi thỏa thích trong ngôi nhà trống vắng." Vị Tỷ kheo nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn đó, rồi khẳng định về pháp của bậc cao nhân (mà bản thân) không có, không thực chứng là pháp thiền, hoặc là pháp giải thoát (vimokkham), hoặc là sự nhập định, hoặc là sự chứng đắc, hoặc là Đạo, hoặc là Quả không còn là sa-môn không còn là Thích Tử nữa. Giống như cây thốt nốt (tāla) bị chặt ngọn không thể đâm chồi lại được nữa; tương tợ như thế, vị Tỷ kheo có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn đó, sau khi khẳng định về pháp của bậc cao nhân (mà bản thân) không có, không thực chứng không còn là sa-môn không còn là Thích Tử nữa. Ngươi không nên làm điều ấy cho đến hết đời.

Dứt Bốn điều không nên làm.

[145] Vào lúc bấy giờ, có vị Tỷ kheo là người bị án treo trong việc không nhìn nhận tội đã hoàn tục. Vị ấy đã quay trở lại và cầu xin các vị Tỷ kheo sự tu lên bậc trên. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo là người bị án treo trong việc không nhìn nhận tội lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các vị Tỷ kheo sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy về điều ấy: "Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ nhìn nhận," thì nên cho xuất gia. Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không nhìn nhận," thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia rồi, nên nói rằng: "Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ nhìn nhận," thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không nhìn nhận," thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: "Ngươi sẽ nhìn nhận tội ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ nhìn nhận," thì nên bình thường hóa (osāretabbo). Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không nhìn nhận," thì không nên bình thường hóa. Sau khi đã bình thường hóa nên nói rằng: "Ngươi  nhìn nhận tội ấy?" Nếu vị ấy nhìn nhận thì việc ấy được tốt đẹp, nhưng nếu vị ấy không nhìn nhận thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) thì không phạm tội trong việc ăn chung, cư ngụ chung (với vị ấy).

Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo là người bị án treo trong việc không sửa chữa lỗi lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các vị Tỷ kheo sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy về điều ấy: "Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ sửa chữa," thì nên cho xuất gia. Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không sửa chữa," thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia rồi, nên nói rằng: "Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ sửa chữa," thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không sửa chữa," thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: "Ngươi sẽ sửa chữa lỗi ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ sửa chữa," thì nên bình thường hóa (osāretabbo). Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không sửa chữa," thì không nên bình thường hóa. Sau khi đã bình thường hóa nên nói rằng: "Ngươi sửa chữa lỗi ấy?" Nếu vị ấy sửa chữa thì việc ấy được tốt đẹp, nhưng nếu vị ấy không sửa chữa thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) thì không phạm tội trong việc ăn chung, cư ngụ chung (với vị ấy).

Này các Tỷ kheo, trường hợp vị Tỷ kheo là người bị án treo trong việc không chịu từ bỏ tà kiến ác lại hoàn tục. Vị ấy quay trở lại và cầu xin các vị Tỷ kheo sự tu lên bậc trên. Vị ấy nên được nói như vầy về điều ấy: "Ngươi sẽ chịu từ bỏ tà kiến ác ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ chịu từ bỏ," thì nên cho xuất gia. Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không chịu từ bỏ," thì không nên cho xuất gia. Sau khi cho xuất gia rồi, nên nói rằng: "Ngươi sẽ chịu từ bỏ tà kiến ác ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ chịu từ bỏ," thì nên cho tu lên bậc trên. Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không chịu từ bỏ," thì không nên cho tu lên bậc trên. Sau khi đã cho tu lên bậc trên, nên nói rằng: "Ngươi sẽ chịu từ bỏ tà kiến ác ấy?" Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ chịu từ bỏ," thì nên bình thường hóa (osāretabbo). Nếu (vị ấy trả lời): "Tôi sẽ không chịu từ bỏ," thì không nên bình thường hóa. Sau khi đã bình thường hóa nên nói rằng: "Ngươi chịu từ bỏ tà kiến ác ấy?" Nếu vị ấy chịu từ bỏ thì việc ấy được tốt đẹp, nhưng nếu vị ấy không chịu từ bỏ thì trong khi đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) nên phạt án treo lại. Nếu không đạt được sự hợp nhất (của hội chúng) thì không phạm tội trong việc ăn chung, cư ngụ chung (với vị ấy).

Chương Chủ Đề là chương thứ nhất.

