Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng phẩm thứ năm

[77] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo không có thầy tế độ, trong khi không được giáo huấn và không được chỉ dạy, (nên đã) mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực. Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa bình bát đã mở ra (uttitthapattam) ở phía trên thức ăn mềm (của dân chúng), các vị đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn cứng, các vị đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực, và các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn. Dân chúng đã phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các Sa môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn mềm (của dân chúng), các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn cứng, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực, các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà La Môn trong bữa ăn của các Bà La Môn?

[78] Các vị Tỷ kheo đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các vị Tỷ kheo ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, thận trọng, ưa thích điều học; các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các vị Tỷ kheo lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn mềm (của dân chúng), các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn cứng, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực, các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn nữa?

Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

[79] Rồi đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã triệu tập hội chúng Tỷ kheo lại và hỏi các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, nghe nói các Tỷ kheo mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn mềm (của dân chúng), các vị đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn cứng, các vị đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực, các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn nữa, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này các Tỷ kheo, việc làm của những kẻ rồ dại ấy là không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa môn, là sai trái, không nên làm! Này các Tỷ kheo, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn mềm (của dân chúng), các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn cứng, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa bình bát đã mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự mình yêu cầu súp và cơm rồi thọ thực, các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn nữa? Này các Tỷ kheo, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Hơn nữa, này các Tỷ kheo, chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.

[80] Sau đó, đức Thế Tôn đã khiển trách các vị Tỷ kheo ấy. Bằng nhiều phương thức, ngài đã chê trách về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức ngài đã ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự thân thiện, sự không gom góp, sự ra sức nỗ lực. Ngài đã thuyết Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các Tỷ kheo rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị thầy tế độ. Này các Tỷ kheo, vị thầy tế độ sẽ gợi lên ở người đệ tử[1] tâm của một người con và người đệ tử sẽ gợi lên ở vị thầy tế độ tâm của một người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự kính trọng, có sự vâng lời, có sự tiếp xúc với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này. Và này các Tỷ kheo, vị thầy tế độ nên được xác định như vầy: (Người đệ tử) nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, nói với vị ấy như vầy: "Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hãy là thầy tế độ của con." (Vị thầy tế độ nên nói rằng): "Tốt rồi!" hay là "Được nhẹ nhàng rồi!" hay là "Đúng rồi!" hay là "Được phù hợp rồi!" hay là "Hãy tiếp tục với sự hoan hỷ!" (Nếu) vị (thầy tế độ) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì vị thầy tế độ đã được xác định. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy tế độ đã không được xác định.

[81] Này các Tỷ kheo, người đệ tử nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy tế độ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:

Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng lên gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, và nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi dâng cháo. Khi thầy đã uống cháo xong, nên dâng nước, nhận lại tô để ở chỗ thấp, rửa một cách khéo léo không gây tiếng động, rồi đem cất. Khi thầy tế độ đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác thì nên quét khu vực ấy.

Nếu thầy tế độ có ý muốn đi vào làng, nên đưa y lót trong, và nhận lại y lót trong (khác từ vị thầy), nên đưa dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp (saṅghāti) gọn gàng rồi dâng lên, sau khi rửa sạch nên trao bình bát còn đẫm nước (patto saudako). Nếu thầy tế độ muốn có thị giả đi theo, thì vị ấy nên mặc y nội tròn đều với sự che phủ ba vòng tròn, buộc dây thắt lưng, sửa sang cho tề chỉnh rồi đắp y hai lớp (saṅghāti) lên, thắt lại dây buộc, rửa ráy, cầm lấy bình bát, rồi nên đi theo làm thị giả cho thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần, nên nhận lại vật đã được đặt vào trong bình bát (của thầy). Khi thầy tế độ đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy tế độ có khả năng phạm tội lúc đang nói thì nên nhắc nhở.

Khi quay trở về, nên đi về trước tiên. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ lau chân. Nên quay trở lại rước y và bình bát. Nên đem lại y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng một chốc lát. Và không nên phơi y quá lâu ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Khi gấp y lại nên vuốt thẳng chéo y ở bốn góc rồi hãy gấp y lại (nghĩ rằng): "Không nên có nếp nhăn ở phía trong." Nên đặt dây thắt lưng ở phía trong rồi gấp lại.

