Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng Phẩm thứ tám.

[101] Vào lúc bấy giờ, có năm thứ bệnh phát triển rộng khắp trong dân chúng xứ Magadha là: bệnh cùi (kuṇṇham), bệnh mụt nhọt (gaṇḍo), bệnh chàm (kilāso), bệnh lao phổi (soso), bệnh động kinh (apamāro). Những người mắc bệnh đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca và nói như vầy:

- Thưa thầy, tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho chúng tôi.

- Các ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cần được phục vụ, còn các cung phi, và hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu nữa, tôi không thể điều trị (ngài) được.

- Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và chúng tôi sẽ là đầy tớ của thầy. Tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho chúng tôi.

- Các ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cần được phục vụ, còn các cung phi, và hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu nữa, tôi không thể điều trị (ngài) được.

Khi ấy, những người dân ấy đã khởi ý rằng: "Những Sa môn Thích Tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm dài trên những cái giường kín gió, hay là chúng ta nên xuất gia nơi các Sa môn Thích Tử? Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỷ kheo sẽ chăm sóc (chúng ta) và Jīvaka Komārabhacca sẽ điều trị?" Sau đó, những người dân ấy đã đi đến gặp các Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các Tỷ kheo đã cho họ xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Và chính các Tỷ kheo đã chăm sóc họ và Jīvaka Komārabhacca đã điều trị.

Vào lúc bấy giờ, trong lúc chăm sóc nhiều Tỷ kheo bị bệnh các vị Tỷ kheo sống có nhiều sự xin xỏ, có nhiều sự yêu cầu: "Hãy bố thí vật thực dành cho người bệnh, hãy bố thí vật thực dành cho người chăm sóc bệnh, hãy bố thí dược phẩm dành cho người bệnh." Jīvaka Komārabhacca, trong lúc điều trị nhiều Tỷ kheo bị bệnh, đã xao lãng một phận sự nào đó đối với đức vua.

Và có người đàn ông nọ mắc phải năm thứ bệnh đã đi đến gặp Jīvaka Komārabhacca rồi nói điều này:

- Thưa thầy, tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho tôi.

- Ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cần được phục vụ, còn các cung phi, và hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu nữa, tôi không thể điều trị (ngài) được.

- Thưa thầy, tất cả tài sản hãy là của thầy và tôi sẽ là đầy tớ của thầy. Tốt đẹp thay thầy hãy điều trị cho tôi.

- Ngài ơi, tôi có nhiều phận sự, có nhiều việc cần phải làm, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cần được phục vụ, còn các cung phi, và hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu nữa, tôi không thể điều trị (ngài) được.

Khi ấy, người đàn ông ấy đã khởi ý rằng: "Những Sa môn Thích Tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm dài trên những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa môn Thích Tử? Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỷ kheo sẽ chăm sóc (ta) và Jīvaka Komārabhacca sẽ điều trị, và khi khỏi bệnh ta đây sẽ hoàn tục. " Sau đó, người đàn ông ấy đã đi đến gặp các Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các Tỷ kheo đã cho người ấy xuất gia, đã cho tu lên bậc trên. Và chính các Tỷ kheo đã chăm sóc người ấy và Jīvaka Komārabhacca đã điều trị. Người ấy khi khỏi bệnh đã hoàn tục. Jīvaka Komārabhacca đã nhìn thấy người đàn ông hoàn tục ấy, sau khi nhìn thấy đã nói với người đàn ông ấy điều này:

- Thưa ngài, có phải ngài đã xuất gia nơi các vị Tỷ kheo không?

- Thưa thầy, đúng vậy.

- Thưa ngài, điều gì khiến ngài đã làm điều như thế?

Khi ấy, người đàn ông ấy đã kể lại sự việc ấy cho Jīvaka Komārabhacca. Jīvaka Komārabhacca đã phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Đại đức lại cho người bị mắc phải năm thứ bệnh xuất gia?

Sau đó, Jīvaka Komārabhacca đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Jīvaka Komārabhacca đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, tốt đẹp thay các ngài Đại đức không cho người bị mắc phải năm thứ bệnh xuất gia.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho Jīvaka Komārabhacca bằng bài Pháp thoại. Rồi Jīvaka Komārabhacca, sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, không nên cho người bị mắc phải năm chứng bệnh xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa).

