NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

  CHÚ GIẢI  

CHUYỆN NGẠ QỦI

(Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:              Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I.5 Chú giải chuyện ngạ quỉ NGOẠI BỨC TƯỜNG[80]
[Tirokuḍḍapetavatthuvaṇṇanā)

‘Họ đang đứng bên ngoài bức tường nhà.’ Vị Đạo sư đang lưu lại trong thành Rājagaha đă thuật lại chuyện kể dưới đây liên quan đến số lớn các ngạ quỉ. Đây là câu chuyện được thuật lại chi tiết như sau.

Chín mươi hai niên kỷ qua có một thành phố tên là Kāsipurī có nhà vua tên là Jayasena trị v́ tại đó. Hoàng Hậu của ngài tên là Sīrimā và hoàng hậu đang mang thai Bồ Tát Phussa là người đến đúng thời điểm qui định đă chứng đắc Giác Ngộ Toàn Hảo trở thành Bồ Tát. Nhà vua Jayasena rất thích có của cải, nghĩ rằng, ‘Con trai ta là người sẽ thực hiện Đại Từ Bi và sẽ trở thành một vị Bồ Tát. Chỉ có ḿnh con trai ta sẽ trở thành một vị Phật, Đức phật là của riêng ta, Phật Pháp là của riêng ta và Tăng Đoàn là của riêng ta.’ Và nhà vua đă liên tục chờ đợi biến cố này, không dành cho bất kỳ ai một cơ hội nào, ba người anh em của Đức Thế Tôn, những người em trai cùng cha khác mẹ nghĩ rằng,[20] ‘Quả thực Đức Phật sanh ra nhằm đem lại lợi ích cho toàn cơi trần gian này, không chỉ cho một người mà thôi, thật vậy cha chúng ta lại không để cho bất kỳ người nào khác một cơ hội như thế. Giờ đây chúng ta phải làm sao thế nào mới có thể hầu hạ Chư Tăng được?’ Và rồi một ư tưởng nổi lên trong đầu họ, “Nào chúng ta hăy bầy ra một mưu xem nào!’ Chính v́ thế họ đă bày mưu, có một cuộc binh biến xẩy ra ngoài biên cương.’ khi nhà vua nghe biết cuộc chinh biến, ngài đă sai ba người con trai lên được để b́nh định khu vực đó. Cả ba đă lên đường và đă dẹp yên được chinh biến rồi khi quay trở về nhà vua rất hài ḷng và ban cho cả ba người một ân huệ, nói rằng, ‘Hăy lấy bất kỳ thứ ǵ các ngươi ước ao.’ ‘Chúng ta chỉ muốn hầu hạ Đức Phật,’ họ trả lời cho nhà vua, ‘các ngươi có thể lấy bất kỳ thứ ǵ khác ngoài vị đó ra,’[81] cả ba trả lời đức vua. “Chúng con chẳng quan tâm đến điều ǵ khác ngoài Đức Phật’ họ nói, ‘Trong trường hợp này hăy tự đặt một thời gian và hăy chăm sóc cho ngài.’ Họ năn nỉ xin được hầu ha, Đức Phật trong bảy năm nhưng nhà vua không cho. Họ lại năn nỉ sáu năm tiếp theo sau đó, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm; chỉ bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, đến ba tháng th́ nhà vua nói, ‘Thôi được rồi hăy hầu hạ ngài đi!’ Cả ba người đến gặp Đức Phật và nói, ‘Thưa Đức Thế Tôn, chúng ta mong muốn được hầu hạ Ngài trong ba tháng, thưa ngài, mong rằng Đức Phật chấp nhận cho chúng tôi được hầu hạ ngài trong ba tháng an cư kiết hạ này’. Đức Phật chấp nhận bằng cách im lặng. Cả ba người đă gửi đi một lá thư[82] cho các thuộc hạ của họ trong thị trấn này (là nơi Đức Phật sẽ lưu lại) khẳng định rằng, ‘Chúng tôi sẽ hầu hạ Đức Phật trong suốt ba tháng an cư kiết hạ. Trước tiên hăy cho xây một thiền viện và rồi trang bị mọi thứ cần thiết để dùng vào việc hầu hạ ngài.’ Người hầu đă báo tin trở lại khi mọi sự đă được trang bị xong. Họ cho mặc toàn một loại vải màu vàng và rồi cùng với hai ngàn năm trăm người hầu là nam giới, dẫn Đức Phật đến địa điểm và cùng với tăng đoàn các vị tỳ khưu đến thị trấn đó, chăm sóc cho họ tương xứng, và rồi trao thiền viện cho các ngài sử sự và họ đă trải qua mùa an cư kiết hạ tại đó. Vị quan thủ quĩ là một người con trai của một chủ hộ và đă lập gia đ́nh, đều đặt niềm tin và ḷng mộ mến nơi Đức Phật . Với việc chăm sóc cẩn thận họ đă trao toàn bộ vật thí cho tăng đoàn các vị tỳ khưu với Đức Phật dẫn đầu. Nguời sứ giả nơi thị trấn đó đă nhận những người này đồng thời cùng với mười một ngàn người trong thị trấn đă tổ chức một cuộc bố thí[83] với sự chăm sóc thích đáng, giờ đây có một số người trong vùng với ác tâm. Họ đă ngăn cản cuộc bố thí. Chính họ đă sử dụng tất cả những đồ cúng dường và nổi lửa đốt khu vực nhà ăn. Sau khi họ đă cử hành nghi lễ Pavarana[84] các vị hoàng tử của nhà vua đă kính lễ Đức Phật [21] và rồi quay trở về nhà[85]có Đức Phật đi trước họ, đến tŕnh diện vua cha. Sau khi Đức Phật đến đó th́ ngài đă nhập vô dư níp bàn.

