NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

     CHÚ GIẢI  

  CHUYỆN NGẠ QỦI

   (Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.3 Chú giải chuyện ngạ quỉ KHÔNG CON MATTĀ
 [Mattāpetivatthuvaṇṇanā]

‘Nhà ngươi lỏa lồ và có diện mạo kinh dị.’Chính Đức Phật đă kể lại câu chuyện này khi ngài c̣n lưu lại trong khu rừng Jeta liên quan đến một nữ ngạ quỉ có tên là Mattā.

Người ta kể lại rằng trong thành Sāvatthī có một người đàn ông giàu có kia có đức tin và ḷng thành tín. Vợ của ông ta, là một phụ nữ có tên là Mattā, lại chẳng có đức tin lẫn ḷng thành tín và nàng hay tức bực và bị hiếm muộn. Giờ đây người phú hộ lo sợ sẽ không có con cái nối dơi tông đường, nên ông ta đă cưới một nàng dâu mới tên là Tissa cũng xuất thân trong cùng một bộ tộc. Nàng có niềm tin và có ḷng thành tín khả ái và rất hấp dẫn với chồng. Chẳng bao lâu sau nàng đă có thai và sau mười tháng nàng đă sanh hạ được một cậu con trai. Tên của cậu là Bhuta. Nàng đă trở thành nữ chủ gia và hỗ trợ cho bốn tỳ khưu bằng cách chăm sóc đúng mức. Người vợ hiếm muộn sanh ḷng ghen tị[93] với nàng. Một ngày kia cả hai người đang gội đầu và đang đứng phơi tóc cho khô. Người phú họ đem ḷng yêu thương Tissa do nàng có nhiều phẩm chất thiện và thường xuyên đứng nói chuỵên với nàng một cách thoải mái. V́ không thể chịu nổi điều này và do ghen tương Mattā đă quét nhà va đổ toàn bộ rác rến nàng gom được lên đầu Tissa. Đến thời giờ qui định nàng đă qua đời và đầu thai nơi cơi ngạ quỉ phải trải qua đau khổ do nghiệp lực nàng đă thực hiện, nàng đă phải chịu cực khổ lên đến năm lần. [83] sự thống khổ của nàng được biết đến trong bản kinh. Thế rồi một ngày kia khi buổi chiều[94] đă ch́m xuống nàng đă hiện nguyên h́nh với Tissa khi nàng c̣n đang tắm ở sau nhà. Khi trông thấy nàng Tissa liền hỏi nàng với đoạn kệ như sau:

1.      "Nhà ngươi loả lồ và có diện mạo gơm ghiếc, gầy g̣ với những đường gân hiện rơ, nàng là người gầy g̣ ốm yếu, xương sườn hiện ra, giờ đây, ngươi là ai mà đứng trân người ra như vậy.

Ngạ quỉ kia trả lời với đoạn kệ sau:

2.      “Ta chính là Mattā, nhà ngươi là Tissa. Ta chính là người vợ chung chồng của nhà ngươi trong quá khứ. Sau khi đă thực hiện những ác nghiệp xấu xa ta đă phải đầu thai từ đây vào cơi ngạ quỉ,

2. Về điểm này, ta chính la Mattā, nhà ngươi là Tissa (ahaṃ Mattā tuvaṃ Tissā). Nhà ngươi tên là Tissa trong khi đó Ta tên[95] là Mattā. Trong quá khứ (pure)[96]. Nơi kiếp hiện hữu trước đây. Ta đă là: ahuṃ=ahosiṃ của ngươi: te[97]=tuyhaṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) người vợ cùng chồng với ngươi.

Tissa hỏi nàng một lần nữa về hành vi nàng đă thực hiện với đoạn kệ sau:

3.      ‘Giờ đây chị đă thực hiện ác nghiệp xấu xa ǵ qua thân, khẩu hay ư? Do kết quả ác nghiệp chị đă làm chị phải đầu thai từ đây (trên cơi đời này) xuống cơi các ngạ quỉ?

Người phụ nữ kia giải thích hành vi nàng đă thực hiện bằng đoạn kệ sau:

4. ‘Ta đă hay nóng tánh và thô bạo. Ta hay ghen tị. Bần tiện hèn hạ và xảo trá. Sau khi đă nói những lời ác về nàng ta đă phải đầu thai từ đây xuống cơi ngạ quỉ.’

