Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng Phẩm thứ ba

[37] Rồi đức Thế Tôn trong khi tuần tự du hành đã ngự đến Uruvelā. Vào lúc bấy giờ, có ba vị đạo sĩ bện tóc đang cư trú ở Uruvelā là Uruvelakassapa, Nadīkassapa, và Gayākassapa. Trong số các vị ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Nadīkassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của ba trăm đạo sĩ bện tóc. Đạo sĩ bện tóc Gayākassapa là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của hai trăm đạo sĩ bện tóc. Khi ấy, đức Thế Tôn đã đi đến khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.

- Này vị đại Sa môn, không trở ngại cho tôi, tuy nhiên có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để ngài bị nó hại.

Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.

- Này vị đại Sa môn, không trở ngại cho tôi, tuy nhiên có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để ngài bị nó hại.

Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì chúng ta có thể ngụ một đêm trong nhà thờ lửa.

- Này vị đại Sa môn, không trở ngại cho tôi, tuy nhiên có con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp, không thể để ngài bị nó hại.

- Này Kassapa, biết đâu nó có thể không hại tôi. Ngươi hãy cho phép (ta sử dụng) nhà thờ lửa đi.

- Này vị đại Sa môn, vậy thì hãy ngụ theo như ý thích.

Sau đó, đức Thế Tôn đã đi vào nhà thờ lửa, sắp đặt tấm thảm trải bằng cỏ, rồi ngồi xuống, xếp (chân) thế kiết già, giữ thân thẳng, tập trung niệm ở phía trước.

[38] Khi đó, con rồng ấy đã nhìn thấy đức Thế Tôn đi vào, sau khi nhìn thấy đã trở nên không vui, bực bội, rồi đã phun khói. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Nếu vậy thì ta không nên làm thương tổn đến lớp vỏ, làn da, thịt, gân, xương, tủy của con rồng này mà chỉ nên dùng lửa (của ta) làm cho lửa (của nó) bị kiệt quệ thôi." Rồi đức Thế Tôn đã thực hiện phép thần thông có hình thức tương tợ và đã phun khói. Khi ấy, con rồng không còn đè nén được cơn giận nên đã phun ra lửa. Đức Thế Tôn cũng đã nhập thiền đề mục lửa và đã phun ra lửa. Trong khi cả hai bên đều trong trạng thái rực sáng thì nhà thờ lửa cũng chói sáng giống như bị cháy rực sáng chói vậy. Khi ấy, những đạo sĩ bện tóc ấy vây xung quanh nhà thờ lửa nói như vầy:

- Vị đại Sa môn có vóc dáng xinh đẹp thật sự đã bị con rồng hãm hại!

Rồi khi trải qua đêm ấy, đức Thế Tôn đã không làm thương tổn đến lớp vỏ, làn da, thịt, gân, xương, tủy của con rồng này mà đã dùng lửa (của ngài) làm cho lửa (của nó) bị kiệt quệ, rồi bỏ vào trong bình bát, và đưa cho đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa xem:

- Này Kassapa, đây là con rồng của ngươi. Lửa của nó đã bị lửa (của ta) làm cho kiệt quệ.

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy đã dùng lửa (của vị ấy) làm cho lửa của con rồng chúa dữ tợn, có pháp thuật, là con rắn có nọc độc khủng khiếp bị kiệt quệ nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

[39] Ở sông Ni Liên Thiền (Nerañjarā), đức Thế Tôn đã nói với đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rằng:

- Này Kassapa, nếu không trở ngại cho ngươi thì ngươi hãy để ta ngụ trong giảng đường thờ lửa đêm trăng này.