Đến thời điểm nhất định các vị hoàng tử, tỳ khưu giả của họ nơi thị trấn đó và người thủ quỹ hoàng gia cũng đă qua đời và họ được tái sanh nơi thiên giới cùng với đoàn người đi theo hầu, trong khi đó những kẻ có tâm trí thối nát lại phải tái sanh nơi hoả ngục. Chín mươi hai Đại Niên kỷ trôi qua, như vậy trong khi cả hai nhóm chúng sanh đều đă tái sanh trên thiên giới và dưới hoa ngục một cách tương xứng. Thế rồi trong đại niên kỷ thiện này[86] vào thời Đức phật Kassapa, những người có tâm địa thối nát đó đă phải tái sanh nơi cơi ngạ quỉ. Vào thời đó khi chúng sanh đă tổ chức cuộc bố thí nhân danh các ngạ quỉ họ hàng thân thuộc của ḿnh, họ đă bố thí cho họ nói rằng, ‘Hăy dâng cúng của thí này cho dành những người họ hàng thân thuộc của chúng ta!’ (trong đó họ đă chứng đắc những điều tột đỉnh. Giờ đây khi các ngạ quỉ nh́n thấy điều này họ đă tiến lại gần Đức phật Kassapa vào hỏi ngài, “Thưa Đức Thế Tôn, làm thế nào cả chúng ta nữa cũng đạt đến điều tuyệt diệu như vậy?’ Đức Thế Tôn nói, ‘Các ngươi không thể đạt đến điều đó ngay lúc này, tuy nhiên trong tương lai cũng sẽ xuất hiện một vị Tự Giác Ngộ có tên là đức Cồ Đàm, vào thời Đức Phật này sẽ xuất hiện một vị vua tên là Bimbisāra ngài là người họ hàng thân thuộc của các ngươi khoảng độ chín Đại Kỷ nguyên trước đó, ngài sẽ bố thí cho vị Đức Phật này và sẽ hướng các phước thí cho các ngươi. Thế nên các ngươi sẽ chứng đắc sự tuyệt đỉnh như vậy. Người ta kể lại rằng khi ngài nói những lời này h́nh như dành cho các ngạ quỉ đó như thể ngài nói họ sẽ chứng đắc được điều đó ngay ngày hôm sau.