4.      Vể điểm này hay nóng tánh (caṇḍi) :thường tỏ thái độ nóng nẩy. Thô lỗ (pharusā): nói lời lỗ măng. Ta đă là: āsiṃ=taṃ ahaṃ (dạng ngữ pháp hoán chuyển). Đối với em ta: tāham=taṃ ahaṃ ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Những lời thô lỗ (duruttaṃ): lời nói ác ư, câu chuyện tầm phào.

Kể từ đây trở đi họ tiếp tục trao đổi cuộc đối thoại bằng những đoạn kệ sau:

5.      Cả em nữa, em cũng biết điều này, làm sao chị đă nóng nảy ra làm sao; nhưng vẫn c̣n một vài điều nữa em muốn hỏi chị: tại sao chị lại phải phủ đầy một lớp bụi bẩn?’

6.      ‘Em đă gội đầu và mặc quần áo sạch sẽ và trang điểm lộng lẫy; c̣n chị th́ c̣n muốn hơn thế nữa cơ, ngay cả c̣n được trang điểm nhiều hơn em nữa.

7.      Trong khi chị nh́n thấy em tṛ chuyện [98] với người chồng của chúng ta. Nhân đó đă tạo cho chị mối ghen tỵ và bực tức nổi lên trong chị.

8.      [84] Ngay lúc đó chị đă lấy bụi bẩn (quét nhà) và đổ lên đầu em. Chính do kết quả của hành vi đó mà chị đă phải bị phủ một lớp bụi bẩn.

9.      Cả em cũng biết điều đó (làm thế nào) chị có thể đổ bụi bẩn lên em được; nhưng chắc vẫn c̣n điều ǵ em muốn hỏi chị: tại sao chị lại phải hao ṃn v́ bệnh ghẻ.?’

10.  Cả hai chúng ta đều đă đi đến b́a rừng để kiếm dược thảo. Em mang về nhà được dược thảo c̣n chị chỉ mang về loại cây kapikacchu[99]

11.  Thế rồi nhằm lúc em không để ư chị đă rải cây đó lên giường em ngủ. Chính do kết quả của ác nghiệp đó mà chị đă phải hao ṃn thân xác v́ bệnh ghẻ.

12.  Điều đó em cũng đă biết. (làm thế nào) chị rải được cây đó lên giường của em; nhưng vẫn c̣n điều ǵ đó mà em muốn hỏi chị: tại sao chị lại phải loả lồ như vậy?

13.  Có một cuộc tụ tập các bạn bè, một cuộc vui chơi cùng với nhau,[100] các họ hàng của chúng ta đă diễn ra, em th́ được dẫn đi tham dự c̣n chị th́ không.

14.  Thế là khi em không để ư chị đă gỡ bỏ hết quần áo của em. Chính do kết quả của hành vi đó mà chị đă phải loả lồ như vậy.

15.  Điều đó em cũng đă biết, (làm thế nào) chị đă gỡ bỏ được quần áo của em. Nhưng chắc hẳn vẫn c̣n điều ǵ đó em muốn hỏi: tại sao chị lại xông ra những mùi hôi thối như phẩn vậy?’

16.  ‘Chị đă ném những vật thơm, những ṿng hoa và những đồ trang sức đắt tiền của em vào nhà xí - chính chị đă thực hiện hành vi xấu xa đó. Chính do kết quả của hành vi đó mà chị đă phải toát ra mùi hôi thối của phẩn.

17.  Em cũng biết rơ điều này, (lư do tại sao) chị lại thực hiện hành vi xấu xa này; nhưng vẫn c̣n điều ǵ đó em muốn hỏi chị; Tại sao chị phải trải qua kiếp sống đau khổ đó.

18.  Bất kỳ tài sản nào trong nhà đều thuộc quyền sở hữu của cả hai ta. Tuy nhiên những vật cúng dường nằm trong tầm tay của chị song chị lại không hồi hướng cho chính ḿnh. Chính do kết quả của hành vi đó mà chị đă phải trải qua kiếp sống đau khổ đó.

19.  Ngay cả khi chị nói với em, “em đang theo đuổi những hành vi bất thiện; chắc chắn không phải do những hành vi bất thiện đó mà hiện trạng hạnh phúc có thể dễ dàng đạt đến được.

20.  Em đă tiến đến gặp chị từ một góc độ sai lầm[101] và c̣n điều ǵ khác khiến chị ghen tức với em nữa không. Hăy nh́n kỹ xem loại kết quả nào xuất phát từ những hành vi xấu xa đó.