- "Này vị đại Sa môn,
tôi chẳng khó khăn gì
giúp ngài được an lạc,
có rồng chúa dữ tợn
là rắn có pháp thuật,
nọc độc thật khủng khiếp
không để nó hại ngài."
-"Biết đâu nó không thể
hãm hại được ta đây.
Hỡi này Kassapa,
thuận cho nhà thờ lửa
."
Được biết "Đã cho phép"
đi vào, không khiếp đảm,
hãi sợ đã không còn.
Thấy ẩn sĩ đi vào,
rắn chúa thành bực bội
đã phun ra đám khói.
Vị chúa của loài người
tâm hòa dịu, thản nhiên,
tại đó, phun khói lại.
Không nén nỗi bực tức
rắn chúa đã phun lửa
như là đám hỏa hoạn.
Vị chúa của loài người
thiện xảo đề mục lửa,
tại đó, phun lửa lại.
Cả hai chìm trong lửa
nhà thờ lửa rực lửa
toàn bộ đều sáng rực
với ánh sáng chói chang.
Các đạo sĩ bện tóc
bàn bạc: "Thật tuấn tú
là vị đại Sa môn
đã bị loài rắn hại!"
Rồi đêm đã qua đi,
lửa rắn chúa chẳng còn,
nhiều ngọn lửa đủ màu
của vị có thần lực
xanh, đỏ, hồng, vàng chói,
màu trong suốt từ thân
vị Aṅgirasa.
Bỏ rắn vào bình bát,
vị ấy đã đưa ra
cho Bà La Môn thấy:
"Hỡi này Bà La Môn,
đây là rắn của ngươi
lửa nó bị kiệt quệ
vì ngọn lửa của ta
."

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa vô cùng hoan hỷ với sự kỳ diệu của thần thông này của đức Thế Tôn nên đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, hãy cư ngụ ngay tại đây, tôi có thức ăn trường kỳ cho ngài.

Điều kỳ diệu thứ nhất.

[40] Sau đó, đức Thế Tôn đã cư ngụ trong một khu rừng rậm nọ không xa khu ẩn cư của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa. Khi ấy, trong lúc đêm khuya, bốn vị Đại Thiên Vương với hào quang rực rỡ, sau khi làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở bốn phương giống như là những khối lửa khổng lồ. Rồi khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa môn, trong lúc đêm khuya những ai có hào quang rực rỡ, sau khi làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở bốn phương giống như là những khối lửa khổng lồ vậy?

- Này Kassapa, những vị ấy là bốn vị Đại Thiên Vương đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì bốn vị Đại Thiên Vương còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ngay ở trong khu rừng rậm ấy.

Điều kỳ diệu thứ nhì.

[41] Sau đó, trong lúc đêm khuya, vị chúa của chư thiên Sakka với hào quang rực rỡ, sau khi làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn cao thượng hơn và thù thắng hơn cả những vẻ hào quang bên ngoài trước đây nữa. Rồi khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa môn, trong lúc đêm khuya ai có hào quang rực rỡ, sau khi làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn cao thượng hơn và thù thắng hơn cả những vẻ hào quang bên ngoài trước đây nữa vậy?

- Này Kassapa, vị ấy là chúa của chư thiên Sakka đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì chúa của chư thiên Sakka còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ngay ở trong khu rừng rậm ấy.

Điều kỳ diệu thứ ba.

[42] Sau đó, trong lúc đêm khuya, vị Phạm thiên Sahampati với hào quang rực rỡ, sau khi làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn cao thượng hơn và thù thắng hơn cả những vẻ hào quang bên ngoài trước đây nữa. Rồi khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa môn, trong lúc đêm khuya ai có hào quang rực rỡ, sau khi làm chói sáng toàn bộ khu rừng rậm đã đi đến gặp ngài, sau khi đến đã đảnh lễ ngài rồi đứng ở một bên giống như là khối lửa khổng lồ còn cao thượng hơn và thù thắng hơn cả những vẻ hào quang bên ngoài trước đây nữa vậy?

- Này Kassapa, vị ấy là Phạm thiên Sahampati đã đi đến gặp ta để nghe Pháp.

