Tạng Luật
Vinaya Pitaka

Đại Phẩm
Mah
āvagga

Tỳ kheo Indachanda Nguyệt Thiên dịch


Tụng Phẩm thứ nhì

[25] Vào lúc bấy giờ, ở Bārānasī có người con trai gia đình danh giá tên Yasa. Yasa là con trai của một nhà đại phú và có vóc dáng mảnh mai. Chàng trai có ba tòa lâu đài: một dành cho mùa lạnh, một dành cho mùa nóng, và một dành cho mùa mưa. Vào bốn tháng mùa mưa, chàng ở trong tòa lâu đài luôn được vây quanh bởi các nữ công tấu nhạc và không bước xuống phía dưới của tòa lâu đài. Khi ấy, trong lúc được phú cho, được thừa hưởng, được phục vụ bởi năm phần dục lạc,[1] người con trai gia đình danh giá Yasa đã nằm xuống ngủ trước rồi sau đó đám hầu thiếp mới nằm xuống ngủ. Và cây đèn dầu thường được đốt thâu đêm.

Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thức dậy trước và đã nhìn thấy đám hầu thiếp của mình đang ngủ, cây đàn ở khủyu tay của nàng này, cái trống con ở cổ của nàng khác, cái trống ở đùi nàng nọ, nàng này có (đầu tóc) xổ ra, nàng nọ nhễu nước dãi, các nàng khác thì nói lảm nhảm, chàng nghĩ rằng bãi tha ma như đang ở đâu đây.[2] Sau khi thấy vậy, chàng trai đã khởi lên sự chán nản và đã lập tâm từ bỏ. Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thốt lên lời cảm thán rằng: "Thật là chán nản! Thật là khổ sở!" Rồi người con trai gia đình danh giá Yasa đã mang vào đôi hài bằng vàng và đi đến cánh cửa lớn của dinh thự. Các phi nhân đã mở cánh cửa ra (nghĩ rằng): "Chớ có để ai gây trở ngại đến việc rời nhà xuất gia sống không nhà của người con trai gia đình danh giá Yasa." Sau đó, người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi đến cổng thành phố. Các phi nhân đã mở cánh cửa ra (nghĩ rằng): "Chớ có để ai gây trở ngại đến việc rời nhà xuất gia sống không nhà của người con trai gia đình danh giá Yasa." Rồi người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi đến Isipatana, chỗ vườn nai.

[26] Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm đang đi kinh hành ở ngoài trời. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đã rời đường kinh hành và đến ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được xếp đặt sẵn. Rồi lúc đến gần đức Thế Tôn, người con trai gia đình danh giá Yasa đã thốt lên lời cảm thán rằng: "Thật là chán nản! Thật là khổ sở!" Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với người con trai gia đình danh giá Yasa điều này:

- Này Yasa, việc này không chán nản, việc này không khổ sở. Này Yasa, hãy đến và ngồi xuống. Ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp cho ngươi.

Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa (nghĩ rằng): "Nghe nói việc này không chán nản, việc này không khổ sở," trở nên hoan hỷ, phấn khởi rồi đã cởi ra đôi hài bằng vàng và đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi một bên như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, và ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của người con trai gia đình danh giá Yasa đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày cho chàng trai Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người con trai gia đình danh giá Yasa: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt."

[27] Sau đó, mẹ của người con trai gia đình danh giá Yasa đã đi lên tòa lâu đài và không thấy người con trai gia đình danh giá Yasa nên đã đi đến gặp người gia chủ đại phú và nói với người gia chủ đại phú điều này:

- Gia chủ ơi, không có nhìn thấy con trai ông là Yasa.