21.  [85] Em có một căn nhà, có đầy tớ, có những đồ trang sức, giờ đây th́ người khác đang hưởng[102] - của cải chẳng tồn tại lâu dài đâu.

22.  Cha của Bhuta đang đi chợ về. Có lẽ ông ta sẽ đưa cho em điều ǵ đó. Xin đừng đi ra khỏi đây.

23.  ‘Chị phải loả lồ và có diện mạo gướm ghiếc, gầy g̣ với những đường gân hiện rơ, Đây là điều đáng sấu hổ đối với phụ nữ. Xin đừng để cho cha của Bhuta nh́n thấy chị.

24.  Thôi được rồi em có thể cho chị được ǵ hay em có thể làm ǵ cho chị đây để chị có thể được sung sướng và được tất cả những ǵ chị mong muốn?’

25.  “Bốn tỳ khưu làm thành một tăng đoàn và bốn cũng là các cá nhân.[103] Hăy cho họ ăn và hồi tưởng của bố thí cho chị; thế th́ chị sẽ được sung sướng. Và có đầy đủ những ǵ chị mong muốn.

26.  ‘Được rồi’ nàng đồng ư, nàng đă cúng duờng tám tỳ khưu, cho họ mặc đầy đủ và rồi hồi hướng phước thí đó cho nàng.

27.  Ngay lập tức nàng sau khi nàng hồi hướng điều này kết quả đă diễn ra: vật thực, y phục và thức uống đă xuất hiện do kết quả của phước thí này.

28.  Kể từ đó nàng trở nên thanh tịnh, mặc y phục sạch sẽ với những thứ c̣n tốt hơn cả lụa Kasi và được trang sức với đủ loại y phục và đồ trang sức, nàng tiến lại gặp người vợ cùng chồng với nàng.

29.  “Hỡi Devata, chị là người có sắc đẹp kiều diễm toả sáng khắp bốn phương trời giống như Dược Vương Tinh.

30.  Vẻ đẹp kiều diễm của chị từ đâu mà có? Do điều ǵ mà chị đă chu tất được và có thế xuất hiện được đủ loại cảm khoái theo như ḷng chị mong ước?

31.  Em hỏi chị, hỡi devi đầy uy lực, hành vi công đức nào chị đă thực hiện khi c̣n ở kiếp người? do đâu mà oai lực của chị lại chiếu sáng như vậy. và vẻ đẹp kiều diễm của chị lại toả sáng khắp tứ phương như vậy?

32.  ‘Chị Là Mattā, em là Tissa. Chị là vợ chung chồng với em trong quá khứ. Sau khi đă thực hiện những việc xấu xa. Chị đă phải tái sanh từ đây xuống cơi các ngạ quỉ. Nhưng giờ đây nhừ có của thí của em đă thực hiện chị có thể hưởng, chẳng c̣n ǵ phải sợ ở bất kỳ nơi nào trên trần gian này.

33.  Mong rằng em được sống lâu. Với toàn thể họ hàng ruột thịt của em và mong rằng em có thể đạt đến thế giới các vị Vasavattis, là nơi thoát khỏi mọi sầu khổ và phiền muộn ô nhiễm.

34.  Hăy xử sự trên cơi đời này theo đúng Phật Pháp và thực hiện bố thí, hỡi nguời em xinh đẹp của chị; hăy gỡ bỏ dấu bẩn bún xỉn cùng với mọi cội rễ của chúng và rồi hăy đi thẳng đến cơi chư thiên là chốn vô tàm.

5. [86] Về điểm này, em cũng vậy, em biết rơ vấn đề này, chị rất nóng tính làm sao (sabbaṃ ahaṃ pijānami yathā tvaṃ caṇḍikā ahu): điều này ‘chị đă quá nóng tính và nói lời thô thiển, em cũng đă biết rơ. – chị nóng tính hay tức giận, có nói lời thô thiển và hay ghen tị bủn xỉn và xảo quyệt. Nhưng vẫn c̣n điều ǵ đó em muốn hỏi chị (aññañ ca kho taṃ pucchāmi): nhưng giờ đây em vẫn c̣n điều ǵ đó muốn hỏi chị. Tại sao chị lại bị phủ một lớp bụi bẩn? (kenāsi paṃsuguṇthitā): do hành vi xấu xa nào mà chị đă phải phủ một lớp bụi bẩn. Và rắc rến, có nghĩa là (do hành vi nào ) mà bụi bẩn và rác rến lại được đổ lên toàn bộ thân ḿnh chị như vậy?

