Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng Phẩm thứ chín

[118] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Vương Xá (Rājagaha) theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Kapilavatthu. Tại nơi đó, trong xứ Sakka, đức Thế Tôn ngự ở thành Kapilavatthu, tại tu viện Nigrodha.

Rồi vào buổi sáng, đức Thế Tôn đã mặc y, cầm y bát, đi đến tư dinh của Suddhodana dòng Sākya, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, hoàng hậu mẹ của La Hầu La (Rāhula), đã nói với hoàng tử Rāhula điều này:

- Này Rāhula, người kia là cha của con. Hãy đi và cầu xin người ấy phần thừa kế.

Rồi hoàng tử Rāhula đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đứng ở phía trước đức Thế Tôn (nói rằng):

- Này vị Sa môn, bóng che của ngài thật an lạc.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi hoàng tử Rāhula đã theo sát phía sau của đức Thế Tôn (nói rằng):

- Này vị Sa môn, hãy ban cho con phần thừa kế, hãy ban cho con phần thừa kế.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Sārīputta rằng:

- Này Sārīputta, như thế thì ngươi hãy cho hoàng tử Rāhula xuất gia.

- Bạch ngài, con cho hoàng tử Rāhula xuất gia như thế nào?

Rồi đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép việc xuất gia Sa di bằng Tam Quy. Và này các Tỷ kheo, nên cho xuất gia như vầy: Trước tiên, nên cho cạo bỏ râu tóc, cho choàng lên các tấm vải màu ca-sa, cho đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị Tỷ kheo, bảo ngồi chồm hỗm, bảo chắp tay lên, và nên nói rằng: "Ngươi hãy nói như vầy:"

"Tôi đến với đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật).
Tôi đến với đức Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp).
Tôi đến với đức Tăng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng).
Lần thứ nhì, tôi đến với đức Phật là nơi nương nhờ.
Lần thứ nhì, tôi đến với đức Pháp là nơi nương nhờ.
Lần thứ nhì, tôi đến với đức Tăng là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đến với đức Phật là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đến với đức Pháp là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đến với đức Tăng là nơi nương nhờ
."

Rồi Đại đức Sārīputta đã cho hoàng tử Rāhula xuất gia.

Sau đó, Suddhodana dòng Sākya[1] đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, Suddhodana dòng Sākya đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, trẫm cầu xin đức Thế Tôn một điều ước muốn.

- Này vị Gotama, các đấng Như Lai đã vượt khỏi các điều ước muốn.

- Bạch ngài, điều ấy là hợp lý, điều ấy không bị chê trách.

- Này vị Gotama, hãy nói điều ấy đi.

- Bạch ngài, trong khi đức Thế Tôn đã xuất gia, đau khổ đã khởi lên ở trẫm không phải là ít. Tương tự như vậy trong việc Nandā[2] (nhưng là sự đau khổ) vô cùng mãnh liệt trong việc Rāhula. Bạch ngài, lòng thương yêu đối với người con trai cắt vào da; sau khi để nó cắt vào da, nó cắt vào lớp da trong; sau khi để nó cắt vào lớp da trong, nó cắt vào thịt; sau khi để nó cắt vào thịt, nó cắt vào gân; sau khi để nó cắt vào gân, nó cắt vào xương; sau khi để nó cắt vào xương, nó cắt vào tủy; sau khi đã đạt đến tủy xương rồi nó trú (ở đó). Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài Đại đức không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Suddhodana dòng Sākya bằng bài Pháp thoại. Rồi sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, Suddhodana dòng Sākya đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, không nên cho người con trai chưa được phép của cha mẹ xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkata).

Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Kapilavatthu theo như ý thích đã ra đi du hành đến thành Xá Vệ (Sāvatthi). Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Sāvatthi. Tại nơi đó, trong thành Sāvatthi, đức Thế Tôn ngự tại Kỳ Viên (Jetavana), tại tu viện của ông Cấp Cô Độc (Anāthapindika).