Sau đó, người gia chủ đại phú đã phân công cho các sứ giả phi ngựa bốn phương còn chính bản thân thì đi đến Isipatana, chỗ vườn nai. Người gia chủ đại phú đã nhìn thấy dấu in (xuống đất) của đôi hài bằng vàng nên đã lần đi theo vết ấy. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy người gia chủ đại phú đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Hay là ta nên thực hiện thần thông để cho người gia chủ đại phú ngồi ở đây không thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đã ngồi ở đây." Rồi đức Thế Tôn đã thực hiện thần thông như thế ấy. Sau đó, người gia chủ đại phú đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, vậy chớ đức Thế Tôn có thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa không?

- Này gia chủ, như thế thì ông hãy ngồi xuống đi, có lẽ khi ông ngồi xuống ở đây thì có thể nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đã ngồi ở đây.

Khi ấy, người gia chủ đại phú (nghĩ rằng): "Nghe nói khi ta đã ngồi xuống ngay ở nơi đây thì ta sẽ nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đã ngồi ở đây," trở nên hoan hỷ phấn khởi, rồi đã đảnh lễ đức Thế Tôn và ngồi xuống ở một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến người gia chủ đại phú đang ngồi một bên như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, và ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của người gia chủ đại phú đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày cho ông ta Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người gia chủ đại phú: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt."

Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hòai nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, người gia chủ đại phú đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, thắp sáng cây đèn dầu ở trong bóng tối (nghĩ rằng): "Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;" cũng như thế ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.

Và ông ta đã trở thành vị nam cư sĩ đọc ba câu (tevāciko)[3] đầu tiên ở thế gian.

[28] Sau đó, trong khi được giảng giải Giáo Pháp, cha của người con trai gia đình danh giá Yasa đã quán sát được bản chất như đã được thấy như đã được biết và tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. Khi ấy, đức Thế Tôn đã khởi ý rằng: "Khi được giảng giải Giáo Pháp, cha của người con trai gia đình danh giá Yasa trong khi quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. Còn người con trai gia đình danh giá Yasa đã không thể nào quay lui đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia, hay là ta nên thu hồi sự thể hiện thần thông?"

Rồi đức Thế Tôn đã thu hồi sự thể hiện thần thông ấy. Người gia chủ đại phú đã nhìn thấy người con trai gia đình danh giá Yasa đang ngồi, sau khi nhìn thấy đã nói với người con trai gia đình danh giá Yasa điều này:

- Này Yasa yêu quý, mẹ của con bị sầu khổ và đã than vãn. Hãy đem lại cho mẹ cuộc sống.

Khi ấy, người con trai gia đình danh giá Yasa đã nhìn lên đức Thế Tôn. Rồi đức Thế Tôn đã nói với người gia chủ đại phú điều này:

- Này gia chủ, ngươi nghĩ gì về việc người con trai gia đình danh giá Yasa đã nhìn thấy Pháp bằng tri kiến của vị hữu học giống như ngươi? Trong khi chàng trai quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ, này gia chủ có thể nào Yasa quay lui đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia hay không?

- Bạch ngài, điều ấy không thể nào.

- Này gia chủ, Yasa đã nhìn thấy Pháp bằng tri kiến của vị hữu học giống như ngươi. Trong khi chàng trai quán sát bản chất như đã được thấy như đã được biết, tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. Này gia chủ, Yasa không thể nào quay lui đời sống thấp kém để thọ hưởng các dục lạc giống như trước đây khi còn ở tại gia.

- Bạch ngài, thật là lợi ích cho người con trai gia đình danh giá Yasa! Thật khéo thành tựu cho người con trai gia đình danh giá Yasa! Như là việc tâm của người con trai gia đình danh giá Yasa đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn nhận lời con về bữa thọ trai ngày mai cùng với người con trai gia đình danh giá Yasa làm sa-môn thị giả.

Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, người gia chủ đại phú hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau khi người gia chủ đại phú ra đi không lâu, người con trai gia đình danh giá Yasa đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?

- Này Tỷ kheo, hãy đến.

Đức Thế Tôn đã nói rằng:

- Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.

Chính điều ấy là sự tu lên bậc trên của Đại đức ấy.

Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có bảy vị A La Hán.

Dứt Sự Xuất gia của Yasa.

[29] Khi ấy, vào buổi sáng đức Thế Tôn sau khi mặc y cầm y bát đã cùng với Đại đức Yasa làm sa-môn thị giả đi đến tư gia của người gia chủ đại phú, sau khi đến đã ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người mẹ và người vợ cũ thứ nhì của Đại đức Yasa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến các người nữ ấy như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, và ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của các người nữ ấy đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các người nữ ấy: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt."

Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hòai nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các người nữ ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, thắp sáng cây đèn dầu ở trong bóng tối (nghĩ rằng): "Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;" cũng như thế ấy, Pháp đã được đức Thế Tôn chỉ rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, chúng con đây xin quy y đức Thế Tôn, Giáo Pháp, và Hội chúng Tỷ kheo. Xin đức Thế Tôn chấp nhận chúng con là các nữ cư sĩ đã được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời.

Và các người nữ ấy đã trở thành những nữ cư sĩ đọc ba câu (tevāciko) đầu tiên ở thế gian.

Sau khi đã tự tay làm hài lòng và thỏa mãn hội chúng Tỷ kheo có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng cứng mềm, người mẹ, người cha, và người vợ cũ thứ nhì của Đại đức Yasa đã đi đến ngồi xuống một bên đức Thế Tôn khi ấy đã thọ thực xong, bàn tay và bình bát đã được rửa. Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người mẹ, người cha, và người vợ cũ thứ nhì của Đại đức Yasa bằng bài Pháp thoại rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

[30] Bốn người bạn tại gia của Đại đức Yasa (có tên) Vimala, Subāhu, Punnaji, Gavampati là những người con trai của các gia đình đại phú và khá giả ở thành Bārānasī đã nghe được rằng: "Nghe nói người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà." Sau khi nghe được, các vị ấy đã khởi ý rằng: "Pháp và Luật ấy chắc chắn không phải là tầm thường! Việc xuất gia không phải là tầm thường khi mà người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà!" Các người ấy đã đi đến gặp Đại đức Yasa, sau khi đến đã đảnh lễ Đại đức Yasa và đứng ở một bên. Khi ấy, Đại đức Yasa đã dẫn bốn người bạn tại gia đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại đức Yasa đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, đây là bốn người bạn tại gia của con (có tên) Vimala, Subāhu, Punnaji, Gavampati là những người con trai của các gia đình đại phú và khá giả ở thành Bārānasī. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn và chỉ dạy cho những người này.

Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, và ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của những người ấy đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt."

Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hòai nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?

- Này các Tỷ kheo, hãy đến.

Đức Thế Tôn đã nói rằng:

- Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.

Chính điều ấy là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.

Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn và chỉ dạy cho các vị Tỷ kheo ấy bằng bài Pháp thoại. Trong khi các vị ấy được đức Thế Tôn giáo huấn và chỉ dạy bằng bài Pháp thoại, tâm (của các vị ấy) đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ.

Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có mười một vị A La Hán.

Dứt Sự Xuất gia của Bốn người bạn tại gia.

[31] Những người bạn tại gia của Đại đức Yasa có số lượng là năm mươi (người) là những người con trai của các gia đình tiên phong hoặc cựu trào trong xứ sở đã nghe được rằng: "Nghe nói người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà." Sau khi nghe được, các vị ấy đã khởi ý rằng: "Pháp và Luật ấy chắc chắn không phải là tầm thường! Việc xuất gia không phải là tầm thường khi mà người con trai gia đình danh giá Yasa đã cạo bỏ râu tóc, khoác lên các tấm vải màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà!" Các người ấy đã đi đến gặp Đại đức Yasa, sau khi đến đã đảnh lễ Đại đức Yasa rồi đứng ở một bên. Khi ấy, Đại đức Yasa đã dẫn các người bạn tại gia có số lượng là năm mươi (người) ấy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại đức Yasa đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, đây là những người bạn tại gia của con có số lượng là năm mươi (người) là những người con trai của các gia đình đầu tiên hoặc kế tiếp trong xứ sở. Xin đức Thế Tôn hãy giáo huấn và chỉ dạy cho những người này.

Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến những người ấy như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, và ngài đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của những người ấy đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến những người ấy: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt."

Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hòai nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, những người ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?

- Này các Tỷ kheo, hãy đến.

Đức Thế Tôn đã nói rằng:

- Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.

Chính điều ấy là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.

Sau đó, đức Thế Tôn đã giáo huấn và chỉ dạy cho các vị Tỷ kheo ấy bằng bài Pháp thoại. Trong khi các vị ấy được đức Thế Tôn giáo huấn và chỉ dạy bằng bài Pháp thoại, tâm (của các vị ấy) đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc không còn chấp thủ.

Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu mươi mốt vị A La Hán.

[32] Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ta đã thoát khỏi các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Này các Tỷ kheo, các ngươi cũng đã thoát khỏi các sự trói buộc thuộc về cõi trời và loài người. Này các Tỷ kheo, hãy cất bước du hành vì lợi ích của nhiều người, vì an lạc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian, vì sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui của chư thiên và nhân loại, chớ đi hai người chung một (đường). Này các Tỷ kheo, hãy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, có ý nghĩa, có văn tự, và hãy công bố một cách hoàn toàn đầy đủ về Phạm hạnh trong sạch. Có những chúng sanh sanh lên ít bị ô nhiễm, do việc không nghe Giáo Pháp sẽ bị thoái hóa, (nhưng) nếu hiểu được Giáo Pháp chúng sẽ tiến bộ. Này các Tỷ kheo, ta cũng sẽ đi đến ngôi làng của Senāni ở Uruvelā cho việc thuyết giảng Giáo Pháp.

[33] Sau đó, Ma vương đầy tội lỗi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn bằng bài kệ này:

- Các cạm bẫy trời người
đã trói buộc ngài rồi,
ngài đã bị trói buộc
bởi gông cùm vĩ đại.
Hỡi này vị sa-môn,
sao thoát khỏi ta đây!

(Đức Thế Tôn đáp lại rằng):

- Các cạm bẫy trời người,
ta đây thoát ra rồi,
gông cùm dầu vĩ đại
ta đã tự do rồi.
Ngươi đã bị thua rồi,
hỡi kẻ gây tử vong.

- Di chuyển khắp bầu trời
bẫy này chiếm ngự tâm
ta sẽ dùng vật ấy
trói buộc ngài chặt lại.
Hỡi này vị sa-môn
sao thoát khỏi ta đây!

- Sắc đẹp, thinh, hương thơm
vị nếm, và cảm xúc,
tuyệt duyệt ở chốn này
ta không còn mong mỏi.
Ngươi đã bị bại rồi
hỡi kẻ gây tử vong.

Khi ấy, Ma vương đầy tội lỗi (nghĩ rằng): "Đức Thế Tôn đã nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đã nhận ra ta rồi!" nên đã xấu hổ, bực bội, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.

Dứt phần nói về Ma Vương.

[34] Vào lúc bấy giờ, các vị Tỷ kheo thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn di theo những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên (nghĩ rằng): "Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia và sẽ cho tu lên bậc trên." Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỷ kheo luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc.