Thế rồi một Đại Phật kỷ[87] đă trôi qua và Đức Thế Tôn cũng đă tái sanh trên trần gian thuộc ba vị hoàng tử của nhà vua. Cùng với hơn một ngàn người cũng đă rơi từ devaloka và tái sanh trong một bộ tộc bà la môn[88] trong vương quốc nhà vua Magadha. Đến thời gian qui định họ đă xuất gia thực hiện cuộc sống vô gia cư nơi cuộc sống khổ hạnh và đă trở thành các vị sa mônđể tóc búi[89]tại Gayāsīsa[90]. Vị xứ giả trong thị trấn đó trở thành nhà vua Bimbisāra và vị thủ quĩ hoàng gia là con trai của chủ gia nhân trở thành người thương nhân giàu có, Visākha vợ của ông tên là Dhammadinnā, là con gái của người thương gia giàu có; trong khi đó những người c̣n lại trong nhóm đó đă tái sanh thành đoàn tuỳ tùng của nhà vua.

Khi Đức Phật đă giáng lâm xuống cơi trần gian này và đă trải qua bảytuần (tiếp theo sau khi ngài chứng đắc giác ngộ) đến đúng thời điểm ấn định ngài đă đến thành Benares là nơi ngài đă khởi động chuyển pháp luân lần đầu tiên và đă giải thích[91]cho nhóm người đầu tiên nam người và trong đó có ba vị sa môntóc búi. Cùng với một ngàn người đi theo hầu và rồi ngài tiến vào thành Rājahaga [22] ở đó ngài đă an trú chính qua Nhập Lưu cho nhà vua Bimbisāra người đă đến thăm ngài vào cùng ngày hôm đó. Cùng với một trăm ngàn[92] gia chủ bà la môn là cư dân sống tại Anga-Magadha.[93] Ngài đă chấp nhận lời mời dùng cơm của nhà vua vào ngày hôm sau và ngày kế tiếp sau đó ngài đă vào thành Rājagaha cùng với Sakka, là chúa tể các chư thiên, họ là những người đă hiện thành chàng trai bà la môn, đi trước ngài và luôn cất giọng ngợi khen ngài với đoạn kệ bắt đầu như sau:

Kẻ đă được thuần hoá đi chung với kẻ đă thuần hoá. Người đă được giải thoát sánh bước cùng những kẻ đă được giải thoát; Đức Phật, toả sáng tự châu báu màu vàng, đă nhập thành Rājagaha với các sa mônđể tóc búi tiền kiếp.’[94]