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị Phạm thiên Sahampati còn đi đến gặp để nghe Pháp, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ngay ở trong khu rừng rậm ấy.

Điều kỳ diệu thứ tư.

[43] Vào lúc bấy giờ, buổi đại lễ cúng tế của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đến. Toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha có ý muốn tham dự đã đem lại rất nhiều thứ thức ăn cứng mềm. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Lúc này đây là buổi đại lễ cúng tế của ta đã đến, toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha đã đem lại rất nhiều thứ thức ăn cứng mềm và sẽ tham dự, nếu vị đại Sa môn thực hiện sự kỳ diệu của thần thông trước đám đông thì lợi lộc và cung kỉnh sẽ tăng trưởng cho vị đại Sa môn còn lợi lộc và cung kỉnh của ta sẽ bị giảm đi, hay là vị đại Sa môn không nên đi đến vào ngày mai?" Khi ấy, đức Thế Tôn dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa nên đã đi đến xứ Kuru ở phương Bắc, rồi đem đồ ăn khất thực ở nơi ấy đến hồ Anotatta, sau khi thọ thực xong đã trú ngay tại nơi ấy trọn ngày.

Rồi khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa môn, việc gì khiến ngài đã không đi đến ngày hôm qua? Chúng tôi cũng có nhớ đến ngài: "Việc gì khiến vị đại Sa môn không đi đến?" và phần san sẽ về thức ăn đã được để dành cho ngài.

- Này Kassapa, thế không phải ngươi đã khởi ý rằng: "Lúc này đây là buổi đại lễ cúng tế của ta đã đến, toàn bộ dân chúng ở Aṅga và Magadha đã đem lại rất nhiều thứ thức ăn cứng mềm và sẽ tham dự, nếu vị đại Sa môn thực hiện sự kỳ diệu của thần thông trước đám đông thì lợi lộc và cung kỉnh sẽ tăng trưởng cho vị đại Sa môn còn lợi lộc và cung kỉnh của ta sẽ bị giảm đi, vậy thì vị đại Sa môn không nên đi đến vào ngày mai." Này Kassapa, ta đây dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ngươi nên đã đi đến xứ Kuru ở phương Bắc, rồi đem đồ ăn khất thực ở nơi ấy đến hồ Anotatta, sau khi thọ thực xong đã trú ngay tại nơi ấy trọn ngày.

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy còn biết được tâm bằng tâm, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ngay ở trong khu rừng rậm ấy.

Điều kỳ diệu thứ năm.

[44] Vào lúc bấy giờ, có vải pamsukūla [1] đã được phát sanh đến đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Ta có thể giặt vải paṃsukūla ở đâu?" Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã dùng tay đào thành cái hồ nước rồi bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt vải paṃsukūla ở chỗ này.

Rồi đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Ta có thể nhồi vải paṃsukūla bằng cái gì?" Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã mang lại một tảng đá lớn rồi bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhồi vải paṃsukūla ở chỗ này.

Rồi đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Bằng vật gì ta có thể nắm vào và bước lên?" Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã uốn cong một cành cây xuống rồi bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nắm vào đây và bước lên.

Rồi đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Ta có thể phơi khô vải paṃsukūla bằng vật gì?" Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đức Thế Tôn nên đã mang lại một tảng đá lớn rồi bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi khô vải paṃsukūla ở chỗ này.

Rồi khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong. Này vị đại Sa môn, có phải trước kia cái hồ nước này không có ở đây, giờ ở đây lại có cái hồ nước này? Trước đây hòn đá này không được đem lại, do ai mà hòn đá này đã được đem lại? Trước đây cành của cây Kakudha này không bị uốn cong xuống, giờ cành cây này đã bị uốn cong xuống?