Rồi trong khi đức Thế Tôn thiền tịnh ở nơi thanh vắng, một ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: "Hiện nay, các vị Tỷ kheo thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn di theo những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia và sẽ cho tu lên bậc trên.’ Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỷ kheo luôn cả những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc; hay là ta nên cho phép các vị Tỷ kheo rằng: ‘Này các Tỷ kheo, kể từ nay chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên ở trong mọi phương mọi xứ sở’." Sau đó, vào lúc chiều tối, đức Thế Tôn xuất khỏi thiền tịnh rồi nhân lý do ấy, nhân sự việc ấy đã triệu tập hội chúng Tỷ kheo lại, sau khi thuyết Pháp thoại rồi đã bảo các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ở đây trong lúc ta thiền tịnh ở nơi thanh vắng, một ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: "Hiện nay, các vị Tỷ kheo thuộc nhiều phương khác nhau, thuộc nhiều xứ sở khác nhau đã dẫn di theo những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên (nghĩ rằng): ‘Đức Thế Tôn sẽ cho họ xuất gia và sẽ cho tu lên bậc trên.’ Trong trường hợp ấy, chính các vị Tỷ kheo luôn những người có ý muốn xuất gia và những người có ý muốn tu lên bậc trên đều mệt nhọc; hay là ta nên cho phép các vị Tỷ kheo rằng: ‘Này các Tỷ kheo, kể từ nay chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên ở trong mọi phương mọi xứ sở’." Này các Tỷ kheo, ta cho phép kể từ nay chính các ngươi hãy cho xuất gia, hãy cho tu lên bậc trên ở trong mọi phương mọi xứ sở. Và này các Tỷ kheo, nên cho xuất gia như vầy, nên cho tu lên bậc trên như vầy: Trước tiên, nên bảo cạo bỏ râu tóc, bảo khoác lên các tấm vải màu ca-sa, bảo đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị Tỷ kheo, bảo ngồi chồm hỗm, bảo chắp tay lên, và nên bảo rằng: "Ngươi hãy nói như vầy:"

"Tôi đến với đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật).
Tôi đến với đức Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp).
Tôi đến với đức Tăng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng).

Lần thứ nhì, tôi đến với đức Phật là nơi nương nhờ.
Lần thứ nhì, tôi đến với đức Pháp là nơi nương nhờ.
Lần thứ nhì, tôi đến với đức Tăng là nơi nương nhờ.

Lần thứ ba, tôi đến với đức Phật là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đến với đức Pháp là nơi nương nhờ.
Lần thứ ba, tôi đến với đức Tăng là nơi nương nhờ
."

Này các Tỷ kheo, ta cho phép sự xuất gia, sự tu lên bậc trên với Tam Quy (ba sự đi đến nương nhờ) này.

Dứt phần nói về sự tu lên bậc trên bằng Tam Quy.

[35] Sau đó, khi đã sống qua mùa mưa, đức Thế Tôn đã bảo các vị Tỷ kheo rằng:

- Này các Tỷ kheo, ta có sự tác ý đúng đắn, có sự tinh tấn chân chánh đúng đắn, đã đạt đến sự giải thoát tối thượng, đã chứng ngộ sự giải thoát tối thượng. Này các Tỷ kheo, các ngươi cũng có sự tác ý đúng đắn, có sự tinh tấn chân chánh đúng đắn, hãy đạt đến sự giải thoát tối thượng, hãy chứng ngộ sự giải thoát tối thượng.

Rồi Ma vương đầy tội lỗi đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn bằng bài kệ này:

- Các cạm bẫy Ma vương
các loại thuộc cung trời
và thuộc về nhân loại
đã trói buộc ngài rồi.
Ngài đã bị trói buộc
bởi gông cùm vĩ đại,
hỡi này vị sa-môn
sao thoát khỏi ta đây!

(Đức Thế Tôn đáp lại rằng):

- Các cạm bẫy Ma vương
các loại thuộc cung trời
và thuộc về nhân loại
ta đây thoát ra rồi.
Gông cùm dầu vĩ đại
ta đã tự do rồi,
ngươi đã bị thua rồi,
hỡi kẻ gây tử vong.

Khi ấy, Ma vương đầy tội lỗi (nghĩ rằng): "Đức Thế Tôn đã nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đã nhận ra ta rồi!" nên đã xấu hổ, bực bội, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.