[102] Vào lúc bấy giờ, vùng biên địa của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bị (trộm cướp) dấy loạn. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra lệnh cho các quan đại thần lãnh đạo quân đội rằng:

- Này các khanh, hãy đi và thâu hồi lại vùng biên địa.

- Tâu bệ hạ, xin vâng. Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đáp lại đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha.

Khi ấy, các chiến sĩ danh tiếng lẫy lừng đã khởi ý rằng: "Là những người say mê chiến trận, chúng ta làm các điều tội lỗi và gây nên những điều bất thiện trong khi đi (đánh trận). Với phương kế gì chúng ta có thể ngăn được các điều tội lỗi và thực hiện những điều tốt đẹp?" Khi ấy, các chiến sĩ ấy đã khởi ý rằng: "Những vị Sa môn Thích Tử này là những vị thực hành Giáo Pháp, thực hành sự bình thản, thực hành Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp, nếu chúng ta có thể xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử, như vậy chúng ta có thể ngăn được các điều tội lỗi và thực hiện những điều tốt đẹp." Sau đó, các chiến sĩ ấy đã đi đến gặp các Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các Tỷ kheo đã cho họ xuất gia và cho tu lên bậc trên. Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã hỏi các binh sĩ của đức vua rằng:

- Này khanh, sao các chiến sĩ tên (như vầy) và tên (như vầy) lại không hiện diện?

- Thưa tướng quân, các chiến sĩ tên (như vầy) và tên (như vầy) đã xuất gia nơi các vị Tỷ kheo.

Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Sa môn Thích Tử lại cho binh sĩ của đức vua xuất gia?

Các quan đại thần lãnh đạo quân đội đã trình sự việc ấy lên đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha. Khi ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã hỏi các quan đại thần phụ trách tòa án rằng:

- Này các khanh, người cho binh sĩ của đức vua xuất gia người ấy gây nên điều gì?

- Tâu bệ hạ, đầu của thầy tế độ nên bị chặt đi, lưỡi của vị đọc tuyên ngôn nên bị rút ra, một phần xương sườn của nhóm (các vị chứng minh) nên bị bẽ gảy.

Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, có những vị vua không có đức tin, không có tín ngưỡng, những vị ấy có thể hãm hại các vị Tỷ kheo vì chuyện không đáng gì.

Rồi đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Rồi đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, không nên cho binh sĩ của đức vua xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa)

[103] Vào lúc bấy giờ, kẻ cướp Aṅgulimāla đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Dân chúng khi nhìn thấy trở nên sợ hãi, hỏang hốt, bỏ chạy, rẽ sang hướng khác, quay mặt chỗ khác, đóng cửa lại. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Sa môn Thích Tử lại cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia?

Các Tỷ kheo đã nghe dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho kẻ cướp có mang biểu tượng xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa)

[104] Vào lúc bấy giờ, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: "Không được phép làm bất cứ điều gì đến những người đã xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử. Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn hầu chấm dứt khổ đau."

Vào lúc bấy giờ, có người dàn ông nọ sau khi thực hiện vụ trộm đã bị giam trong ngục. Người ấy đã phá ngục tẩu thoát và đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Dân chúng sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:

- Chính người này là kẻ cướp phá ngục, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi đi.

Một số người nói như vầy:

- Này các ngài, chớ có nói như thế, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: "Không được phép làm bất cứ điều gì đến những người đã xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử. Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn hầu chấm dứt khổ đau."

Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Các vị Sa môn Thích Tử này được an toàn và bảo đảm rồi vì không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng vì sao các Sa môn Thích Tử lại cho kẻ cướp phá ngục xuất gia?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho kẻ cướp phá ngục xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa)

[105] Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ nọ sau khi thực hiện vụ trộm đã tẩu thoát và đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Người ấy đã bị cáo thị tầm nã ở hoàng cung rằng: "Được nhìn thấy tại đâu thì được giết tại đấy." Dân chúng sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:

- Chính người này là kẻ cướp bị cáo thị tầm nã, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi đi.

