|
Tạng Luật Đại Phẩm Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch Tụng Phẩm thứ tư [56] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đã ra đi du hành đến thành Vương Xá (Rājagaha) cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn vị Tỷ kheo, tất cả đều là đạo sĩ bện tóc trước đây. Trong khi tuần tự du hành, ngài đã ngự đến thành Vương Xá (Rājagaha). Tại nơi đó, ở thành Vương Xá (Rājagaha), đức Thế Tôn ngự ở khu rừng Lat,t,hi, nơi điện thờ Suppatit,t,ha. [57] Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã nghe được rằng: "Chắc chắn là ngài Gotama, con trai dòng Thích Ca (Sākya), từ dòng dõi Sākya đã xuất gia, đã ngự đến thành Rājagaha và trú ở khu rừng Lat,t,hi, nơi điện thờ Suppatit,t,ha. Tiếng đồn tốt đẹp về ngài Gotama ấy đã được lan rộng ra như vầy: ‘Đức Thế Tôn ấy là bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Tối Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Vị ấy sau khi tự mình chứng ngộ thắng trí đã thấu suốt thế gian này tính luôn cõi chư thiên, cõi ma vương, cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi Sa môn, Bà La Môn, các hạng chư thiên và loài người. Vị ấy thuyết giảng Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, có ý nghĩa, có văn tự, công bố một cách hoàn toàn đầy đủ về Phạm hạnh trong sạch. Tốt thay cho việc diện kiến vị A La Hán như thế ấy!" Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha được tháp tùng với một trăm hai mươi ngàn[1] Bà La Môn và gia chủ người xứ Magadha đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn một trăm hai mươi ngàn Bà La Môn và gia chủ người xứ Magadha ấy, một số đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, một số đã tỏ vẻ thân thiện với đức Thế Tôn, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi ngồi xuống một bên, một số đã chắp tay cúi chào đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, một số đã xưng tên họ trước đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, một số có thái độ im lặng rồi ngồi xuống một bên. Khi ấy, một trăm hai mươi ngàn Bà La Môn và gia chủ người xứ Magadha ấy đã khởi ý điều này: "Vị đại Sa môn thực hành Phạm hạnh theo Uruvelakassapa hay là Uruvelakassapa thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa môn?" Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của một trăm hai mươi ngàn Bà La Môn và gia chủ người xứ Magadha ấy nên đã nói với Đại đức Uruvelakassapa bằng bài kệ này: -
Sau khi đã thấy gì Đức Thế Tôn nói rằng:
- Ở đây Kassapa, [58] Rồi Đại đức Uruvelakassapa đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử. Bạch ngài, đức Thế Tôn là bậc đạo sư của con, con là người đệ tử. Khi ấy, một trăm hai mươi ngàn Bà La Môn và gia chủ người xứ Magadha ấy đã khởi ý điều này: "Uruvelakassapa thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa môn." Rồi đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của một trăm hai mươi ngàn Bà La Môn và gia chủ người xứ Magadha ấy nên đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, và đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của những người ấy đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến một trăm hai mươi ngàn Bà La Môn và gia chủ người xứ Magadha ấy có đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đứng đầu: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt." Mười ngàn (ekanahutam) người đã tuyên bố bản thân là cư sĩ. [59] Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hòai nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử, con đã có năm điều ước nguyện; giờ đây con đã được toại nguyện các điều ấy. Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử, con đã khởi ý rằng: "Ước gì người ta tấn phong ta làm vua!" Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ nhất của con, giờ đây con đã được toại nguyện điều ấy. "Ước gì bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác đi vào vương quốc của ta!" Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ nhì của con, giờ đây con đã được toại nguyện điều ấy. "Ước gì ta được tỏ lòng tôn kính đến đức Thế Tôn ấy!" Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ ba của con, giờ đây con đã được toại nguyện điều ấy. "Ước gì đức Thế Tôn ấy thuyết giảng Giáo Pháp cho ta!" Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ tư của con, giờ đây con đã được toại nguyện điều ấy. "Ước gì ta có thể hiểu được Giáo Pháp của đức Thế Tôn ấy!" Bạch ngài, đó là điều ước nguyện thứ năm của con, giờ đây con đã được toại nguyện điều ấy. Bạch ngài, trước đây khi còn là hoàng tử, con đã có năm điều ước nguyện này; giờ đây con đã được toại nguyện các điều ấy. Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, thắp sáng cây đèn dầu ở trong bóng tối (nghĩ rằng): "Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;" cũng như thế ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa thọ trai ngày mai cùng với hội chúng Tỷ kheo. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. [60] Rồi khi trải qua đêm ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha sau khi cho người chuẩn bị thức ăn thượng hạng cứng mềm đã sai người thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn: - Bạch ngài, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Khi ấy, đức Thế Tôn vào buổi sáng đã mặc y, cầm y bát, đi vào thành Rājagaha cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn vị Tỷ kheo, tất cả đều là đạo sĩ bện tóc trước đây [61] Vào lúc bấy giờ, chúa của chư thiên Sakka đã biến thành hình dáng của một thanh niên đi xa phía trước hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu ngâm nga những lời kệ này:
Vị đã tự điều phục [62] Dân chúng khi nhìn thấy chúa của chư Thiên Sakka đã nói như vầy: - Chàng thanh niên trẻ này thật đẹp trai! Chàng thanh niên trẻ này thật duyên dáng! Chàng thanh niên trẻ này thật dễ mến! Chàng thanh niên trẻ này là thị giả của ai vậy? Được nói như thế, chúa của chư thiên Sakka đã nói với đám người ấy bài kệ này:
Vị nào bậc trí tuệ [63] Rồi đức Thế Tôn đã đi đến tư dinh của đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng Tỷ kheo. Sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm, đến khi đức Thế Tôn đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã đi đến ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã khởi ý điều này: "Đức Thế Tôn nên ngụ ở nơi nào đây? Đối với ngài, chỗ ấy không nên xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít tiếng động, không nhiều gió, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh." Rồi đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã khởi ý điều này: "Khu vườn Trúc Lâm (Veḷuvana) này của chúng ta là không xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít tiếng động, không nhiều gió, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh, hay là ta nên dâng khu vườn Veḷuvana đến hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu?" Sau đó, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã cầm lấy bình nước làm bằng vàng rưới nước lên tay đức Thế Tôn (bạch rằng): - Bạch ngài, con đây dâng khu vườn Veḷuvana đến hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu. Xin đức Thế Tôn thọ lãnh khu vườn. Rồi đức Thế Tôn, sau khi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, ta cho phép khu vườn (ārāma). [64] Vào lúc bấy giờ, vị du sĩ Sañjaya cư trú tại thành Rājagaha cùng với một tập thể du sĩ đông đảo gồm có hai trăm năm chục vị du sĩ. Vào lúc bấy giờ, Sārīputta và Moggallāna đang thực hành Phạm hạnh theo du sĩ Sañjaya. Họ đã giao ước với nhau rằng: "Người nào chứng đạt sự bất tử trước phải thông báo cho vị kia hay." Vào lúc bấy giờ, Đại đức Assaji vào buổi sáng đã mặc y cầm y bát đi vào thành Rājagaha để khất thực. Vị ấy có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duổi. Du sĩ Sārīputta đã nhìn thấy Đại đức Assaji đang đi khất thực trong thành Rājagaha có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duổi, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: "Đây chính là vị Tỷ kheo trong số các vị thật sự là A La Hán trên thế gian hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A La Hán. Hay là ta nên đến gần vị Tỷ kheo này và hỏi rằng: "Bạch Đại đức, Đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào?" hoặc là "Ai là thầy của Đại đức? hoặc là "Đại đức giảng giải pháp của vị nào?" Khi ấy, du sĩ Sārīputta đã khởi ý rằng: "Không phải lúc để hỏi vị Tỷ kheo này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực, hay là ta nên đi sát theo sau vị Tỷ kheo này là vị có đạo lộ đang được tầm cầu bởi những kẻ mong mỏi sự lợi ích?" Sau khi đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong, Đại đức Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Khi ấy, du sĩ Sārīputta đã đi đến gần Đại đức Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với Đại đức Assaji và đã trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên, du sĩ Sārīputta đã nói với Đại đức Assaji điều này: - Bạch Đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Bạch Đại đức, Đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của Đại đức? Đại đức giảng giải pháp của vị nào? - Này đạo hữu, có một vị đại Sa môn con trai dòng Sākya, từ dòng họ Sākya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy, đức Thế Tôn ấy là thầy của ta, và ta giảng giải Pháp của đức Thế Tôn ấy. - Vị thầy của Đại đức thuyết về điều gì? Giảng về điều gì? - Này đạo hữu, ta là vị tân thọ, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết; tuy nhiên ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt. Khi ấy, du sĩ Sārīputta đã nói với Đại đức Assaji điều này: -
Bạch Đại đức, hãy vậy [65] Rồi Đại đức Assaji đã nói với du sĩ Sārīputta lời dạy này thuộc về Giáo Pháp:
Pháp sanh lên do nhân [66] Rồi khi đã nghe được lời dạy này thuộc về Giáo Pháp thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Sārīputta: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt."