[36] Rồi đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Bārānasī theo như ý thích, đã ra đi du hành đến Uruvelā. Sau đó, đức Thế Tôn đã rời đường lộ đi đến một khu rừng rậm nọ, sau khi đến đã đi sâu vào trong khu rừng rậm ấy và đã ngồi xuống trên một gốc cây nọ.

Vào lúc bấy giờ, những người bạn thuộc nhóm các vương tử có số lượng ba mươi (người) cùng những người vợ đang du ngoạn ở trong khu rừng rậm ấy. Một người không có vợ. Một cô gái điếm hạ tiện đã được đem lại cho vị ấy. Rồi trong khi họ đang lơ đễnh du ngoạn, cô gái điếm ấy đã cầm lấy gói đồ rồi trốn chạy. Khi đó, những người bạn ấy trong khi giúp đỡ bạn bè và trong khi tìm kiếm người đàn bà ấy đã lang thang đi đến khu rừng rậm ấy và đã nhìn thấy đức Thế Tôn đang ngồi ở gốc cây nọ, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, vậy chớ đức Thế Tôn có nhìn thấy người đàn bà không?

- Này các vương tử, các vị có điều gì với người đàn bà?

- Bạch ngài, trường hợp chúng tôi là những người bạn thuộc nhóm các vương tử có số lượng ba mươi (người) đã cùng những người vợ du ngoạn ở trong khu rừng rậm này. Một người không có vợ nên một cô gái điếm hạ tiện đã được đem lại cho vị ấy. Bạch ngài, rồi trong khi chúng tôi đang lơ đễnh du ngoạn, cô gái điếm ấy đã cầm lấy gói đồ rồi trốn chạy. Bạch ngài, do đó chúng tôi trong khi giúp đỡ bạn bè và trong khi tìm kiếm người đàn bà ấy đã lang thang đi đến khu rừng rậm này.

- Này các vương tử, các vị nghĩ thế nào về việc các vị nên tìm kiếm người đàn bà và việc các vị nên tìm kiếm lấy chính mình, đối với các vị việc nào quan trọng hơn?

- Bạch ngài, đối với chúng tôi việc quan trọng hơn là việc chúng tôi nên tìm kiếm lấy chính mình.

- Này các vương tử, như thế thì các vị hãy ngồi xuống, ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị.

- Bạch ngài, xin vâng.

Rồi những người bạn thuộc nhóm các vương tử ấy đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn đã thuyết Pháp theo thứ lớp đến các vị ấy như là thuyết về bố thí, thuyết về giới cấm, thuyết về cõi trời, và đã chỉ rõ sự ô nhiễm hạ liệt đầy tội lỗi của các dục và lợi ích của việc xuất gia. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của các vị ấy đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như một tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; cũng như vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến các vị ấy: "Điều gì có bản tánh sanh lên thì toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt."

Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hòai nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc đạo sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đã bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?

- Này các Tỷ kheo, hãy đến.

Đức Thế Tôn đã nói rằng:

- Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.

Chính điều ấy là sự tu lên bậc trên của các Đại đức ấy.

Dứt câu chuyện về những người bạn thuộc nhóm các vương tử.

Dứt Tụng Phẩm thứ nhì.



[1] Khoái lạc sanh lên do năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân.

[2] ... bãi tha ma đạt được trong tầm tay (dịch sát từ).

[3] Lúc ấy trên thế gian này đã có sáu vị Tỷ kheo A La Hán đại diện cho Tăng Bảo. Và người gia chủ này quy Tam Bảo vì đọc ba câu là: "Quy y đức Thế Tôn, Quy y Giáo Pháp, và Quy y Hội chúng Tỷ kheo," không như hai người thương buôn trước đây chỉ quy y Nhị Bảo là Phật Bảo và Pháp Bảo (chú thích của người dịch).

-ooOoo-

Ðầu trang | Mục lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 | 08 | 09 | 10 |
11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33

 

[Trở về trang Thư Mục]