Và trong trú xứ của nhà vua ngài đă tổ chức một cuộc bố thí lớn. Giờ đây các ngạ quỉ đứng vây quanh toà lâu đài, nghĩ rằng, “Giờ đây đức vua sẽ hồi hướng vật thí đến cho chúng ta’ nhưng khi ngài thực hiện bố thí th́ nhà vua chỉ nghĩ đến một nơi xay dựng một thiền viện cho Đức Phật, họ suy nghĩ, ‘Giờ đây ta phải thỉnh Đức Phật cư trú tại đâu?’ và đă không hồi hướng vật thí cho bất kỳ ai hết. V́ không thể có được của bố thí bằng cách này, những ngạ quỉ đó đă mất hy vọng và vào đêm hôm đó họ đă kêu than trong nỗi thất vọng cay đắng thống khổ ngay trong nơi cư ngụ của nhà vua. Nhà vua đă dao động và tràn ngập sợ hăi run rẩy. Khi trời vừa sáng ngài đă bạch cho Đức Phật nói rằng, “Trẫm đă nghe thấy một tiếng như thế trong đêm, điều ǵ đă xẩy đến cho trẫm vậy thưa Đức Phật ? Đức Phật nói “Xin đừng sợ hăi làm chi, hỡi đại vương, chẳng có điều xấu nào xẩy đến cho nhà vua đâu. – ngài sẽ được b́nh thân thôi.’ Thực tế đă xẩy ra là[95] những người họ hàng thân thuộc của đại vương đă tái sanh nơi cơi ngạ quỉ, đă đi quanh đây trong suốt một Đại Phật niên kỷ với hy vọng[96] là ngài sẽ hướng của thí cho họ. Nhưng khi ngài tổ chức bố thí ngày hôm qua[97] nhà vua lại không hồi hướng phước đó cho họ và họ đă tuyệt vọng và kêu than thảm thiết đến như vậy.’ “Liệu họ có nhận được phước đó chăng thưa Đức Phật, nếu chúng ta hướng phước đó cho họ ngay vào lúc này?’ (nhà vua hỏi). ‘Được thưa đại vương’ thế rồi xin Đức Phật nhận lời mời của trẫm vào ngày hôm nay[98] và trẫm sẽ hồi hướng phước bố thí cho họ. Đức Phật nhận lời bằng cách im lặng. Nhà vua đi vào lâu đài hoàng gia và đă truyền cho sửa soạn một cuộc bố thí vĩ đại và đến giờ ngài đă thỉnh Đức Phật .[23] Đức Phật đă tiến vào trong sân hoàng cung[99] cùng với đoàn đồ đệ các tỳ khưu và ngồi xuống trên vị trí dành cho ngài. Các ngạ quỉ lại suy nghĩ, “Hôm nay chúng ta có thể nhận được điều ǵ đó’ rồi họ đến đó và đứng ngoài bức tường thành. Đức Phật đă biến họ hiện h́nh người thế nên đức vua đă nh́n thấy toàn bộ họ. Khi ngài đưa nước bố thí nhà vua đă hướng phước báu đó, nói rằng, ‘Hăy dành phước thí này cho những người họ hàng của trẫm’. Ngay lúc đó th́ trẩm dành cho các ngạ quỉ nở đầy hoa sen đă xuất hiện.[100] và những bông súng màu xanh.[101] Các ngạ quỉ đă tắm và uống nước trong đó cùng với buồn khổ và mệt mỏi và khát được giảm bớt hẳn[102]nhà vua đă ban cơm dẻo và cơm cứng và đồ ăn và hướng phước đó cho họ và ngay giây phút đó th́ cơm dẻo thiên cung và đồ ăn mền cứng[103] cũng xuất hiện khi họ ăn những thứ đó th́ các căn của họ được tỉnh táo tươi mát[104] nhà vua lại bố thí quần áo vải vóc và chỗ ở cho họ và hồi hướng những thứ này cho họ và ngay lập tức quần áo chư thiên và rất nhiều toà lâu đài đa dạng được trang bị với chơng nằm và khăn trải v.v... [105] cũng xuất hiện dành cho họ. Toàn bộ những điều tuyệt tác này đă xảy đến với họ cho nhà vua và Đức Phật đă quyết tâm phải thực hiện khi nhà vua nh́n thấy những điều kỳ diệu này xảy ra ngài vô cùng sung sướng trong ḷng. Và khi Đức Phật đă dùng xong bữa và đă no nê đầy đủ ngài nói với nhà vua Bimbisāra câu chuyện bên ngoài bức tường ngạ quỉ để chứng tỏ cho ngài thấy ḷng ngưỡng mộ của ngài:

1.      Họ đứng bên ngoài bức tường và ngay nơi những con đường giao nhau và những ngă rẻ; họ đă quay trở lại chính nhà của họ và đứng bên ngoài cửa vào.

2.      Cho dù đồ ăn thức uống quá dồi dào, cả thực phẩm gồm loại cứng loại mềm cũng đă được dọn ra, và đă được phục vụ nhưng không một ai nhớ đến những thọ tạo đó liên quan đến những hành vi họ đă thực hiện.