- Này Kassapa, trường hợp này là có vải pamsukūla đã được phát sanh đến ta. Rồi ta đã khởi ý rằng: "Ta có thể giặt vải paṃsukūla ở đâu?" Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã dùng tay đào thành cái hồ nước rồi đã bạch với ta điều này: "Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy giặt vải paṃsukūla ở chỗ này." Chính cái hồ này đã được đào bằng tay bởi hạng không phải là người. Rồi ta đã khởi ý rằng: "Ta có thể nhồi vải pamsukūla bằng cái gì?" Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã mang lại một tảng đá lớn: "Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nhồi vải pamsukūla ở chỗ này." Chính hòn đá này đã được đem lại bởi hạng không phải là người. Rồi ta đã khởi ý rằng: "Bằng vật gì ta có thể nắm vào và bước lên?" Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã uốn cong một cành cây xuống: "Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy nắm vào đây và bước lên." Chính cây Kakudha này là vật để tay nắm vào. Rồi ta đã khởi ý rằng: "Ta có thể phơi khô vải paṃsukūla bằng vật gì?" Khi ấy, vị chúa của chư thiên Sakka dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của ta nên đã mang lại một tảng đá lớn: "Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy phơi khô vải paṃsukūla ở chỗ này." Chính hòn đá này đã được đem lại bởi hạng không phải là người.

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị chúa của chư thiên Sakka còn phải phục vụ, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ngay ở trong khu rừng rậm ấy.

[45] Rồi khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.

- Này Kassapa, ngươi hãy đi rồi ta theo sau.

Sau khi đã bảo vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, ngài đã hái một trái cây từ cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa[2] được biết tiếng, rồi đã đi đến nhà thờ lửa trước và ngồi xuống. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn ngồi trong nhà thờ lửa, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã ra đi trước ngài, vậy mà ngài đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa.

- Này Kassapa, trong trường hợp này, sau khi bảo ngươi đi, ta đã hái một trái cây từ cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Này Kassapa, trái cây Jambu này đạt được màu sắc, đạt được hương thơm, đạt được mùi vị, nếu ngươi thích thì hãy ăn đi.

- Này vị đại Sa môn, không được, chính ngài đã mang nó lại thì chính ngài hãy ăn nó.

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì sau khi bảo ta đi, vị ấy đã hái một trái cây từ cây Jambu, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

Sau đó, đức Thế Tôn đã thọ thực bữa ăn của vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa rồi đã cư ngụ ngay ở trong khu rừng rậm ấy.

Rồi khi trải qua đêm ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, đã đến giờ, thức ăn đã chuẩn bị xong.

- Này Kassapa, ngươi hãy đi rồi ta theo sau.

Sau khi đã bảo vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đi, ngài đã hái một trái xoài không xa cây Jambu lắm, do cây Jambu mà Jambudīpa được biết tiếng, ...(như trên)... một trái Āmalakī không xa cây Jambu lắm, ...(như trên)... một trái Harītakī không xa cây Jambu lắm, ...(như trên)... đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn đã ngồi trong nhà thờ lửa, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, ngài đã đi đến bằng con đường nào? Tôi đã ra đi trước ngài vậy mà ngài đã đi đến trước và đã ngồi ở nhà thờ lửa.

- Này Kassapa, trong trường hợp này, sau khi bảo ngươi đi, ta đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa. Này Kassapa, bông hoa của cây san hô này đạt được màu sắc, đạt được hương thơm, nếu ngươi thích thì hãy lấy đi.

Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì sau khi bảo ta đi, vị ấy đã đi đến cõi trời Đạo Lợi hái bông hoa của cây san hô, rồi đã đi đến trước và ngồi ở nhà thờ lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

[46] Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy có ước nguyện chăm sóc các ngọn lửa không thể chẻ nhỏ các thanh củi được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý rằng: "Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa môn nên chúng ta không thể nào chẻ nhỏ các thanh củi được!" Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, hãy làm các thanh củi được chẻ nhỏ.

- Này vị đại Sa môn, hãy làm các thanh củi được chẻ nhỏ.