Tóm Lược chương này:

[146]

Các điều chính trong Luật
là nguồn đem an lạc
cho các thiện Tỷ kheo
là các vị khiêm nhường
thoát khỏi điều ác xấu,
là những sự gia công
trong việc nắm giữ Pháp,
lãnh vực bậc Chiến Thắng
là của đấng Toàn Tri,
trong đối tượng quen thuộc
an toàn, khéo quy định,
không có điều nghi hoặc.
Trong chương thuộc Tạng Luật
ở trong phẩm Linh Tinh
và trong các tiêu đề,
như người tìm lợi ích
thiện xảo hành đúng đắn.
Không hiểu được loài bò
không chăn giữ đàn bò;
cũng vậy không biết giới,
trì giữ, thu thúc gì?
Khi Tạng Kinh quên lãng
và luôn Tạng Diệu Pháp,
còn Tạng Luật chưa hoại
Giáo Pháp vẫn tồn tại.
Do đó, tôi sẽ nói
nguyên nhân sự hình thành,
mở đầu theo thứ tự
theo như sự hiểu biết,
hãy lắng nghe tôi giảng.
Câu chuyện, nguồn gốc tội,

phương thức, phần tóm lược,
hãy hiểu rõ điều ấy
theo đúng như phương pháp,
vì thực hiện đầy đủ
việc ấy thật khó làm.
Ở cội cây Bồ Đề,
Rājayatana,
cội cây người chăn dê
vị Sahampati
Phạm thiên, Alāra,
và vị Uddaka,
đạo sĩ Upaka,
Tỷ kheo Kondañña,
Bhaddiya, Vappa,
rồi Mahānāma,
và vị Assaji,
Yasa, bốn, năm mươi,
ngài phái đi tất cả
về khắp các phương trời.
Câu chuyện với Ma vương,
và ba mươi vương tử.
Ở Uruvelā
ba đạo sĩ bện tóc
ở trong nhà thờ lửa,
vị đại vương Sakka,
Phạm thiên và toàn bộ.
Y pamsukūla
hồ nước, và tảng đá,
cành cây Kakudha,
và khối đá (phơi y).
Trái Jambu, trái xoài,
trái Āmalakī,
và bông hoa san hô
vị ấy đã mang lại.
Hỡi này Kassapa,
hãy chẻ, hãy đốt lên,
và hãy dập tắt đi.
Các vị hụp (xuống nước)
chảo lửa, đám mây đen.
Gayā, đi Latthi,
vua xứ Magadha.
Rồi Upatissa
và chàng Kolita
danh tiếng đã xuất gia.
Các y mặc luộm thuộm,
(cho phép) việc đuổi đi,
và vị Bà La Môn
bị ốm o cằn cỗi,
kẻ thực hành tồi bại,
bao tử, chàng trai trẻ,
hội chúng (là mười vị).

Rồi mùa an cư mưa,
với bọn ngu, bỏ đi,
mười năm sống nương nhờ.
Không thực hành, đuổi đi,
các vị dốt, đình chỉ,
năm điều kiện hoặc sáu.
Người đã theo ngoại đạo,
lõa thể, tóc chưa cắt,
vị bện tóc, Thích ca.
Trong thành Magadha,
năm thứ bệnh, binh sĩ,
kẽ trộm, cướp đeo ngón,
và vua Magadha
đã ban điều cho phép.
Phá ngục, và án ghi,
phạt roi, bị đóng dấu,
kẻ nợ, và nô tỳ,
đầu sói, Upāli,
và cơn bệnh dịch hạch.
Gia đình có đức tin,
sa-di Kantaka,
và chuyện nghẽn hướng đi.
Về việc sống nương nhờ,
đứa trẻ, các điều học,
chúng sống, và gì nữa?
Cấm toàn bộ, vào miệng,
các vị thầy tế độ,
dụ dỗ, Kantaka.
Vị thiến, trộm, bỏ đi,
con rắn, và kẻ giết
mẹ, cha, A La Hán,
làm dơ Tỷ kheo ni,
kẻ chia rẽ, đổ máu
và thêm kẻ lưỡng tánh.
Thầy tế độ không có ,
với hội chúng, hoặc nhóm,
kẻ bị thiến, không bát,
không y, hoặc cả hai,
với đồ mượn là ba.
Cụt tay, chân, tay chân,
tai, mũi, hoặc cả hai,
ngón, móng, và gân chân,
tay có màng, gù, lùn,
bướu cổ, bị đóng dấu,
bị phạt roi, tầm nã,
phù chân voi, bệnh nặng,
kẻ bôi nhọ hội chúng,
người chột, bệnh co rút,
và như thế người què,
người bị liệt nửa thân,
người tướng đi khập khiễng,
già yếu, mù, câm, điếc,
mù câm đều ở đó,
mù điếc đã được nói
và câm điếc cũng thế,
đồng thời câm mù điếc.
Cho sự nương nhờ đến
những kẻ không liêm sĩ,
và có thể sống vậy
trường hợp đi đường xa.
Với vị được yêu cầu
các người mong muốn tu,
"Hãy đến," chúng tranh cãi
chỉ một thầy tế độ
là ngài Kassapa.
Các vị đã được tu
được thấy bị khổ sở
bởi vì các thứ bệnh,
chưa được giảng, bối rối,
lời giảng ở ngay đó.
Kẻ ngu giữa hội chúng
chưa chỉ định, cùng lúc,
tế độ lên bậc trên,
vật nương, về một mình,
và ba điều còn lại.
Các sự việc chương này
là một trăm bảy hai.

Dứt Phần Tóm Lược của Chương Trọng Yếu.

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]