[119] Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của Đại đức Sārīputta đã gởi một thiếu niên đến gần Đại đức Sārīputta (bạch rằng): "Xin ngài trưởng lão hãy cho đứa trẻ này xuất gia." Khi ấy, Đại đức Sārīputta đã khởi ý rằng: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Một vị không nên để cho hai Sa di phục vụ,’ và ta đây đã có Sa di Rāhula. Vậy ta nên thực hành như thế nào?" Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực, một mình được để cho hai Sa di phục vụ, hoặc để cho nhiều (Sa di) phục vụ với số lượng mà vị ấy vẫn có đủ khả năng để giáo huấn và chỉ dạy.

[120] Sau đó, các vị Sa di đã khởi ý rằng: "Chúng ta có bao nhiêu điều học? Vá chúng ta nên được học tập trong vấn đề gì?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép mười điều học của các Sa di và các Sa di học tập trong các điều học ấy: Việc tránh xa sự giết hại mạng sống, việc tránh xa sự lấy vật không được cho, việc tránh xa điều phi Phạm hạnh (sự hành dâm), việc tránh xa sự nói dối, việc tránh xa trường hợp dễ duôi uống chất say là rượu và chất lên men, việc tránh xa sự ăn phi thời, việc tránh xa sự múa hát đờn và xem trình diễn, việc tránh xa trường hợp sử dụng vòng hoa vật thơm và tô điểm bằng đồ trang sức, việc tránh xa chỗ nằm ngồi cao và rộng lớn, việc tránh xa sự thọ lãnh vàng bạc. Này các Tỷ kheo, ta cho phép mười điều học này của các Sa di và các Sa di học tập trong các điều học này.

[121] Vào lúc bấy giờ, các Sa di sống không tôn kính, không vâng lời, không cư xử theo phép tắc đối với các Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Sa di lại sống không tôn kính, không vâng lời, không cư xử theo phép tắc đối với các vị Tỷ kheo?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thực thi hành phạt đối với vị Sa di hội đủ năm điều kiện này: Vị ấy ra sức làm cho các Tỷ kheo không được lợi lộc, vị ấy ra sức làm cho các Tỷ kheo không được sự lợi ích, vị ấy ra sức làm cho các Tỷ kheo không có chỗ ngụ, vị ấy mắng nhiếc gièm pha các Tỷ kheo, vị ấy chia rẽ các Tỷ kheo (này) với các Tỷ kheo (khác). Này các Tỷ kheo, ta cho phép áp dụng hành phạt đối với vị Sa di hội đủ năm điều kiện này.

Khi ấy, các Tỷ kheo đã khởi ý điều này: "Hành phạt gì nên được áp dụng?" Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép sự ngăn cấm.

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo áp dụng sự ngăn cấm đối với các Sa di trong toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng. Các Sa di trong khi không thể đi vào tu viện nên bỏ đi, hoàn tục, hoặc chuyển sang ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên áp dụng sự ngăn cấm trong toàn bộ khu vực tu viện của hội chúng. Vị nào áp dụng thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các Tỷ kheo, ta cho phép áp dụng sự ngăn cấm ở chỗ nào vị (Sa di) ấy sống và lui tới.

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo áp dụng sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng đối với các Sa di. Dân chúng trong lúc thực hiện nước cháo và bữa ăn dâng hội chúng đã nói với các Sa di như vầy:

- Này các ngài, hãy đến và húp cháo. Này các ngài, hãy đến và thọ dụng bữa ăn.

Các vị Sa di nói như vầy:

- Này các đạo hữu, không thể được. Các Tỷ kheo đã áp dụng sự ngăn cấm.

Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Đại đức lại áp dụng sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng đối với các Sa di?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, sự ngăn cấm thức ăn theo đường miệng không nên áp dụng, vị nào áp dụng thì phạm tội tác ác (dukkata).

Dứt câu chuyện về Hành Phạt.

[122] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo nhóm Lục Sư không hỏi trước các vị thầy tế độ lại áp dụng sự ngăn cấm đối với các Sa di. Các vị thầy tế độ trong lúc tìm kiếm (nghĩ rằng): "Vì sao các Sa di của chúng ta lại không được nhìn thấy?" Các vị Tỷ kheo nói như vầy:

- Này các Đại đức, các vị Tỷ kheo nhóm Lục Sư đã áp dụng sự ngăn cấm.