6. Em đă gội đầu (sīsaṃ nahātā): em đă tắm từ đầu trở xuống. C̣n hơn thế (abhimattāṃ) nhiều hơn vô chừng. Được trang điểm c̣n nhiều hơn nữa. (samalaṅkatarā): được trang điểm hoàn toàn và lộng lẫy. Một cách giải thích khác là vô cùng (adhimattā): say đắm cực kỳ, say đắm xảo trá ngă mạn có nghĩa là nói xiên nói xỏ. Hơn em (tayā): hơn cô, cô em ạ.

7. Em đă đàm tiếu với chồng của chúng ta (sāmikena samantayi): em nói chuyện với chồng chúng ta, hai người nói qua nói lại với nhau.

9. Bị bệnh ghẻ làm cho hao ṃn. (khajjāsi kacchuyā): bị gặm do bị bệnh ngứa.[104] Nghĩa là bị bệnh ghẻ hoành hành.

10. Để hái dược thảo: bhesajjahārī= bhesajjahāriniyo (một dạng ngữ pháp hoán chuyển); t́m kiếm thuốc[105], cả hai chúng ta (ubhayo): hai chúng ta. Có nghĩa là em và tôi. Đến cuối cánh rừng (vanantaṃ): đi vào rừng. Em mang về dược thảo (tvañ ca bhesajjaṃ āhari): em mang về dược thảo có lợi cho em như các thầy lang đă ghi toa. Trong khi đó chị chỉ mang về kapikacchu (ahañn ca kapikacchuno): ngược lại chị chỉ mang về mấy quả kapikacchu, những quả đó sờ vào th́ rất khó chịu. Quả kapikacchu c̣n có tên gọi khác là ‘sayaṃ guttā’[106] trong trường hợp này có nghĩa là chị mang về toàn là lá và quả sayaṃ guttā.

11. Chị đă rải trên giường của em (seyyaṃ ty āhaṃ samokiriṃ): chị đă rải trên giường của em với toàn là lá và quả kapikacchu.

13. Của những bạn bè. (sahāyānaṃ): thuộc bạn bè. Một cuộc hội họp (samayo): cuộc họp. Các nguời anh em họ hàng (ñatīnaṃ): họ hàng ruột thịt. Tụ họp lại với nhau (samitī): cuộc họp mặt. Được yêu cầu (āmantitā): được mời tham dự lễ hội. Đi chung với người chồng chúng ta (sasāminī): cùng đi với chồng, có nghĩa là đi chung với người hỗ trợ chúng ta. Nhưng chị th́ không (no ca kho haṃ) nhưng chị lại không được mời đi đây là điều được phân tích.

14. Chị... quần áo của em: dussaṃ ty āhaṃ=dussaṃ te ahaṃ ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Cởi ra (apānudiṃ): chiếm lấy, lấy cắp.

16. [87] Đắt tiền (paccagghaṃ): tốt, rất đắt tiền. Chị đă ném đi (athāresiṃ): ném ra ngoài. Toả ra mùi hôi thối của phẩn (gūthagandhinī): ngửi thấy mùi phẩn, bốc lên mùi phân.

18. Bất kỳ tài sản nào có trong nhà chúng ta (yaṃ gehe vijjite dhanaṃ): bất kỳ tài sản nào thấy có trong nhà chúng ta đều thuộc quyền sở hữu của cả hai chúng ta là anh em họ hàng, của chị và của em. Bằng nhau và ngang nhau. Nằm trong tầm tay (santesu):được biết đến. Chỗ nương thân (dīpaṃ): hỗ trợ; nàng nói tới những hành vi công đức.