Nếu có đồ ăn khất thực và thầy tế độ có ý muốn ăn thì nên dâng nước (rửa) và nên đem đồ ăn khất thực để gần bên. Nên dâng thầy tế độ nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa). Nên nhận lại bình bát rồi đem để ở chỗ thấp, rửa một cách khéo léo không gây tiếng động, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Không nên phơi bình bát quá lâu ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Khi đem cất y và bình bát, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không có vật kê. Khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, rồi nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này, rồi căng y ra. Khi thầy tế độ đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân. Nếu khu vực ấy có rác thì nên quét khu vực ấy.

Nếu thầy tế độ có ý muốn tắm, nên sắp xếp việc tắm. Nếu (thầy tế độ) thích nước lạnh thì chuẩn bị nước lạnh. Nếu thích nước nóng thì chuẩn bị nước nóng. Nếu thầy tế độ có ý muốn đi vào nhà tắm, nên trộn bột tắm. Nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm, đi đến phía sau, trao ghế ngồi của nhà tắm cho thầy tế độ, nhận lấy y và để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm. Không nên chiếm chỗ của các Tỷ kheo trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên giành chỗ ngồi của các Tỷ kheo mới tu. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi rời khỏi nhà tắm, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm. Ngay khi còn ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của mình, mặc y, rồi nên lau khô nước ở cơ thể của thầy tế độ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp (saṅghāti). Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm, đi về trước, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân. Nên dâng nước uống đến thầy tế độ. Nếu thầy có ý muốn đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu thầy có ý muốn vấn đạo thì nên vấn đạo.

Ở trú xá nào thầy tế độ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác và nếu vị ấy có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để ở một góc; nên đem tọa cụ và đồ lót giường ra ngoài rồi để ở một góc; nên đem nệm gối ra ngoài rồi để ở một góc; nên hạ thấp cái giường, đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy hoặc va chạm vào phần dưới của cánh cửa lớn, rồi để ở một góc; nên hạ thấp cái ghế, đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy hoặc va chạm vào phần dưới của cánh cửa lớn, rồi để ở một góc; nên đem khung giường ra ngoài rồi để ở một góc; nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để ở một góc; nên đem tấm ván gối đầu ra ngoài rồi để ở một góc; nên suy xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để ở một góc; nếu có mạng nhện ở trú xá, khi phát hiện trước tiên nên dời chúng đi, nên lau chùi ở các chỗ ráp nối và các góc có lỗ trống. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được phủ sơn, nên rải nước rồi quét: "Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm." Sau khi đã gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.

Nên phơi nắng tấm trải nền ở một góc, làm sạch sẽ, đập vỗ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng khung giường ở một góc, lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Nên phơi nắng giường, làm sạch sẽ, đập vỗ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy hoặc va chạm vào phần dưới của cánh cửa lớn, và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng ghế, làm sạch sẽ, đập vỗ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy hoặc va chạm vào phần dưới của cánh cửa lớn, và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng nệm gối, làm sạch sẽ, đập vỗ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng tọa cụ và đồ trải giường ở một bên góc, làm sạch sẽ, đập vỗ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng ống nhổ ở một bên góc, lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Nên phơi nắng tấm ván gối đầu ở một bên góc, lau chùi, rồi đem vào trong để lại ở vị trí như cũ. Nên đặt y và bình bát xuống. Khi đặt y và bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không có vật kê. Khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, rồi nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này rồi căng y ra.

Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

Nếu phòng có rác rưởi, nên quét phòng. Nếu cửa lớn có rác rưởi, nên quét cửa lớn. Nếu cổng có bụi bặm, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rưởi, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rưởi, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rưởi, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

Nếu sự không hoan hỷ sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho dịu đi hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu mối nghi ngờ sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho tan biến hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên phân giải hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu thầy tế độ bị phạm tội nặng, xứng đáng hành phạt parivāsa, người đệ tử nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng ban hành phạt parivāsa cho thầy tế độ?" Nếu thầy tế độ xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, người đệ tử nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng cho thầy tế độ (thực hành) trở lại từ đầu?" Nếu thầy tế độ xứng đáng hành phạt mānatta, người đệ tử nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng ban hành phạt mānatta cho thầy tế độ?" Nếu thầy tế độ xứng đáng sự giải tội, người đệ tử nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng giải tội cho thầy tế độ?" Nếu hội chúng có ý muốn thực thi một hành sự đối với thầy tế độ như là: khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, hoặc án treo, người đệ tử nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng không tiến hành hành sự đối với thầy tế độ, hoặc đổi sang một (hành phạt) nhẹ hơn?" Khi hội chúng đã thực thi hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, hoặc án treo đối với vị thầy tế độ, người đệ tử nên nỗ lực: "Làm thế nào để thầy tế độ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?"

Nếu y của thầy tế độ cần phải giặt, người đệ tử nên giặt hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để y của thầy tế độ có thể được giặt đây?" Nếu y của thầy tế độ cần phải may, người đệ tử nên may hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để y của thầy tế độ có thể được may đây?" Nếu thầy tế độ cần nấu thuốc nhuộm, người đệ tử nên nấu hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ có thể được nấu đây?" Nếu y của thầy tế độ cần được nhuộm, người đệ tử nên nhuộm hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để y của thầy tế độ có thể được nhuộm đây?" Với vị khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Khi nước nhỏ giọt chưa ngừng thì không nên bỏ đi.

Không có phép của thầy tế độ, không nên cho bình bát đến người khác. Không nên thọ lãnh bình bát của người khác. Không nên cho y đến người khác. Không nên thọ lãnh y của người khác. Không nên cho vật dụng đến người khác. Không nên thọ lãnh vật dụng của người khác. Không nên cạo tóc cho người khác. Không nên bảo người khác cạo tóc. Không nên kỳ cọ người khác. Không nên bảo người khác kỳ cọ. Không nên hầu hạ người khác. Không nên bảo người khác hầu hạ. Không nên làm thị giả người khác. Không nên nhận người khác làm thị giả. Không nên mang đồ ăn khất thực của người khác về giùm. Không nên nhờ người khác mang đồ ăn khất thực về giùm. Chưa xin phép thầy tế độ không nên đi vào làng. Không nên đi đến mộ địa. Không bỏ đi hướng khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời hoặc chờ đến khi vị thầy khỏe lại.

Dứt Phận Sự đối với Thầy Tế Độ.

[82] Này các Tỷ kheo, vị thầy tế độ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người đệ tử. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này:

Này các Tỷ kheo, đối với đệ tử, thầy tế độ nên quan tâm, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự hỏi han, bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy. Nếu thầy tế độ có bình bát và người đệ tử không có bình bát, thầy tế độ nên cho bình bát đến đệ tử, hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để bình bát có thể phát sanh đến đệ tử?" Nếu thầy tế độ có y và người đệ tử không có y, thầy tế độ nên cho y đến đệ tử, hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để y có thể phát sanh đến đệ tử?" Nếu thầy tế độ có vật dụng và người đệ tử không có vật dụng, thầy tế độ nên cho vật dụng đến đệ tử, hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến đệ tử?"

Nếu người đệ tử bị bệnh, (vị thầy tế độ) nên thức dậy vào lúc sáng sớm và nên đưa cho gỗ chà răng. Nên đưa nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi nên đem cháo lại. Khi người đệ tử đã uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách khéo léo, không gây tiếng động, rồi đem cất. Khi người đệ tử đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác thì nên quét khu vực ấy.

Nếu người người đệ tử có ý muốn đi vào làng, nên đưa y lót trong, và nhận lại y lót trong (khác từ người người đệ tử). Nên đưa dây thắt lưng. Nên gấp y hai lớp (saṅghāti) gọn gàng rồi đưa cho. Sau khi rửa sạch, nên đưa cho bình bát còn đẫm nước (patto saudako). (Nghĩ rằng): "Đến lúc vị ấy sắp trở về," nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ lau chân. Nên đi ra nhận y và bình bát. Nên đưa cho y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng một chốc lát. Và không nên phơi y quá lâu ở chỗ nắng. Nên gấp y lại. Khi gấp y lại nên vuốt thẳng chéo y ở bốn góc rồi hãy gấp y lại: "Không nên tạo nếp nhăn ở phía trong." Nên đặt dây thắt lưng ở phía trong rồi gấp lại.