Ngay lập tức, năm trăm thanh củi đã được chẻ nhỏ. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì các thanh củi đã được chẻ nhỏ, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

[47] Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy có ước nguyện chăm sóc các ngọn lửa không thể đốt lên các ngọn lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý rằng: "Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa môn nên chúng ta không thể nào đốt lên các ngọn lửa được!" Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, hãy làm các ngọn lửa được đốt lên.

- Này vị đại Sa môn, hãy làm các ngọn lửa được đốt lên.

Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được đốt lên. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi các ngọn lửa đã được đốt lên, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

[48] Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy có ước nguyện chăm sóc các ngọn lửa không thể dập tắt các ngọn lửa được. Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý rằng: "Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa môn nên chúng ta không thể nào dập tắt các ngọn lửa được!" Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, hãy làm các ngọn lửa được dập tắt.

- Này vị đại Sa môn, hãy làm các ngọn lửa được dập tắt.

Ngay lập tức, năm trăm ngọn lửa đã được dập tắt. Khi ấy, đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì các ngọn lửa đã được dập tắt, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

[49] Vào lúc bấy giờ, các vị đạo sĩ bện tóc ấy trong khỏang thời gian tám đêm của mùa đông lạnh lẽo, vào những lúc tuyết rơi các vị đạo sĩ bện tóc ấy, trong khi hụp xuống và trồi lên, đã làm những hành động trồi lên hụp xuống trong giòng sông Nerañjarā. Khi ấy, đức Thế Tôn đã làm hiện ra các chảo lửa có số lượng năm trăm ở tại chỗ các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã lội lên và sưởi ấm.

Khi ấy, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã khởi ý rằng: "Chắc chắn là do năng lực thần thông của vị đại Sa môn cho nên các chảo lửa đã được hiện ra."

Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì vị ấy làm hiện ra quá nhiều các chảo lửa, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

[50] Vào lúc bấy giờ, một đám mây đen lớn sái mùa đã đổ mưa tạo thành trận lũ lụt lớn. Đức Thế Tôn cư ngụ trong khu vực nào thì nước không tràn đến khu vực ấy. Rồi đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Hay là ta nên đẩy nước ra xung quanh rồi đi kinh hành ở khỏang giữa trên mặt đất phủ đầy bụi?" Sau đó, đức Thế Tôn đã đẩy nước ra xung quanh rồi đi kinh hành ở khỏang giữa trên đất phủ đầy bụi. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa (nghĩ rằng): "Chỉ mong sao vị đại Sa môn không bị nước cuốn trôi đi!" rồi đã cùng nhiều vị đạo sĩ bện tóc đi thuyền đến khu vực đức Thế Tôn đang cư ngụ. Vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã nhìn thấy đức Thế Tôn sau khi đã đẩy nước ra xung quanh rồi đang đi kinh hành ở khỏang giữa trên mặt đất phủ đầy bụi, sau khi nhìn thấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Này vị đại Sa môn, ngài có ở đây không?

- Này Kassapa, có ta đây.

Rồi đức Thế Tôn đã bay lên không trung và hạ xuống đứng trên chiếc thuyền. Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã khởi ý rằng: "Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực bởi vì nước không cuốn trôi đi, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây."

[51] Rồi đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Đã lâu ngay, gã khờ dại này chỉ khởi ý rằng:Vị đại Sa môn có đại thần lực, có đại oai lực, nhưng vị ấy không phải là vị A La Hán giống như ta đây. Hay là ta nên làm cho vị đạo sĩ bện tóc này phải nao núng?’ "

Sau đó, đức Thế Tôn đã nói với vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, ngươi chẳng phải là vị A La Hán và cũng chẳng đạt được con đường đưa đến quả vị A La Hán. Đường lối thực hành ấy ngươi không có. Nhờ vào đường lối thực hành ấy mà ngươi sẽ trở thành A La Hán hoặc đạt được con đường đưa đến quả vị A La Hán.