19. Khi nữ peti đă giải thích những điểm Tissa đă hỏi. Cô ta đă nói thêm một lần nữa, nói rằng, ‘Ngay cả chị đă nói cho em, v.v... thú nhận lỗi lầm nàng cảm thấy đă không nghe lời cô em. Về điểm này ngay cả sau đó (tad eva): ngay cả[107] sau đó cùng thời gian đó khi chị vẫn c̣n nguyên h́nh con người. Một cách giải thích khác theo cùng một cách’ (tath’eva) có nghĩa là sự việc giờ đây đă xảy ra đă được thực hiện theo chính cách đó. (như chị đă nói cho em biết). Đối với chị (maṃ): nàng ám chỉ chính ḿnh. Em (tvam): Tissa. Đă nói ra (avaca). Đă nói. (chị đă theo đuổi những hành vi xấu xa’ v.v... đă được nói tới để cho thấy cách thức nàng đă nói. Trong bài kinh có đoạn ‘những ác nghiệp’. Chị đang thực hiện chỉ những ác nghiệp’ – mà một kiếp sống hạnh phúc không dễ ǵ đạt được bởi những ác nghiệp đó. Nàng nói rằng điều đó giờ đây đă xảy ra đúng như cách mà trước đó người bạn chung chồng với nàng đă động viên nàng.

Khi nghe qua điều này, Tissa đă thốt lên ba đoạn kệ bắt đầu với “Nàng đă tiến lại gặp ta từ phía bên trái.”

20. Về điểm này Nàng đến với tôi từ phía bên trái (vāmato maṃ tvaṃ paccesi): chị đă có suy nghĩ sai về tôi – cho dù em rất ước ao hạnh phúc của chị, chị đă coi tôi hành động một cách thù nghịch. Chị đă ghen tương với em: maṃ usuyyasi=mayhaṃ usuyyasi (một kiểu ngữ pháp chuyển đổi): chị đă ghen ghét em. Hăy nh́n xem ḱa kết quả nào đă đem lại từ những ác nghiệp đó. (passa pāpānaṃ kammānaṃ vipāko hoti yādiso): nàng nói. “hăy tự ḿnh nh́n xem lại kết quả nào đă xảy ra từ những ác nghiệp và kết quả đó khủng khiếp đến mức độ nào.

21. Giờ đây nhưng người khác đă hưởng những thứ đó (te aññe paricārenti): những ngôi nhà này, các đầy tớ và những đồ trang sức trước kia thuộc quyền sở hữu của chị giờ đây những người khác đang hưởng cả, đang sử dụng. Những thứ này (ime) được nêu lên theo cách méo mó về giống.[108] Những của cải chẳng tồn tại vĩnh cửu (na bhogā honti sassatā): những của cải này chẳng tồn tại vĩnh cửu đâu, không bền vững, ( chỉ kéo dài) bao lâu ta c̣n trong thời gian hiện hữu và phải dẹp sang một bên khi ta phải qua đi (sang một hiện hữu khác).[109] Chính v́ thế liên quan đến vấn đề này ghen ghét và ích kỷ chẳng nên được nuôi dưỡng ở đây. Đó là ư nghĩa.

22. [88] Cha của Bhuta’giờ đây đă (idāni Bhūtassa pitā): Hỡi Bhuta, con trai của người phú hộ, giờ đây đă. Từ chợ về: āpaṇā=āpaṇato (một dạng ngữ pháp chuyển đổi): đă tới, đă quay trở về với căn nhà này. Rất có thể ông ta sẽ cho nàng điều ǵ đó (app’eva te dade kiñcī): khi người phú hộ quay trở về nhà có lẽ người đó sẽ cho em điều ǵ thích hợp để biếu cho người cúng dường . Xin đừng đi khỏi nơi đây (mā su tāva ito agā): nàng nói lên từ ḷng từ bi quảng đại của nàng. “Xin đừng đi khỏi đây, khỏi sân đàng sau ngôi nhà., cho đến khi...

23. Khi nàng nghe được điều này, peti liền thốt lên đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘‘Chị phải loả lồ và có diện mạo gướm giếc’ để cho thấy nàng đă cảm thấy trắc ẩn trong ḷng. Về điểm này, đây là điều thật xấu hổ cho những người phụ nữ (kopīnam etam itthīnaṃ): t́nh trạng loả lồ và xấu xí như vậy v.v... quả là đáng xấu hổ [110]cho những người phụ nữ, và phải được tránh xa,[111] do cần phải được che đậy lại. Xin đừng để cho cha Bhuta nh́n thấy chị (mā maṃ Bhūtapitāddasa): ‘Chính v́ thế xin đừng để cho cha của Bhuta, người phú hộ, có thể nh́n thấy chị trong t́nh trạng này,’ nàng nói một cách hổ thẹn.