Một số người nói như vầy:

- Này các ngài, chớ có nói như thế, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: "Không được phép làm bất cứ điều gì đến những người đã xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử. Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn hầu chấm dứt khổ đau."

Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Các vị Sa môn Thích Tử này được an toàn và bảo đảm rồi vì không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng vì sao các Sa môn Thích Tử lại cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho kẻ cướp bị cáo thị tầm nã xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa)

[106] Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị hành phạt đánh bằng roi đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Sa môn Thích Tử lại cho kẻ bị hành phạt đánh bằng roi xuất gia?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho kẻ bị hành phạt đánh bằng roi xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa).

[107] Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bị hành phạt đóng dấu đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Sa môn Thích Tử lại cho kẻ bị hành phạt đóng dấu xuất gia?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho kẻ bị hành phạt đóng dấu xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa).

[108] Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ là kẻ thiếu nợ đã bỏ trốn và đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Những người chủ nợ đã nhìn thấy và nói như vầy:

- Chính người này là kẻ thiếu nợ của chúng ta, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi đi.

Một số người nói như vầy:

- Này các ngài, chớ có nói như thế, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: "Không được phép làm bất cứ điều gì đến những người đã xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử. Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn hầu chấm dứt khổ đau."

Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Các vị Sa môn Thích Tử này được an toàn và bảo đảm rồi vì không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng vì sao các Sa môn Thích Tử lại cho kẻ thiếu nợ xuất gia?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho kẻ thiếu nợ xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa).

[109] Vào lúc bấy giờ, có người nô tỳ nọ đã bỏ trốn và đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Những người chủ đã nhìn thấy và nói như vầy:

- Chính người này là kẻ nô tỳ của chúng ta, chúng ta hãy dẫn gã ấy đi đi.

Một số người nói như vầy:

- Này các ngài, chớ có nói như thế, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã ra thông báo rằng: "Không được phép làm bất cứ điều gì đến những người đã xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử. Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy để các vị thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn hầu chấm dứt khổ đau."

Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Các vị Sa môn Thích Tử này được an toàn và bảo đảm rồi vì không được phép làm bất cứ điều gì đến các vị này! Nhưng vì sao các Sa môn Thích Tử lại cho kẻ nô tỳ xuất gia?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho kẻ nô tỳ xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa).

[110] Vào lúc bấy giờ, có người thợ bạc nọ bị sói đầu sau khi cãi vả với cha mẹ đã đi đến tu viện và đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo. Sau đó, cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy, trong khi tìm kiếm người thợ bạc bị sói đầu ấy, đã đi đến tu viện và đã hỏi các vị Tỷ kheo rằng:

- Bạch các ngài, vậy chớ các ngài có nhìn thấy người trai trẻ hình dáng như thế này không?

Các vị Tỷ kheo không biết đã nói rằng:

- Chúng tôi không biết.

Các vị Tỷ kheo không nhìn thấy đã nói rằng:

- Chúng tôi không nhìn thấy.

Sau đó, cha nẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy, trong lúc tìm kiếm người thợ bạc bị sói đầu ấy, đã nhìn thấy người ấy đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo nên đã phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Những Sa môn Thích Tử này thật vô liêm sĩ, giới hạnh xấu xa, là những kẻ nói láo trong khi biết lại nói rằng: "Chúng tôi không biết," trong khi nhìn thấy lại nói rằng: "Chúng tôi không nhìn thấy," và người người trai trẻ này đã được xuất gia ở nơi các Tỷ kheo.

Các Tỷ kheo đã nghe được cha mẹ của người thợ bạc bị sói đầu ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép thông báo đến hội chúng về việc cạo tóc (bhaṇḍukamma).

[111] Vào lúc bấy giờ, trong thành Rājagaha có một nhóm mười bảy thiếu niên là bạn bè. Thiếu niên Upāli là thủ lãnh của họ.