Khi ấy, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn và bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?

- Này Kassapa, ngươi là vị lãnh đạo, vị hướng dẫn, vị quan trọng nhất, vị đứng đầu, vị thủ lĩnh của năm trăm đạo sĩ bện tóc. Ngươi hãy thông báo đến các vị ấy và các vị ấy sẽ làm theo như điều các vị suy nghĩ.

Sau đó, vị đạo sĩ bện tóc Uruvelakassapa đã đi đến gặp các đạo sĩ bện tóc ấy, sau khi đến đã nói với các đạo sĩ bện tóc ấy điều này:

- Này các ông, ta muốn thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa môn, các ông hãy làm theo như điều các ông suy nghĩ.

- Ngài ơi, đã lâu nay chúng tôi đã có niềm tin với vị đại Sa môn, nếu ngài thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa môn thì tất cả chúng tôi sẽ thực hành Phạm hạnh theo vị đại Sa môn.

Sau đó, các vị đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo giòng nước các chùm tóc (mới cạo), các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn rồi bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?

- Này các Tỷ kheo, hãy đến.

Đức Thế Tôn đã nói rằng:

- Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.

Chính điều ấy là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.

[52] Đạo sĩ tóc bện Nadīkassapa đã nhìn thấy giòng nước đang cuốn trôi đi các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa. Sau khi nhìn thấy, vị ấy đã khởi ý điều này: "Chớ có việc gì nguy hiểm xảy ra cho anh trai của ta!" rồi đã phái các đạo sĩ bện tóc (nói rằng): "Các vị hãy đi và tìm hiểu xem anh trai ta thế nào!" còn bản thân cùng với ba trăm đạo sĩ bện tóc đã đi đến gặp đại đức Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đại đức Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, điều này là tốt hơn hay sao?

- Này đệ, đúng vậy. Điều này là tốt hơn.

Sau đó, các đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo giòng nước các chùm tóc (mới cạo), các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn rồi bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?

- Này các Tỷ kheo, hãy đến.

Đức Thế Tôn đã nói rằng:

- Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.

Chính điều ấy là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.

[53] Đạo sĩ tóc bện Gayākassapa đã nhìn thấy giòng nước đang cuốn trôi đi các chùm tóc, các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa. Sau khi nhìn thấy, vị ấy đã khởi ý điều này: "Chớ có việc gì nguy hiểm xảy ra cho các anh trai của ta!" rồi đã phái các đạo sĩ bện tóc (nói rằng): "Các vị hãy đi và tìm hiểu xem các anh trai ta thế nào!" còn bản thân cùng với hai trăm đạo sĩ bện tóc đã đi đến gặp đại đức Uruvelakassapa, sau khi đến đã nói với đại đức Uruvelakassapa điều này:

- Này Kassapa, điều này là tốt hơn hay sao?

- Này đệ, đúng vậy. Điều này là tốt hơn.

Sau đó, các đạo sĩ bện tóc ấy đã quăng trôi theo giòng nước các chùm tóc (mới cạo), các bện tóc, các đồ đạc, các dụng cụ thờ lửa rồi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế Tôn rồi bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?

- Này các Tỷ kheo, hãy đến.

Đức Thế Tôn đã nói rằng:

- Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.

Chính điều ấy là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.

[54] Do nguyện lực của đức Thế Tôn, năm trăm thanh củi không chẻ ra được đã được chẻ ra, các ngọn lửa không đốt lên được đã được đốt lên, không thể dập tắt được đã được dập tắt, năm trăm chảo lửa đã được làm cho hiện ra. Theo đường lối ấy, có được ba ngàn năm trăm điều kỳ diệu.