Các vị thầy tế độ đã phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Tỷ kheo nhóm Lục Sư không hỏi trước chúng tôi lại áp dụng sự ngăn cấm đối với các Sa di của chúng tôi?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, chưa hỏi trước các vị thầy tế độ không nên áp dụng sự ngăn cấm. Vị nào áp dụng thì phạm tội tác ác (dukkata).

[123] Vào lúc bấy giờ, các Tỷ kheo nhóm Lục Sư đã dụ dỗ các Sa di của các Tỷ kheo trưởng lão khiến các vị trưởng lão bị mệt mỏi trong khi lấy gỗ chà răng và nước súc miệng. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, tập thể của vị khác không nên dụ dỗ. Vị nào dụ dỗ thì phạm tội tác ác (dukkata).

[124] Vào lúc bấy giờ, sa di tên Kantaka của Đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã làm nhơ nhớp Tỷ kheo ni tên Kantakī. Các vị Tỷ kheo phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Sa di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế ấy?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép trục xuất Sa di hội đủ mười điều kiện này: Vị ấy có giết hại mạng sống, vị ấy có lấy vật không được cho, vị ấy là kẻ phi Phạm hạnh (hành dâm), vị ấy là kẻ nói dối, vị ấy uống chất say, vị ấy phỉ báng đức Phật, vị ấy phỉ báng đức Pháp, vị ấy phỉ báng đức Tăng, vị ấy là kẻ có tri kiến sai trái, vị ấy là kẻ làm nhơ nhớp Tỷ kheo ni. Này các Tỷ kheo, ta cho phép trục xuất vị Sa di hội đủ mười điều kiện này.

[125] Vào lúc bấy giờ, có người bị thiến (pandaka) đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Người ấy đi đến gặp các vị Tỷ kheo còn trẻ và nói như vầy:

- Này các Đại đức, hãy đi đến, hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.

Các vị Tỷ kheo đã xua đuổi:

- Này kẻ thiến, tiêu mất đi! Này kẻ thiến, chết mất đi! Ai mà cần đến ngươi?

Người ấy khi đã bị các vị Tỷ kheo xua đuổi lại đi đến gặp các Sa di lớn con to xác nói như vầy:

- Này các Đại đức, hãy đi đến, hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.

Các vị Sa di đã xua đuổi:

- Này kẻ thiến, tiêu mất đi! Này kẻ thiến, chết mất đi! Ai mà cần đến ngươi?

Người ấy khi đã bị các vị Sa di xua đuổi lại đi đến gặp những người chăn voi, những người giữ ngựa và nói như vầy:

- Này các đạo hữu, hãy đi đến, hãy làm điều nhơ nhớp với tôi.

Những người chăn voi, những người giữ ngựa đã làm điều nhơ nhớp. Những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Những Sa môn Thích Tử này là những kẻ bị thiến, và những người nào trong bọn họ không phải là kẻ bị thiến thì những người ấy làm điều nhơ nhớp với những kẻ bị thiến.

Các vị Tỷ kheo đã nghe được những người chăn voi, những người giữ ngựa phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, kẻ bị thiến chưa được tu lên bậc trên không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.

[126] Vào lúc bấy giờ, có người con trai của gia đình cổ hủ bị khánh tận nọ là người mảnh mai. Khi ấy, người con trai của gia đình cổ hủ bị khánh tận ấy đã khởi ý rằng: "Ta là người mảnh mai, không đủ khả năng để đạt đến tài sản chưa có hoặc làm tăng trưởng tài sản đã có, với phương kế gì để ta có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?" Rồi người con trai của gia đình cổ hủ bị khánh tận ấy đã khởi ý điều này: "Những Sa môn Thích Tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm dài trên những cái giường kín gió, hay là ta nên tự mình chuẩn bị y và bình bát, cạo bỏ râu tóc, khoác lên các mảnh vải màu ca-sa, đi đến tu viện, và chung sống với các Tỷ kheo?"