Nếu có đồ ăn khất thực và người người đệ tử có ý muốn ăn thì nên đem nước (rửa) lại, và nên đem đồ ăn khất thực để gần bên. Nên đưa cho người đệ tử nước uống. Khi người người đệ tử ăn xong nên đưa nước (rửa). Nhận lại bình bát, đem để ở chỗ thấp, rửa một cách khéo léo không gây tiếng động, nên làm ráo nước rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Không nên phơi bát quá lâu ở chỗ nắng. Nên đem cất y và bình bát. Khi đem cất y và bình bát, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi hãy đặt bình bát xuống. Và không nên đặt bình bát trên mặt đất không có vật kê. Khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, rồi nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này rồi căng y ra. Khi người người đệ tử đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân. Nếu khu vực ấy có rác thì nên quét khu vực ấy.

Nếu người người đệ tử có ý muốn tắm, nên sắp xếp việc tắm. Nếu (người đệ tử) thích nước lạnh thì chuẩn bị nước lạnh. Nếu thích nước nóng thì chuẩn bị nước nóng. Nếu người người đệ tử có ý muốn đi vào nhà tắm, nên trộn bột tắm. Nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm, đi đến, đưa cho ghế ngồi của nhà tắm, nhận lấy y, rồi nên đem để ở một bên. Nên đưa bột tắm. Nên đưa đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm. Không nên chiếm chỗ của các Tỷ kheo trưởng lão rồi ngồi xuống. Không nên giành chỗ ngồi của các Tỷ kheo mới tu. Ở trong nhà tắm nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi rời khỏi nhà tắm, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm, sau khi che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm. Ngay khi còn ở trong nước nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của mình, sau khi mặc y, nên lau khô nước ở cơ thể của đệ tử. Nên đưa y lót trong. Nên đưa y hai lớp (saṅghāti). Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, giẻ chùi chân. Nên đem nước uống đến cho đệ tử.

Ở trú xá nào người đệ tử cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác và nếu vị ấy có nỗ lực thì nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để ở một góc; nên đem tọa cụ và đồ lót giường ra ngoài rồi để ở một góc; nên đem nệm gối ra ngoài rồi để ở một góc; nên hạ thấp cái giường, đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy hoặc va chạm vào phần dưới của cánh cửa lớn, rồi để ở một góc; nên hạ thấp cái ghế, đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy hoặc va chạm vào phần dưới của cánh cửa lớn, rồi để ở một góc; nên đem khung giường ra ngoài rồi để ở một góc; nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để ở một góc; nên đem tấm ván gối đầu ra ngoài rồi để ở một góc; nên suy xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để ở một góc; nếu có mạng nhện ở trú xá, khi phát hiện trước tiên nên dời chúng đi, nên lau chùi ở các chỗ ráp nối và các góc có lỗ trống. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được phủ sơn, nên rải nước rồi quét: "Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm." Sau khi đã gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.

Nên phơi nắng tấm trải nền ở một góc, làm sạch sẽ, đập vỗ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng khung giường ở một góc, lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Nên phơi nắng giường, làm sạch sẽ, đập vỗ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy hoặc va chạm vào phần dưới của cánh cửa lớn, và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng ghế, làm sạch sẽ, đập vỗ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy hoặc va chạm vào phần dưới của cánh cửa lớn, và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng nệm gối, làm sạch sẽ, đập vỗ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng tọa cụ và đồ trải giường ở một bên góc, làm sạch sẽ, đập vỗ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đã được sắp đặt (trước đây). Nên phơi nắng ống nhổ ở một bên góc, lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Nên phơi nắng tấm ván gối đầu ở một bên góc, lau chùi, rồi đem vào trong để lại ở vị trí như cũ. Nên đặt y và bình bát xuống. Khi đặt y và bình bát xuống, nên dùng một tay ôm bình bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt bình bát xuống. Không nên đặt bình bát trên mặt đất không có vật kê. Khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, rồi nên để mép y phía bên kia, còn chỗ gấp y lại ở bên này rồi căng y ra.

Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

Nếu phòng có rác rưởi, nên quét phòng. Nếu cửa lớn có rác rưởi, nên quét cửa lớn. Nếu cổng có bụi bặm, nên quét cổng. Nếu phòng hội họp có rác rưởi, nên quét phòng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rưởi, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rưởi, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

Nếu có sự không hoan hỷ sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho dịu đi hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu mối nghi ngờ sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho tan biến hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên phân giải hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu người đệ tử bị phạm tội nặng, xứng đáng hành phạt parivāsa, vị thầy tế độ nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng ban hành phạt parivāsa cho đệ tử?" Nếu người đệ tử xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị thầy tế độ nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng cho đệ tử (thực hành) trở lại từ đầu?" Nếu người đệ tử xứng đáng hành phạt mānatta, vị thầy tế độ nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng ban hành phạt mānatta cho đệ tử?" Nếu người đệ tử xứng đáng sự giải tội, vị thầy tế độ nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng giải tội cho đệ tử?" Nếu hội chúng có ý muốn thực thi một hành sự đối với người đệ tử như là: khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, hoặc án treo, vị thầy tế độ nên nỗ lực: "Làm thế nào để hội chúng không tiến hành hành sự đối với đệ tử, hoặc đổi sang một (hành phạt) nhẹ hơn?" Khi hội chúng đã thực thi hành sự khiển trách, chỉ dạy, xua đuổi, hòa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên nỗ lực: "Làm thế nào để đệ tử có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?"

Nếu y của người đệ tử cần phải giặt, vị thầy tế độ nên hướng dẫn: "Ngươi nên giặt như vầy," hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để y của đệ tử có thể được giặt đây?" Nếu y của người đệ tử cần phải may, vị thầy tế độ nên hướng dẫn: "Ngươi nên may như vầy," hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để y của đệ tử có thể được may đây?" Nếu người đệ tử cần nấu thuốc nhuộm, vị thầy tế độ nên hướng dẫn: "Ngươi nên nấu như vầy," hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử có thể được nấu đây?" Nếu y của người đệ tử cần phải nhuộm, vị thầy tế độ nên hướng dẫn: "Ngươi nên nhuộm như vầy," hoặc nên nỗ lực: "Làm thế nào để y của đệ tử có thể được nhuộm đây?" Với vị khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo, khi nước nhỏ giọt chưa ngừng, thì không nên bỏ đi. Nếu người đệ tử bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời hoặc chờ đến khi người đệ tử khỏe lại.

Dứt Phận Sự đối với Đệ Tử.

[83] Vào lúc bấy giờ, các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Các vị Tỷ kheo ít ham muốn, ...(như trên)...; các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?

Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, nghe nói các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ, có đúng không vậy?

- Đúng vậy, bạch Thế Tôn.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này các Tỷ kheo, vì sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại và bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, người đệ tử cần thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Vị nào không thực hành đúng đắn thì phạm tội tác ác (dukkata).

(Các người đệ tử) cũng không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép đuổi đi người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn. Và này các Tỷ kheo, nên đuổi đi như vầy: (nói rằng): "Ta đuổi ngươi đi," hay là "Đừng có quay trở lại đây," hay là "Hãy đem đi y bát của ngươi," hay là "Ta không giúp đở ngươi nữa." (Nếu) vị (thầy tế độ) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người đệ tử đã bị đuổi đi. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, thì người đệ tử không bị đuổi đi

Vào lúc bấy giờ, những người đệ tử bị đuổi đi đã không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép xin lỗi.

Các người (đệ tử) cũng không xin lỗi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, người (đệ tử) bị đuổi đi không nên không xin lỗi. Vị nào không xin lỗi thì phạm tội tác ác (dukkata).

Vào lúc bấy giờ, trong khi được xin lỗi các vị thầy tế độ không tha thứ. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép tha thứ.