24. Khi nàng nghe được điều này Tissa tràn ngập trong ḷng ước muốn giúp đỡ và thốt lên đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘thôi được, em có thể giúp chị được điều ǵ đây? Về điểm này được rồi (handa) là một tiểu từ đặt ở đây theo nghĩa cú câu (metri causa). Em có thể làm cho chị được điều ǵ?: kin t’āhaṃ dammi=kin ta ahaṃ dammi ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); liệu em có phải cho chị y phục hay vật thực? Hay em có thể làm ǵ được cho chị? (kiṃ vā ca te karom’ahaṃ): hay dịch vụ nào khác em có thể làm được cho chị ngay tại đây vào lúc này?

25. Khi nàng nghe được điều này, nữ ngạ quỉ lại thốt lên câu kệ bắt đầu như sau: “Bốn tỳ khưu làm thành một tăng đoàn’ Về điểm này bốn tỳ khưu thuộc một tăng đoàn và bốn vị đều là những cá nhân (cattāro bhikkhū saṅnghato cattāro pana puggale): Bốn tỳ khưu cùng một tăng đoàn các tỳ khưu [112] tượng trưng cho một tăng đoàn và bốn vị tỳ khưu lại là những cá nhân. - xin hăy nuôi ăn cả tám tỳ khưu làm thế nào cho họ được thoải mái và hồi hướng phước thí này cho chị. Xin hăy cho chị một của bố thí đă được hồi hướng. Thế rồi chị sẽ được hạnh phúc (tadāhaṃ sukhitā hessaṃ) có nghĩa là khi em đă hồi hướng[113] của thí đó cho chị chị sẽ được hạnh phúc. Sẽ chứng đắc hạnh phúc và sẽ được dồi dào tất cả những ǵ chị ước muốn.

Khi nghe nàng nói như vậy, Tissa đă thông báo cho chồng nàng biết về vấn đề này và vào ngày hôm sau chàng đă bố thí cho tám tỳ khưu và hồi hướng phước thí cho nàng. Ngay tức khắc nàng đă đạt được thù thắng chư thiên. Và một lần nữa lại tiến lại gặp Tissa. Để chứng tỏ điều này những vị duyệt xét lại bản văn Kinh Phật lại chèn thêm ba đoạn kệ bắt đầu như sau; “tốt lắm’ ‘nàng đồng ư’ khi nàng c̣n đứng đó sau khi đă tiến lại gần. Tissa đă hỏi nàng[114] với ba đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘(chị c̣n đứng đó’)’ với vẻ kiều diễm tuyệt trần’ [89] nàng liền tỏ rơ chân tướng của ḿnh bằng bắt đầu: “chị chính là Mattā” và bày tỏ sự tuỳ hỷ của nàng với đoạn kệ bắt đầu với: mong rằng em sống lâu’ sau đó lại khích lệ Tissa với đoạn kệ bắt đầu như sau: hăy hành động làm sao ở đây cho hợp với Phật Pháp.’

32. Về diểm này được nàng ban cho: tava dinnena=tayā dinnena (một dạng ngữ pháp hồi chuyển).

33. Một nơi không c̣n sầu khổ hay ô nhiễm (asokaṃ virajaṃ thānam): đó là chính là cơi trời là nơi chẳng c̣n sầu khổ do thiếu vắng sầu khổ và thoát khỏi ô nhiễm do chẳng có mồ hôi và bụi bẩn – nàng nói toàn bộ những điều này có liên quan đến cơi Chư Thiên. (devaloka). Nơi cư trú (āvāsaṃ): là nơi[115] trú xứ của các bậc Vasavattis (Vasavattinaṃ): đối với những kẻ nào vận dụng năng lực sức mạnh của ḿnh (vasaṃ) bằng quyền lực[116] chư thiên.

34. Cùng với cội nguồn của nó (samūlaṃ): cùng với bợn nhơ thèm khát, cùng với bợn nhơ tham lam đó chính là cội rễ ích kỷ. Không thể chê trách được (vô tàm) (aninditā)” không thể khiển trách được, đáng khen ngợi. Hăy tiến tới nơi chư thiên. (saggam upehi thānaṃ) mong rằng em sẽ tiến tới nơi chư thiên, có nghĩa là mong rằng em đạt được thiên giới (saggaṃ)[117] v́ thiên giới là nơi tối thượng (suṭṭhu-aggattā) trong phạm vi các dục trần như thể những vật hữu h́nh v.v... điều c̣n lại đều đă rơ ràng.[118]

Thế rồi Tissa nêu vấn đề cho người phú hộ. Người phú hộ lại nêu vấn đề cho các tỳ khưu và các tỳ khưu liền bạch cho Đức Phật. Đức Phật coi là vấn đề đo chính là nhu cầu nổi lên và ngài liền diễn giải Phật Pháp cho đám người đang tụ họp lại ở đó. Khi họ nghe những điều này, họ thấy dao động tâm linh, họ đă loại bỏ hết những vết bẩn ích kỷ v.v... và hướng về giới đức bố thí v.v... và đă được tái sanh nơi cơi hạnh phúc.