Sau đó, người con trai của gia đình cổ hủ bị khánh tận ấy đã tự mình chuẩn bị y và bình bát, cạo bỏ râu tóc, khoác lên các mảnh vải màu ca-sa, đi đến tu viện, và đảnh lễ các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã nói như vầy:

- Này Đại đức, Đại đức được bao nhiêu năm?

- Được bao nhiêu năm? Này các Đại đức, điều ấy là gì vậy?

- Này Đại đức, ai là thầy tế độ của Đại đức?

- Thầy tế độ? Này các Đại đức, điều ấy là gì vậy?

Các vị Tỷ kheo đã kể lại sự việc ấy cho Đại đức Upāli.

- Này Đại đức Upāli, hãy thẩm tra người đã xuất gia này.

Sau đó, người con trai của gia đình cổ hủ bị khánh tận ấy, trong khi được Đại đức Upāli thẩm tra, đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, kẻ trộm tướng mạo (Tỷ kheo) chưa được tu lên bậc trên không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các Tỷ kheo, kẻ đã chuyển sang ngoại đạo chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.

[127] Vào lúc bấy giờ, có con rắn lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với sự xuất thân là loài rắn. Rồi con rắn ấy đã khởi ý điều này: "Với phương kế gì ta có thể hoàn toàn giải thoát khỏi sự xuất thân là loài rắn và có thể thành tựu được bản thể của loài người một cách nhanh chóng?" Khi ấy, con rắn ấy đã khởi ý điều này: "Những vị Sa môn Thích Tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp, nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử, như thế ta có thể hoàn toàn giải thoát khỏi sự xuất thân là loài rắn và có thể thành tựu được bản thể của loài người một cách nhanh chóng." Sau đó, con rắn ấy với hình dáng của một thanh niên đã đi đến gặp các vị Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các vị Tỷ kheo đã cho người ấy tu lên bậc trên.

Vào lúc bấy giờ, con rắn ấy ngụ trong một trú xá ở góc cuối cùng với một Tỷ kheo khác. Khi ấy, vị Tỷ kheo ấy sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đã đi kinh hành ở ngoài trời. Rồi trong khi vị Tỷ kheo ấy đã đi ra ngoài, con rắn ấy hết lo ngại nên đã chìm vào giấc ngủ. Toàn bộ trú xá đã bị tràn ngập bởi (thân của) con rắn và các vòng thân còn ló ra ở các cửa sổ nữa.

Sau đó, vị Tỷ kheo ấy (nghĩ rằng): "Ta sẽ đi vào trú xá," trong lúc mở cánh cửa ra đã nhìn thấy toàn bộ trú xá đã bị tràn ngập bởi (thân của) con rắn và các vòng thân còn ló ra ở các cửa sổ nữa, sau khi nhìn thấy (trở nên) sợ hãi và đã khóc thét lên. Các vị Tỷ kheo đã chạy lại gần và nói với vị Tỷ kheo ấy điều này:

- Này Đại đức, vì sao Đại đức lại khóc thét lên vậy?

- Này các Đại đức, toàn bộ trú xá này đã bị tràn ngập bởi (thân của) con rắn và các vòng thân còn ló ra ở các cửa sổ nữa.

Khi ấy, con rắn ấy sau khi thức giấc bởi tiếng động ấy đã ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình. Các vị Tỷ kheo nói như vầy:

- Này đệ, ngươi là ai vậy?

- Bạch các ngài, tôi là rắn.

- Này đệ, vì sao ngươi lại biến thành hình thức như thế này?

Khi ấy, con rắn ấy đã kể lại sự việc ấy cho các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã triệu tập hội chúng Tỷ kheo lại và nói với con rắn ấy điều này:

- Các ngươi là loài rắn không có được pháp tiến bộ trong Pháp và Luật này. Này rắn, ngươi hãy đi đi. Trong chính trường hợp ấy, hãy tiến hành Uposatha[3] vào ngày mười bốn, ngày mười lăm và ngày thứ tám của mỗi tuần trăng, như thế ngươi sẽ hoàn toàn giải thoát khỏi sự xuất thân là loài rắn và có thể thành tựu được bản thể của loài người một cách nhanh chóng.