3.      Chính v́ thế những kẻ nào có ḷng từ tâm hăy dâng cúng những đồ ăn và thức uống đúng thời điểm, thượng vị và tinh khiết nhất để hồi hướng đến những bà con thân thuộc của ḿnh nói rằng, “Mong rằng những của bố thí này hồi hướng tới bà con thân thuộc của chúng ta! Mong rằng bà con thân thuộc của chúng ta được sung sướng!”

4.      Và những bà con thân thuộc của chúng ta làm ngạ quỉ ấy đă tề tựu lại tại đó họ tả tỏ ḷng ngưỡng mộ đối với những của ăn thức uống dồi dào (nói rằng).

5.      “Mong rằng những bà con họ hàng của chúng ta được sống lâu nhờ họ chúng ta có được tất cả mọi sự v́ ḷng tôn kính đă được trả lại cho chúng ta và những kẻ nào đă bố thí mà không có kết quả.

6.      V́ ở đó chẳng có trồng tỉa, chẳng có[106] chăn nuôi, cũng chẳng có những điều ta gọi là buôn bán hay đổi chác bằng vàng ngọc châu báu. Ngạ quỉ là những kẻ đă khuất[107] chỉ được nuôi sống bằng những ǵ chúng ta bố thí từ trên đây[108] mà thôi.

7.      Như nước mưa chảy từ trên cánh đồng cao xuống cánh đồng thấp cũng như vậy những ǵ được bố thí từ trên cơi đời này sẽ đem lại lợi ích cho các ngạ quỉ vậy.

8.      Cũng giống như ḍng suối tràn đầy lượng nước sẽ chảy xuống đại dương, cũng như vậy những ǵ được bố thí trên cơi đời này sẽ đem lại lợi ích cho Ngạ quỉ vậy.

9.      Những kẻ đó đă ban cho tôi, đă làm việc v́ tôi. Họ là họ hàng ruột thịt là bạn bè và bạn hữu với ta”(như vậy) nhớ lại những ǵ họ đă sử dụng mà thực hiện bố thí cho các ngạ quỉ vậy.

10.  Dầu khóc lóc đến mấy, dầu buồn khổ hay than văn biết bao nhiêu cũng không đem lại lợi ích ǵ cho ngạ quỉ cả, cho dù những thân bằng quyến thuộc của họ cứ kiên định khăng khăng đ̣i theo họ.

11.  Nhưng của bố thí này được thực hiện và được trồng tỉa vững chắc trong chư tăng sẽ đem lại ích lợi cho họ với kết quả tức thời và đem lại lợi ích lâu dài cho họ.

12.  Vậy đây là nghĩa vụ của những người thân họ hàng đă được vạch ra và ḷng tôn kính cao độ đă được thể hiện nơi ngạ quỉ; sức mạnh đă được trang bị cho các vị tỳ khưu và công việc phước đức đă thực hiện luôn theo đuổi ngươi.