Với Pháp bấy nhiêu thôi [67] Sau đó, du sĩ Sārīputta đã đi đến gặp du sĩ Moggallāna. Du sĩ Moggallāna đã nhìn thấy du sĩ Sārīputta đang từ đàng xa đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với du sĩ Sārīputta điều này: - Này bạn, các giác quan của bạn thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Có đúng là bạn đã chứng đạt sự bất tử không? - Này bạn, đúng vậy. Tôi đã chứng đạt sự bất tử. - Này bạn, bạn đã chứng đạt sự bất tử bằng cách như thế nào? - Này bạn, ở đây tôi đã nhìn thấy vị Tỷ kheo Assaji đang đi khất thực trong thành Rājagaha có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duổi, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: "Đây chính là vị Tỷ kheo trong số các vị thật sự là A La Hán trên thế gian hoặc là đã đạt được con đường đưa đến quả vị A La Hán. Hay là ta nên đến gần vị Tỷ kheo này và hỏi rằng: "Bạch Đại đức, Đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào?" hoặc là "Ai là thầy của Đại đức? hoặc là "Đại đức giảng giải pháp của vị nào?" Này bạn, khi ấy, tôi đây đã khởi ý rằng: "Không phải lúc để hỏi vị Tỷ kheo này, vị ấy đã đi vào xóm nhà và đang đi khất thực, hay là ta nên đi sát theo sau vị Tỷ kheo này là vị có đạo lộ đang được tầm cầu bởi những kẻ mong mỏi sự lợi ích?" Này bạn, sau khi đi khất thực ở trong thành Rājagaha xong, vị Tỷ kheo Assaji đã cầm lấy đồ ăn khất thực đi trở về. Này bạn, khi ấy tôi đã đi đến gần vị Tỷ kheo Assaji, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với vị Tỷ kheo Assaji và đã trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đứng ở một bên. Này bạn, khi đã đứng ở một bên, tôi đã nói với vị Tỷ kheo Assaji điều này: "Bạch Đại đức, các giác quan của ngài thật thanh tịnh, màu sắc cơ thể thật trong sáng và thuần khiết. Bạch Đại đức, Đại đức đã được xuất gia có liên quan đến vị nào? Ai là thầy của Đại đức? Đại đức giảng giải pháp của vị nào?" "Này đạo hữu, có một vị đại Sa môn con trai dòng Sākya, từ dòng họ Sākya đã xuất gia. Ta đã được xuất gia có liên quan đến đức Thế Tôn ấy, đức Thế Tôn ấy là thầy của ta, và ta giảng giải Pháp của đức Thế Tôn ấy." "Vị thầy của Đại đức thuyết về điều gì? Giảng về điều gì?" "Này đạo hữu, ta là vị tân thọ, xuất gia chưa bao lâu, vừa mới đến với Pháp và Luật này, ta không thể thuyết giảng Giáo Pháp một cách chi tiết; tuy nhiên ta sẽ nói cho đạo hữu ý nghĩa một cách tóm tắt." Này bạn, khi ấy, tôi đã nói với Đại đức Assaji điều này: -
Bạch Đại đức, hãy vậy [68] Này bạn, rồi vị Tỷ kheo Assaji đã nói với tôi lời dạy này thuộc về Giáo Pháp:
Pháp sanh lên do nhân [69] Rồi khi đã nghe được lời dạy này thuộc về Giáo Pháp thì Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến du sĩ Moggallāna: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt."