Khi ấy, con rắn ấy (nghĩ rằng): "Nghe nói ta không có được pháp tiến bộ trong Pháp và Luật này," (trở nên) đau khổ, rầu rĩ, và trong khi nước mắt trào ra, đã khóc rống lên, rồi bỏ đi.

Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, đây là hai lý do đưa đến việc hiện ra bản thể thật của loài rắn là khi thực hành việc lứa đôi với rắn cái, và khi không còn lo ngại rồi chìm vào giấc ngủ. Này các Tỷ kheo, hai lý do này đưa đến việc hiện ra bản thể thật của loài rắn. Này các Tỷ kheo, loài thú chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.

[128] Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên nọ là kẻ đã đoạt đi mạng sống của người mẹ. Người ấy lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với hành động ác độc ấy. Rồi người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: "Với phương kế gì ta có thể thực hiện sự thoát khỏi hành động ác độc ấy?" Khi ấy, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: "Những vị Sa môn Thích Tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp, nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử, như thế ta có thể thực hiện sự thoát khỏi hành động ác độc ấy." Sau đó, người thanh niên ấy đã đi đến gặp các vị Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các vị Tỷ kheo đã nói với Đại đức Upāli điều này:

- Này Đại đức Upāli, cũng trước đây con rắn với hình dáng của một thanh niên đã được xuất gia nơi các Tỷ kheo. Này Đại đức Upāli, hãy thẩm tra người thanh niên này đi.

Sau đó, người thanh niên ấy trong khi được Đại đức Upāli thẩm tra đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, kẻ giết mẹ chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.

[129] Vào lúc bấy giờ, có người thanh niên nọ là kẻ đã đoạt đi mạng sống của người cha. Người ấy lo ngại, xấu hổ, và chán ghét với hành động ác độc ấy. Rồi người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: "Với phương kế gì ta có thể thực hiện sự thoát khỏi hành động ác độc ấy?" Khi ấy, người thanh niên ấy đã khởi ý điều này: "Những vị Sa môn Thích Tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp, nếu ta có thể xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử, như thế ta có thể thực hiện sự thoát khỏi hành động ác độc ấy." Sau đó, người thanh niên ấy đã đi đến gặp các vị Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các vị Tỷ kheo đã nói với Đại đức Upāli điều này:

- Này Đại đức Upāli, cũng trước đây con rắn với hình dáng của một thanh niên đã được xuất gia nơi các Tỷ kheo. Này Đại đức Upāli, hãy thẩm tra người thanh niên này đi.

Sau đó, người thanh niên ấy trong khi được Đại đức Upāli thẩm tra đã kể lại sự việc ấy. Đại đức Upāli đã kể lại sự việc ấy cho các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, kẻ giết cha chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.

[130] Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường, bọn cướp đã xuất hiện, đã cướp bóc một số Tỷ kheo và đã giết chết một số vị Tỷ kheo khác. Các binh lính của đức vua phát xuất từ thành Sāvatthi đã bắt được một số kẻ cướp. Một số kẻ cướp khác đã tẩu thoát. Những kẻ tẩu thoát ấy đã xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Những kẻ bị bắt đã bị đưa đi tử hình. Những kẻ đã được xuất gia ấy đã nhìn thấy những kẻ cướp ấy đang bị đưa đi tử hình, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:

- May mắn thay chúng ta đã tẩu thoát, nếu không hôm nay chúng ta có thể đã bị bắt, chúng ta cũng có thể bị xử tử y như thế này.

Các vị Tỷ kheo đã nói như vầy:

- Này các Đại đức, các vị đã nói điều gì vậy?

Khi ấy, những kẻ đã được xuất gia ấy đã kể lại sự việc ấy cho các vị Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, các vị Tỷ kheo ấy là các vị A La Hán. Này các Tỷ kheo, kẻ giết A La Hán chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.