[55] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại Uruvelā theo như ý thích, đã ra đi du hành đến đỉnh Gayā cùng với đại chúng Tỷ kheo gồm có một ngàn vị Tỷ kheo, tất cả đều là đạo sĩ bện tóc trước đây. Tại nơi đó, ở Gayā, đức Thế Tôn ngự tại đỉnh Gayā cùng với một ngàn vị Tỷ kheo. Tại đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, tất cả đều bị cháy rực. Này các Tỷ kheo, mắt bị cháy rực, các sắc bị cháy rực, sự nhận thức của mắt bị cháy rực, sự tiếp xúc của mắt bị cháy rực, điều được cảm thọ sanh lên do duyên tiếp xúc của mắt là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc cũng đều bị cháy rực. Bị cháy rực bởi điều gì? Ta nói rằng: "Bị cháy rực bởi lửa tham, bởi lửa sân, bởi lửa si. Bị cháy rực bởi sanh, bởi già và chết, bởi buồn rầu, ta thán, khổ đau, bất mãn, thất vọng." Tai bị cháy rực, các âm thanh bị cháy rực, ...(như trên)... Mũi bị cháy rực, các mùi bị cháy rực, ...(như trên)... Lưỡi bị cháy rực, các vị bị cháy rực, ...(như trên)... Thân bị cháy rực, các sự xúc chạm bị cháy rực, ...(như trên)... Ý bị cháy rực, các đối tượng của ý (dhammā) bị cháy rực, sự nhận thức của ý bị cháy rực, sự tiếp xúc của ý bị cháy rực, điều được cảm thọ sanh lên do duyên tiếp xúc của ý là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc cũng đều bị cháy rực. Bị cháy rực bởi điều gì? Ta nói rằng: "Bị cháy rực bởi lửa tham, bởi lửa sân, bởi lửa si. Bị cháy rực bởi sanh, bởi già và chết, bởi buồn rầu, ta thán, khổ đau, bất mãn, thất vọng." Này các Tỷ kheo, trong khi thấy như thế vị Thánh đệ tử có học hỏi không còn hứng thú đến mắt, không còn hứng thú đến các sắc, không còn hứng thú đến sự nhận thức của mắt, không còn hứng thú đến sự tiếp xúc của mắt, không còn hứng thú đến điều được cảm thọ sanh lên do duyên tiếp xúc của mắt là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc, không còn hứng thú đến tai, không còn hứng thú đến các âm thanh, ...(như trên)..., không còn hứng thú đến mũi, không còn hứng thú đến các mùi, ...(như trên)..., không còn hứng thú đến lưỡi, không còn hứng thú đến các vị, ...(như trên)..., không còn hứng thú đến thân, không còn hứng thú đến các sự xúc chạm, ...(như trên)..., không còn hứng thú đến ý, không còn hứng thú đến các đối tượng của ý, không còn hứng thú đến sự nhận thức của ý, không còn hứng thú đến sự tiếp xúc của ý, không còn hứng thú đến điều được cảm thọ sanh lên do duyên tiếp xúc của ý là lạc, hay là khổ, hoặc không khổ không lạc, khi đã không còn hứng thú, vị ấy không còn say đắm; do không còn say đắm vị ấy được giải thoát; trong khi được giải thoát, trí khởi lên rằng: "Đã được giải thoát." Vị ấy biết được rằng: "Sự tái sanh đã cạn kiệt, Phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn (đưa đến) bản ngã nào khác (tương tợ) như vầy nữa." Và trong khi bài kinh này được thuyết giảng, các tâm của một ngàn vị Tỷ kheo ấy đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ.

Dứt phần giảng về "Bị Cháy Rực."

Dứt Tụng phẩm "Sự Kỳ Diệu ở Uruvelā" là phần thứ ba.


[1] Chủ yếu là vải quấn thây người chết được đem bỏ ở bãi tha ma hoặc là vải nhặt ở các đống rác (chú thích của người dịch). Ở các nơi khác, chúng tôi dịch là "vải dơ bị quăng bỏ".

[2] Jambudīpa, dịch là đảo Jambu, tức là bán đảo Ấn Độ (chú thích của người dịch).

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]