Khi ấy, cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: "Có phương kế gì để sau khi chúng ta từ trần, Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc?" Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: "Nếu Upāli có thể học chữ viết, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc." Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: "Nếu Upāli học chữ viết thì các ngón tay sẽ bị đau." Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: "Nếu Upāli có thể học tính toán, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc." Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: "Nếu Upāli học tính toán thì ngực sẽ bị đau. Nếu Upāli có thể học hội họa, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc." Rồi cha mẹ của Upāli đã khởi ý điều này: "Nếu Upāli học hội họa thì con mắt sẽ bị đau. Còn những Sa môn Thích Tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm dài trên những cái giường kín gió, nếu Upāli có thể xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử, như thế sau khi chúng ta từ trần Upāli có thể sống thoải mái và không bị cực nhọc."

Thanh niên Upāli đã nghe được cuộc nói chuyện trao đổi của cha mẹ. Sau đó, thiếu niên Upāli đã đi đến gặp những thiếu niên ấy, sau khi đến đã nói với những thiếu niên ấy điều này:

- Này các bạn, hãy đến, chúng ta sẽ xuất gia nơi các vị Sa môn Thích Tử.

- Này bạn, nếu bạn xuất gia, như thế thì chúng tôi cũng xuất gia.

Sau đó, những thiếu niên ấy mỗi một người đã đi đến gặp cha mẹ và đã nói điều này:

- Hãy cho phép con rời nhà xuất gia sống không nhà.

Khi ấy, cha mẹ của những thiếu niên ấy (nghĩ rằng): "Tất cả những đứa trẻ này có cùng ước muốn, có ý định tốt đẹp," rồi đã chấp thuận. Chúng đã đi đến gặp các vị Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các vị Tỷ kheo đã cho chúng xuất gia và cho tu lên bậc trên. Rồi những thiếu niên ấy sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đã khóc lóc rằng:

- Hãy cho cháo, hãy cho bữa ăn, hãy cho đồ ăn.

Các vị Tỷ kheo đã nói như vầy:

- Này các sư đệ, hãy chờ đến khi trời sáng, nếu có cháo thì các đệ sẽ húp cháo, nếu có bữa ăn thì các đệ sẽ ăn, còn nếu không có cháo, bữa ăn, hoặc đồ ăn, thì các đệ sẽ ăn sau khi đi khất thực.

Trong khi được nói như thế bởi các vị Tỷ kheo, các Tỷ kheo (thiếu niên) ấy lại khóc lóc rằng:

- Hãy cho cháo, hãy cho bữa ăn, hãy cho đồ ăn.

Rồi chúng đã đại điện tiểu tiện ở chỗ nằm ngồi. Đức Thế Tôn sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đã nghe được tiếng của các đứa trẻ, sau khi nghe đã bảo Đại đức Ānanda rằng:

- Này Ānanda, tiếng của các đứa trẻ ấy là gì vậy?

Khi ấy, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, nghe nói các Tỷ kheo, khi được biết rõ, vẫn cho tu lên bậc trên người chưa đến hai mươi tuổi, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này các Tỷ kheo, vì sao những kẻ rồ dại ấy, khi được biết rõ, vẫn cho tu lên bậc trên người chưa đến hai mươi tuổi? Này các Tỷ kheo, người chưa đến hai mươi tuổi không có khả năng chịu đựng sự nóng, sự lạnh, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ, công kích, (chúng) có khuynh hướng không cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Này các Tỷ kheo, người đã được hai mươi tuổi có khả năng chịu đựng sự nóng, sự lạnh, sự đói, sự khát, các sự xúc chạm bởi ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát, các lối nói lăng mạ, công kích, (chúng) có khuynh hướng cam chịu các cảm thọ khổ, nhức nhối, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, không chút thích thú, khó chịu, chết người thuộc về cơ thể đã sanh khởi. Này các Tỷ kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. ...(như trên)...

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại và bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, người chưa đến hai mươi tuổi, khi được biết rõ, không nên cho tu lên bậc trên. Vị nào cho tu lên bậc trên thì nên được hành xử theo Pháp.

[112] Vào lúc bấy giờ, có gia đình nọ đã bị chết bởi bịnh dịch hạch (ahivātaka). Người cha và người con trai của gia đình ấy là (những người) còn sót lại. Họ đã xuất gia ở nơi các Tỷ kheo rồi cùng nhau đi khất thực. Rồi khi đồ ăn khất thực được bố thí đến người cha, đứa trẻ ấy đã chạy lại gần và nói điều này:

- Cha yêu quý, hãy cho con với. Cha yêu quý, hãy cho con với.

Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Những Sa môn Thích Tử này không có Phạm hạnh. Đứa trẻ này đã được sanh ra bởi Tỷ kheo ni.

Các vị Tỷ kheo đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia. Vị nào cho xuất gia thì phạm tội tác ác (dukkaṇa).

[113] Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ có đức tin, có tín ngưỡng của Đại đức Ānanda đã bị chết bởi bịnh dịch hạch (ahivātaka). Và có hai đứa trẻ trai là (những người) còn sót lại. Khi nhìn thấy các vị Tỷ kheo, chúng theo thói quen được phép trước đây đã chạy đến gần. Các Tỷ kheo đã đuổi (chúng) đi. Trong khi bị các vị Tỷ kheo đuổi đi, chúng đã khóc. Khi ấy, Đại đức Ānanda đã khởi ý điều này: "Đức Thế Tôn đã quy định rằng: ‘Đứa trẻ dưới mười lăm tuổi không nên cho xuất gia,’ và những đứa trẻ này dưới mười lăm tuổi, vậy bằng phương kế gì để những đứa trẻ này không thể bị tiêu hoại đây?" Sau đó, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này Ānanda, những đứa trẻ ấy có khả năng để đuổi cho các con quạ bay đi không?

- Bạch Thế Tôn, chúng có khả năng.

Rồi đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép xuất gia đứa trẻ dưới mười lăm tuổi là trẻ (có thể) đuổi được quạ.

[114] Vào lúc bấy giờ, Đại đức Upananda con trai dòng Thích Ca có hai sa-di là Kaṇṇaka và Mahaka. Chúng đã làm điều tồi bại với nhau (aññamaññam dūsesum). Các vị Tỷ kheo phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các sa-di lại thực hành điều sai trái có hình thức như thế ấy?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, một vị không nên để cho hai sa-di phục vụ. Vị nào để cho phục vụ thì phạm tội tác ác (dukkaṇa).

[115] Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đã sống mùa mưa ở ngay tại nơi ấy trong thành Rājagaha, đã sống mùa lạnh ở ngay tại nơi ấy, đã sống mùa nóng ở ngay tại nơi ấy. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Các hướng đi đã bị tắt nghẽn đối với các Sa môn Thích Tử, các hướng đi đã trở thành tăm tối, các hướng đi không còn được các vị này nhìn thấy nữa.

Các Tỷ kheo đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Ānanda rằng:

- Này Ānanda, hãy đi, cầm lấy chìa khóa, và thông báo cho các vị Tỷ kheo ở dãy phòng rằng: "Này các Đại đức, đức Thế Tôn muốn ra đi du hành ở Dakkhiṇāgiri.[1] Đại đức nào có ý thích thì hãy đi."

- Bạch Thế Tôn, xin vâng.

Rồi Đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đã cầm lấy chìa khóa và thông báo cho các vị Tỷ kheo ở dãy phòng rằng:

- Này các Đại đức, đức Thế Tôn muốn ra đi du hành ở Dakkhiṇāgiri. Đại đức nào có ý thích thì hãy đi.

Các vị Tỷ kheo đã nói như vầy:

- Này Đại đức Ānanda, đức Thế Tôn đã quy định là sống nương nhờ mười năm, vị mười năm được cho nương nhờ. Và (nếu) chúng tôi đi nơi ấy thì sự nương nhờ sẽ cần được xác định (ở nơi ấy), vả lại việc cư trú sẽ là ngắn ngủi và sẽ quay trở về lại, rồi sự nương nhờ sẽ cần được xác định lại; nếu các thầy tế độ và thầy dạy học của chúng tôi đi thì chúng tôi cũng sẽ đi, nếu các thầy tế độ và thầy dạy học của chúng tôi không đi thì chúng tôi cũng sẽ không đi. Này Đại đức Ānanda, chúng tôi có tâm tư nhẹ nhàng, điều đó sẽ được rõ ràng.