 

-ooOoo-

 

[93] Chú giải Se Be giải thích là usūyati c̣n bản văn ghi là dusayati.

[94]. Chú giải Be giải thích là saṅjhāya (Se saṃjjhāaya) c̣n bản văn ghi là saññāya.

[95]. Chú giải Se Be giải thích là Mattā nāma c̣n bản văn ghi là Mattā.

[96]. Chú giải Se Be giải thích là pure ti c̣n bản văn ghi là pure.

[97]. Chú giải Se Be giải thích là ti c̣n bản văn ghi là te.

[98]. Chú giải Se Be giải thích là sammatayi c̣n bản văn ghi là āmantayi.

[99]. Mucuna pruritus.

[100]. Chú giải Se Be giải thích là samitī c̣n bản văn ghi là samitiṃ.

[101]. Vāmato; theo nghĩa đen từ phía bên trái, so sánh thực hiện việc thiện bằng cách đi quanh bên phải eg. PvA 74 ở trên.

[102]. Chú giải Se Be giải thích là paricārenti c̣n bản văn ghi là parivārenti.

[103]. Xin đọc chú giải PvA 81.

[104]. Kacchuregena. Theo nghĩa đen bằng kacchu hay là bệnh ngứa.

[105]. Osadhī xin đọc chú giải PvA 71 ở trên.

[106]. Hiểu theo nghĩa đen là tự bảo vệ ḿnh. Qua bản tánh khó chịu. Be giải thích là sayaṃ bhūtā. Có nghĩa là tự phát triển hay tự thuộc vào ḿnh.

[107]. Chú giải Se Be giải thích là eva c̣n bản văn ghi là evaṃ.

[108]. Phải là trung tính danh cách số nhiều. imāni, là đồng ư với tañ’evābharaṇāni.

[109]. Xin đọc PvA 175 dưới đây, đây có lẽ là một lời khẳng định không thông dụng về vô thường trong đó ở đây chính vô thường của người sở hữu đem lại cho đối tượng bản tánh vô thường hơn là bất kỳ phẩm chất nội tại nào nơi chính những đối tượng đó.

[110]. kopīnaṃ, hiểu theo nghĩa đen pudenda và thông qua phạm vi cả điều ǵ đáng chê trách (xin đọc chú giải tiếng latin pudere, bị mắc cỡ) cũng là khố. Xin cũng đọc PvA 172 dưới đây theo Gehman ‘đây là chiếc khố của ta’ không có ǵ liên quan cả, ư nghĩa từ kopinam được thấy trong tự điển Childers nhưng không thấy liệt kê trong tự điển PED.

[111]. Chú giải Se Be giải thích là rundhanīyaṃ c̣n bản văn ghi là rundhamānaṃ.

[112]. Chú giải Se Be giải thích là bhikkhusaṅghato c̣n bản văn ghi là bhikkhū saṅghato.

[113]. Chú giải Se Be giải thích là mama uddisissasi c̣n bản văn ghi là mamādisissasi.

[114]. Chú giải Se Be giải thích là pana naṃ c̣n bản văn ghi là pattaṃ.

[115]. tṭhāanaṃ - cũng vậy chú giải Be giải thích là adhiṭṭhānaṃ; Se giải thích là adhiṭṭhānaṭṭhānaṃ, là một vị trí cố định ở đây. xin đọc chú giải PED sv adhiṭṭhāna.

[116]. Chú giải Se Be giải thích là ādhipateyyena c̣n bản văn ghi là adhi-

[117]. Chú giải Se Be giải thích là saggaṃ c̣n bản văn ghi là sagaṃ; xin đọc nguyên từ tương đương trong PvA 9 ở trên.

[118]. Chú giải Se Be giải thích là uttānaṃ c̣n bản văn ghi là vuttānaṃ.