Các vị (thầy tế độ) cũng không tha thứ. Những người đệ tử đã bỏ đi, (hoặc) hoàn tục, (hoặc) theo ngoại đạo. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, trong khi được xin lỗi không nên không tha thứ. Vị nào không tha thứ thì phạm tội tác ác (dukkata).

[84] Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế độ đuổi đi những người (đệ tử) thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên đuổi đi người (đệ tử) thực hành phận sự đúng đắn. Vị nào đuổi đi thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các Tỷ kheo, không nên không đuổi đi người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn. Vị nào không đuổi đi thì phạm tội tác ác (dukkata).

Này các Tỷ kheo, nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này: đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều hổ thẹn (về tội lỗi), không có nhiều sự kính trọng, không có nhiều sự thực hành. Này các Tỷ kheo, nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này.

Này các Tỷ kheo, không nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này: đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều hổ thẹn (về tội lỗi), có nhiều sự kính trọng, có nhiều sự thực hành. Này các Tỷ kheo, không nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này.

Này các Tỷ kheo, có thể đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này: đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều hổ thẹn (về tội lỗi), không có nhiều sự kính trọng, không có nhiều sự thực hành. Này các Tỷ kheo, có thể đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này.

Này các Tỷ kheo, không thể đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này: đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều hổ thẹn (về tội lỗi), có nhiều sự kính trọng, có nhiều sự thực hành. Này các Tỷ kheo, không thể đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này.

Này các Tỷ kheo, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này: đối với thầy tế độ không có nhiều lòng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều hổ thẹn (về tội lỗi), không có nhiều sự kính trọng, không có nhiều sự thực hành. Này các Tỷ kheo, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này.

Này các Tỷ kheo, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này: đối với thầy tế độ có nhiều lòng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều hổ thẹn (về tội lỗi), có nhiều sự kính trọng, có nhiều sự thực hành. Này các Tỷ kheo, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử hội đủ năm điều kiện này.

[85] Vào lúc bấy giờ, có một người Bà La Môn nọ đã đi đến gặp các Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các Tỷ kheo đã không chịu cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia nơi các Tỷ kheo nên đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người Bà La Môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân; sau khi nhìn thấy đã bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, việc gì khiến người Bà La Môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân vậy?

- Bạch ngài, người Bà La Môn ấy đã đi đến gặp các Tỷ kheo và cầu xin sự xuất gia. Các Tỷ kheo đã không chịu cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia nơi các Tỷ kheo nên đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, có vị nào nhớ được điều tốt đẹp của người Bà La Môn ấy?

Được nói như vậy, Đại đức Sārīputta đã bạch với đức Thế Tôn rằng:

- Bạch ngài, con nhớ được điều tốt đẹp của người Bà La Môn ấy.

- Này Sārīputta, ngươi nhớ được điều tốt đẹp gì của người Bà La Môn ấy?

- Bạch ngài, trường hợp này là trong khi con đi khất thực ở trong thành Rājagaha, người Bà La Môn ấy đã sai người cho một muỗng vật thực. Bạch ngài, đó là điều tốt đẹp của người Bà La Môn ấy mà con nhớ được.

- Này Sārīputta, tốt lắm, tốt lắm! Này Sārīputta, bởi vì những người tốt là những người biết ơn và nhớ ơn đã thọ. Này Sārīputta, như thế thì ngươi hãy cho người Bà La Môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên.

- Bạch ngài, con cho người Bà La Môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên như thế nào?

Rồi đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, việc tu lên bậc trên bằng Tam Quy ấy đã được ta cho phép, kể từ nay ta hủy bỏ việc ấy. Này các Tỷ kheo, ta cho phép tu lên bậc trên bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư. Và này các Tỷ kheo, nên cho tu lên bậc trên như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

"Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Vị tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy."

[86] Vào lúc bấy giờ, có một Tỷ kheo nọ vừa mới được tu lên bậc trên thể hiện hạnh kiểm xấu. Các vị Tỷ kheo đã nói như vầy:

- Này Đại đức, chớ có hành động như thế, điều ấy không được phép.