Với Pháp bấy nhiêu thôi [70] Sau đó, du sĩ Moggallāna đã nói với du sĩ Sārīputta điều này: - Này bạn, chúng ta hãy đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng ta. - Này bạn, hai trăm năm mươi du sĩ này sống ở đây đang nương tựa vào chúng ta và biết rõ chúng ta, chúng ta hãy thông báo đến các vị ấy và các vị ấy sẽ làm theo như điều các vị suy nghĩ. Sau đó, Sārīputta và Moggallāna đã đi đến gặp các vị du sĩ ấy, sau khi đến đã nói với các vị du sĩ ấy điều này: - Này các đạo hữu, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi. - Này các Đại đức, chúng tôi sống ở đây nương tựa vào các dại đức và biết rõ các Đại đức, nếu các Đại đức thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa môn thì tất cả chúng ta sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa môn. Sau đó, Sārīputta và Moggallāna đã đi đến gặp du sĩ Sañjaya, sau khi đến đã nói với du sĩ Sañjaya điều này: - Này Đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi. - Này các Đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này. Đến lần thứ nhì, ...(như trên)... Đến lần thứ ba, Sārīputta và Moggallāna đã đi đến gặp du sĩ Sañjaya, sau khi đến đã nói với du sĩ Sañjaya điều này: - Này Đại đức, chúng tôi đi đến với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấy là bậc Đạo Sư của chúng tôi. - Này các Đại đức, thôi đủ rồi. Chớ có đi. Tất cả ba chúng ta sẽ quản trị nhóm người này. Sau đó, Sārīputta và Moggallāna đã đưa hai trăm năm mươi du sĩ ấy đi đến Veḷuvana. Còn ngay tại chỗ ấy, máu nóng đã ứa ra từ miệng của du sĩ Sañjaya. [71] Rồi đức Thế Tôn đã nhìn thấy Sārīputta và Moggallāna đang từ đàng xa đi lại, sau khi nhìn thấy đã bảo các vị Tỷ kheo rằng: - Này các Tỷ kheo, hai người bạn là Kolita và Upatissa này đang đi đến. Hai người này sẽ trở thành một cặp đệ tử của ta và là một cặp (đệ tử) xuất sắc, đứng đầu.
Họ đã được giải thoát, [72] Sau đó, Sārīputta và Moggallāna đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu đảnh lễ ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và đã bạch với đức Thế Tôn điều này: - Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không? - Này các Tỷ kheo, hãy đến. Đức Thế Tôn đã nói rằng: - Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau. Chính điều ấy là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy. [73] Vào lúc bấy giờ, những người con trai gia đình danh giá ở xứ Magadha là những người có nhiều tiếng tăm đang thực hành Phạm hạnh theo đức Thế Tôn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - Sa môn Gotama đã tạo ra khuynh hướng không con cái, Sa môn Gotama đã gây nên cảnh vợ không chồng, Sa môn Gotama đã gây nên sự đổ vỡ của các gia đình. Hiện nay, một ngàn vị đạo sĩ bện tóc đã xuất gia theo ông ta, hai trăm năm mươi du sĩ này của Sañjaya đã xuất gia (theo ông ta), và những người con trai gia đình danh giá này ở xứ Magadha là những người có nhiều tiếng tăm đang thực hành Phạm hạnh theo Sa môn Gotama. Hơn nữa, khi gặp các vị Tỷ kheo, họ đã quở trách bằng bài kệ này:
Đại Sa môn đã đến [74] Các vị Tỷ kheo đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị Tỷ kheo ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế tôn. - Này các Tỷ kheo, tiếng đồn đãi ấy sẽ không tồn tại lâu, chỉ tồn tại được bảy ngày, khi đã trải qua bảy ngày thì sẽ biến mất. Này các Tỷ kheo, như thế thì những người nào quở trách các ngươi bằng bài kệ này:
Đại Sa môn đã đến [75] Các ngươi hãy quở trách lại họ bằng bài kệ này:
Thật sự các Như Lai Vào lúc bấy giờ, dân chúng khi gặp các vị Tỷ kheo đã quở trách bằng bài kệ này:
Đại Sa môn đã đến Các vị Tỷ kheo đã quở trách lại những người ấy bằng bài kệ này:
Thật sự các Như Lai [76] Dân chúng đã nói như vầy: - Nghe nói các Sa môn Thích Tử dẫn dắt bằng Chánh Pháp không phải bằng Phi Pháp. Tiếng đồn ấy đã tồn tại chỉ có bảy ngày, khi đã trải qua bảy ngày thì biến mất. Dứt Sự Xuất Gia của Sārīputta và Moggallāna. Dứt Tụng Phẩm thứ tư. [1] Dvādasa + nahuta = 12 nahuta. Chúng tôi theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa là: 1 nahuta = 10.000, như vậy 12 nahuta = 120.000. Từ điển "A dictionary of the Pali Language" của Robert Cæsar Childers ghi là: 1 nahuta = 10.000.0004, tức là 28 con số không (0) sau con số một, như thế 12 nahuta là một con số quá lớn, không hợp lý trong trường hợp này. -ooOoo-
Ðầu trang | Mục lục |
01 |
02 |
03 | 04 |
05 |
06 |
07 |
08 |
09 |
10 | |