[131] Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị Tỷ kheo ni đi đường xa từ Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường, bọn cướp đã xuất hiện, đã cướp bóc một số Tỷ kheo ni và đã làm nhơ nhớp một số Tỷ kheo ni khác. Các binh lính của đức vua phát xuất từ thành Sāvatthi đã bắt được một số kẻ cướp. Một số kẻ cướp khác đã tẩu thoát. Những kẻ tẩu thoát ấy đã xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Những kẻ bị bắt đã bị đưa đi tử hình. Những kẻ đã được xuất gia ấy đã nhìn thấy những kẻ cướp ấy đang bị đưa đi tử hình, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:

- May mắn thay chúng ta đã tẩu thoát, nếu không hôm nay chúng ta có thể đã bị bắt, chúng ta cũng có thể bị xử tử y như thế này.

Các vị Tỷ kheo đã nói như vầy:

- Này các Đại đức, các vị đã nói điều gì vậy?

Khi ấy, những kẻ đã được xuất gia ấy đã kể lại sự việc ấy cho các Tỷ kheo. Các vị Tỷ kheo đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, kẻ làm nhơ nhớp Tỷ kheo ni chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các Tỷ kheo, kẻ làm chia rẽ hội chúng chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất. Này các Tỷ kheo, kẻ làm chảy máu chân đức Phật chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.

[132] Vào lúc bấy giờ, có người lưỡng tánh (ubhatobyañjanako) nọ đã được xuất gia nơi các Tỷ kheo. Người ấy hành động (như người nam) rồi người ấy làm cho (thân thể) hành động (như người nữ). Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, người lưỡng tánh chưa được tu lên bậc trên thì không nên cho tu lên bậc trên, đã được tu lên bậc trên rồi thì nên trục xuất.

[133] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên người không có thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên người không có thầy tế độ. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên với hội chúng là thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên với hội chúng là thầy tế độ. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên với nhóm (hai hoặc ba vị Tỷ kheo) là thầy tế độ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên với nhóm (hai hoặc ba vị Tỷ kheo) là thầy tế độ. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên với kẻ bị thiến là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ trộm tướng mạo (Tỷ kheo) là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ đã chuyển sang ngoại đạo là thầy tế độ. ...(như trên)... với loài thú là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ giết mẹ là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ giết cha là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ giết A La Hán là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ làm nhơ nhớp Tỷ kheo ni là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ chia rẽ hội chúng là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ làm chảy máu chân đức Phật là thầy tế độ. ...(như trên)... với kẻ lưỡng tánh là thầy tế độ. ...(như trên)...

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên với kẻ bị thiến là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ trộm tướng mạo (Tỷ kheo) là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ đã chuyển sang ngoại đạo là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với loài thú là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết mẹ là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết cha là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ giết A La Hán là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ làm nhơ nhớp Tỷ kheo ni là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ chia rẽ hội chúng là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ làm chảy máu chân đức Phật là thầy tế độ. Không nên cho tu lên bậc trên với kẻ lưỡng tánh là thầy tế độ. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

[134] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên người không có bình bát. Các vị đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Giống như là những kẻ ngoại đạo.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên người không có bình bát. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên người không có y. Các vị lõa thể đi khất thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Giống như là những kẻ ngoại đạo.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên người không có y. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên người không có y và bình bát. Các vị lõa thể đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Giống như là những kẻ ngoại đạo.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên người không có y và bình bát. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên với bình bát của người đã được yêu cầu (tức là với bình bát mượn của vị ấy). Đến khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại bình bát. Các vị đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Giống như là những kẻ ngoại đạo.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên với bình bát mượn. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên với y của người đã được yêu cầu (tức là với y mượn của vị ấy). Đến khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại y. Các vị lõa thể đi khất thực. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Giống như là những kẻ ngoại đạo.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên với y mượn. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho tu lên bậc trên với y và bình bát của người đã được yêu cầu (tức là với y và bình bát mượn của vị ấy). Đến khi đã được tu lên bậc trên, các vị trả lại y và bình bát. Các vị lõa thể đi khất thực bằng hai tay. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Giống như là những kẻ ngoại đạo.