Vị ấy nói như vầy:

- Tôi đâu có cầu xin các Đại đức rằng: "Các Đại đức hãy cho tôi tu lên bậc trên." Tại sao các ngài khi chưa được tôi cầu xin mà đã cho tu lên bậc trên?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này các Tỷ kheo, không nên cho tu lên bậc trên người không cầu xin. Vị nào cho tu lên bậc trên thì phạm tội tác ác (dukkata). Này các Tỷ kheo, ta cho phép cho tu lên bậc trên đối với người đã cầu xin. Và này các Tỷ kheo, nên được cầu xin như vầy: Vị có ý muốn tu lên bậc trên ấy nên đi đến hội chúng Tỷ kheo, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các vị Tỷ kheo, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên bạch với hội chúng như vầy:

- Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, vì lòng thương xót xin hội chúng hãy tế độ tôi.

Nên được cầu xin lần thứ nhì. Nên được cầu xin lần thứ ba.

Hội chúng cần được thông báo bởi vị Tỷ kheo có kinh nghiệm, đủ năng lực:

"Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy). Vị tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ý muốn tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy). Vị tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Đại đức nào đồng ý sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ xin im lặng; vị nào không đồng ý, có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: ...(như trên)...

Vị tên (như vầy) đã được hội chúng cho tu lên bậc trên với Đại đức tên (như vầy) là thầy tế độ. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy."

[87] Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Rājagaha các bữa ăn hảo hạng đã được trở thành các bữa ăn thường kỳ. Khi ấy, có một Bà La Môn nọ đã khởi ý rằng: "Những Sa môn Thích Tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm dài trên những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa môn Thích Tử này?" Sau đó, người Bà La Môn ấy đã đi đến gặp các Tỷ kheo cầu xin sự xuất gia. Các Tỷ kheo đã cho người ấy xuất gia và tu lên bậc trên. Khi người ấy đã được xuất gia thì các bữa ăn thường kỳ bị ngưng lại. Các vị Tỷ kheo đã nói như vầy:

- Này Đại đức, hãy đến. Hôm nay chúng ta sẽ đi khất thực.

Vị ấy nói như vầy:

- Này các Đại đức, tôi đã không xuất gia vì nguyên nhân này: "Ta sẽ đi khất thực." Nếu các vị cho tôi thì tôi sẽ ăn, nếu các vị không cho tôi thì tôi sẽ hoàn tục.

- Này Đại đức, có phải ngài đã xuất gia vì nguyên nhân của bao tử?

- Này các Đại đức, đúng vậy.

Các vị Tỷ kheo ít ham muốn, ...(như trên)...; các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Vì sao vị Tỷ kheo lại xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy vì nguyên nhân của bao tử?

Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

- Này Tỷ kheo, nghe nói ngươi đã xuất gia vì nguyên nhân của bao tử, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

- Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy vì nguyên nhân của bao tử? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. ...(như trên)...

Sau khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại và bảo các Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên giải thích về bốn vật nương nhờ:

"Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy ngươi nên nỗ lực thực hiện cho đến hết đời; điều phụ trội được phép là bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu tháng.

Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ; trong trường hợp ấy ngươi nên nỗ lực thực hiện cho đến hết đời; điều phụ trội được phép là (y làm bằng) sợi lanh (khomam), bông vải (kappāsikam), tơ lụa (koseyyam), sợi len (kambalam), gai thô (sānam), chỉ bố (bhaṅgam).

Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây; trong trường hợp ấy ngươi nên nỗ lực thực hiện cho đến hết đời; điều phụ trội được phép là trú xá (vihāram), nhà một mái (addhayogam), tòa nhà dài (pāsādam), khu nhà lớn (hammiyam), hang động (guham).

Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc, trong trường hợp ấy ngươi nên nỗ lực thực hiện cho đến hết đời; điều phụ trội được phép là bơ lỏng (sappi), bơ đặc (navanītam), dầu ăn (telam), mật (madhu), đường mía (phānitam)."

Dứt Tụng Phẩm , thứ năm, "Phận Sự đối với Thầy Tế Độ."



[1] Saddhivihārika: vị sống chung trú xá

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]