Sau đó, đức Thế Tôn đã ra đi du hành đến Dakkhiṇāgiri với nhóm chỉ có một số ít. Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại Dakkhiṇāgiri theo như ý thích, đã quay trở về lại thành Vương Xá (Rājagaha). Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo Đại đức Ānanda rằng:

- Này Ānanda, vì sao Như lai đã ra đi du hành đến Dakkhiṇāgiri với hội chúng Tỷ kheo là nhóm chỉ có một số ít?

Khi ấy, Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Rồi đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị Tỷ kheo kinh nghiệm đủ năng lực sống nương nhờ năm năm, vị không có kinh nghiệm thì trọn đời.

[116] Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này không nên sống không nương nhờ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này được sống không nương nhờ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này được sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, niệm bị quên lãng. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện khác nữa được sống không nương nhờ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), nỗ lực tinh tấn, niệm được thiết lập. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này được sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc Tăng thượng giới (adhisīla gồm bốn tội Pārājika và mười ba tội Saṅghādisesa), bị hư hỏng về sở hành thuộc về Tăng thượng hạnh (vi phạm tội thuộc năm nhóm tội còn lại của giới bổn Pāṭimokkha), bị hư hỏng về chánh kiến và chấp thủ tà kiến, ít học hỏi (appassuto), trí kém (duppañño) . Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện khác nữa được sống không nương nhờ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc Tăng thượng giới, không bị hư hỏng về sở hành thuộc về Tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về chánh kiến và không chấp thủ tà kiến, nghe nhiều (bahussuto), có trí tuệ (paññāvā). Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này được sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, không được khéo truyền thừa hai bộ giới bổn Pāṭimokkha một cách chi tiết, không khéo phân tích, không khéo thực hành, không khéo xác định theo từng điều hoặc từng phần phụ thuộc. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện khác nữa được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được khéo truyền thừa hai bộ giới bổn Pāṭimokkha một cách chi tiết, khéo phân tích, khéo thực hành, khéo xác định theo từng điều hoặc từng phần phụ thuộc. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này được sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, chưa đủ năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện khác nữa được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ năm điều kiện này được sống không nương nhờ.

[117] Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này không nên sống không nương nhờ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này được sống không nương nhờ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này được sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, niệm bị quên lãng, chưa đủ năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện khác nữa được sống không nương nhờ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), nỗ lực tinh tấn, niệm được thiết lập, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này được sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc Tăng thượng giới (adhisīla gồm bốn tội Pārājika và mười ba tội Saṅghādisesa), bị hư hỏng về sở hành thuộc về Tăng thượng hạnh (vi phạm tội thuộc năm nhóm tội còn lại của giới bổn Pāṭimokkha), bị hư hỏng về chánh kiến và chấp thủ tà kiến, ít học hỏi (appassuto), trí kém (duppañño), chưa đủ năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện khác nữa được sống không nương nhờ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc Tăng thượng giới, không bị hư hỏng về sở hành thuộc về Tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về chánh kiến và không chấp thủ tà kiến, nghe nhiều (bahussuto), có trí tuệ (paññāvā), được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này được sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện khác nữa không nên sống không nương nhờ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, không được khéo truyền thừa hai bộ giới bổn Pāṭimokkha một cách chi tiết, không khéo phân tích, không khéo thực hành, không khéo xác định theo từng điều hoặc từng phần phụ thuộc, chưa đủ năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này không nên sống không nương nhờ.

Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện khác nữa được sống không nương nhờ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được khéo truyền thừa hai bộ giới bổn Pāṭimokkha một cách chi tiết, khéo phân tích, khéo thực hành, khéo xác định theo từng điều hoặc từng phần phụ thuộc, được năm năm hoặc hơn năm năm. Này các Tỷ kheo, vị Tỷ kheo hội đủ sáu điều kiện này được sống không nương nhờ.

Dứt Tụng Phẩm "Được an toàn và bảo đảm."

Dứt Tụng Phẩm thứ tám



[1] Nghĩa là ngọn núi ở phía Nam. Ở phía nam của thành Rājagaha có ngọn núi được đặt tên là Dakkhiṇāgiri nên chúng tôi giữ nguyên không dịch.

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]