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên với y và bình bát mượn. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata).

Dứt Hai mươi Trường hợp "Người không nên cho tu lên bậc trên."

[135] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo cho người bị đứt cánh tay (hatthacchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị đứt bàn chân (pādacchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị đứt cánh tay và bàn chân (hatthapādacchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị sứt tai (kannacchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị sứt mũi (nāsacchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị sứt tai và mũi (kannanāsacchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị đứt ngón tay (aṅgulicchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị đứt móng tay (alacchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị đứt gân chân (kandaracchinnam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người có bàn tay giống hình mang rắn hổ (phanahatthakam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người gù lưng (khujjam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người lùn tịt (vāmanam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người có bướu cổ (galagandikam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị hành phạt đóng dấu (lakkhanāhatam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị hành phạt đánh bằng roi (kasāhatam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị cáo thị tầm nã (likhitakam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người phù chân voi (sīpadim) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người có bệnh trầm trọng (pāparogim) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bôi nhọ tập thể (parisadūsakam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người chột mắt (kānam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người tứ chi bị co rút (kunim) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người què (khañjam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người bị liệt nửa thân (pakkhahatam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người đi khập khiễng (chinniriyāpatham) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người già yếu (jarādubbalam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người mù (andham) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người câm (mūgam) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người điếc (badhiram) xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người mù và câm xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người mù và điếc xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người câm và điếc xuất gia. ...(như trên)... Các vị cho người mù câm điếc xuất gia. ...(như trên)...

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho người bị đứt cánh tay xuất gia. Không nên cho người bị đứt bàn chân xuất gia. Không nên cho người bị đứt cánh tay và bàn chân xuất gia. Không nên cho người sứt tai xuất gia. Không nên cho người bị sứt mũi xuất gia. Không nên cho người bị sứt tai và mũi xuất gia. Không nên cho người bị đứt ngón tay xuất gia. Không nên cho người bị đứt móng tay xuất gia. Không nên cho người bị đứt gân chân xuất gia. Không nên cho người có bàn tay giống hình mang rắn hổ xuất gia. Không nên cho người gù lưng xuất gia. Không nên cho người lùn tịt xuất gia. Không nên cho người có bướu cổ xuất gia. Không nên cho người bị hành phạt đóng dấu xuất gia. Không nên cho người bị hành phạt đánh bằng roi xuất gia. Không nên cho người bị cáo thị tầm nã xuất gia. Không nên cho người phù chân voi xuất gia. Không nên cho người có bệnh trầm trọng kinh niên xuất gia. Không nên cho người bôi nhọ tập thể xuất gia. Không nên cho người chột mắt xuất gia. Không nên cho người tứ chi bị co rút xuất gia. Không nên cho người què xuất gia. Không nên cho người bị liệt nửa thân xuất gia. Không nên cho người đi khập khiễng xuất gia. Không nên cho người già yếu xuất gia. Không nên cho người mù xuất gia. Không nên cho người câm xuất gia. Không nên cho người điếc xuất gia. Không nên cho người mù và câm xuất gia. Không nên cho người mù và điếc xuất gia. Không nên cho người câm và điếc xuất gia. Không nên cho người mù câm điếc xuất gia. xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkata).

Dứt Ba mươi hai Trường hợp "Không nên cho xuất gia."

Dứt Tụng Phẩm "Phần thừa kế" là phần thứ chín.


[1] Tên vị này đã được dịch là Tịnh Phạn (Suddhodana), tức là cha của thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhattha). Thái tử đã lìa hòang cung ra đi sau này trở thành đức Phật Thế Tôn.

[2] Nandā là con trai của đức vua Suddhodana và bà Mahāpajāpati Gotamī, tức em cùng cha khác mẹ với ngài.

[3] Vào các ngày này, các cư sĩ thường thọ trì tám giới hoặc mười giới một ngày đêm.

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]