1. Về điểm này bên ngoài bức tường (tiro kuḍḍesu): ở bên kia bức tường. Họ đang đứng chờ đợi (tiṭṭhan ti): cách diễn tả này xác định được cách đứng của họ đối nghịch lại với các tư thế khác như thể tư thế ngồi v.v... [109]có nghĩa là họ đứng như vậy bên ngoài bức tường, vượt qua, bên ngoài hàng rào[110] vây quanh ngôi nhà và ngay tại những giao lộ và các ngă tư đường: sandhisiṅghātakesu ca = sandhīsu ca singhātakesu ca (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); là những vị trí có bốn con đường gặp[111] nhau, những giao lộ với những căn nhà, giao lộ với những bức tường, và được gọi là những giao điểm, trong khi ngă tư đường là những nơi có ba bốn con đường giao nhau, đứng ngay ở những trụ cửa (dvārabāhāsu tiṭṭhanti): đứng tựa vào những cây trụ nơi cổng thành và trước cửa nhà. Họ quay trở về nhà của ḿnh (āgantvāna sakaṃ gharaṃ): nhà của chính họ có thể là nhà của người bà con họ hàng tiền kiếp cũng như chính nhà của họ trong đó họ đă sống và làm chủ ngôi nhà đó. V́ họ đă trở về liên quan đến cả hai hạng người đó nên họ nói rằng ‘Họ quay trở lại chính căn nhà của ḿnh.’ Đức Phật đă có câu kệ bắt đầu rằng: “Họ đứng bên ngoài bức tường chỉ cho nhà vua rất nhiều ngạ quỉ, họ rất xấu xí, dị dạng và kinh khủng có thể nh́n thấy đang phải chịu hậu qủa[112] do ghen tị bủn xỉn mà ra”. Họ đang đứng bên ngoài bức tường sau khi đă đến nơi cư ngụ của nhà vua Bimbisara coi đó là chính nơi cư trú của ḿnh. V́ đó là nhà của một người họ hàng trước đó cho dù trước đó họ đă không ở trong đó trong quá khứ[113]. Rồi ngài lại thốt lên một đoạn kệ thứ hai nữa bắt đầu với: “Cho dù có rất nhiều đồ ăn thức uống quá dư thừa’ cho thấy tính chất đáng sự của những hành vi bất thiện họ đă thực hiện.

2. Về điểm này nhiều, dồi dào (pahūte) nhiều, số nhiều có nghĩa là đủ cho nhu cầu.[25] Ta có thể thay thế nguyên âm pa bằng nguyên âm ba [như vậy chuyển bahu trong bản kinh thành pahu] như trong các đoạn “cho dù có nhiều, vị ấy không thể hỗ trợ... ’ (pahu santo na bharuti). Tuy nhiên một số vị giải thích là ‘dồi dào’ (bahuke) nhưng cách giải thích này xem ra không thận trọng[114]. Đồ ăn thức uống: annapānamhi=anne ca pāne ca ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài): bằng cách đưa ra ‘bốn loại’ ngài chỉ rơ có bốn loại đồ ăn:Loại thực phẩm để ăn, uống, nhai và nhấm nháp. Được dọn ra (upaṭṭhite): được bắt đầu (upagamana) được đưa ra (ṭhite), có nghĩa là được đưa ra, đă sẵn sàng. Chẳng ai c̣n nhớ đến những chúng sanh đó (na tesam koci sarati sattānaṃ): chẳng có ai, dù là mẹ, cha, con trai, cháu chắt là những thành viên đă sanh ra nơi cơi ngạ quỉ. V́ lư do ǵ vậy? Do hành vi nghiệp chướng họ đă thực hiện. bằng lư do[115] đó những hành vi keo kiệt họ đă thực hiện gồm có không thực hiện bố thí hay ngăn cản cuộc bố thí đó v.v... - chính do hành vi này[116] đă không cho phép những người bà con họ hàng không tưởng nhớ đến họ. Khi ngài đă chứng tỏ cho thấy bằng cách nào cho dù có rất nhiều đồ ăn thức uống[117] v.v... nhưng do những hành vi nghiệp chướng đó mà ngay cả chỉ tưởng nhớ đến một chút về phía họ hàng thân thuộc của các ngạ quỉ đó cũng không được thực hiện chính v́ thế mà các ngạ quỉ này chờ đợi hy vọng sẽ có được một chút bố thí từ phía bà con thân thuộc của họ. Thế rồi Đức Phật đă thốt lên đoạn kệ (bắt đầu như sau): (chính v́ thế những kẻ nào có ḷng từ bi quảng đại) đều bố thí cho những họ hàng thân thuộc của ḿnh và ca ngợi những của bố thí được thực hiện[118] nhân danh những họ hàng của ḿnh đă sanh ra nơi cơi ngạ quỉ.

3. Về điểm này từ so (evaṃ) là từ so sánh. Có thể được phân tích theo hai cách: cho dù họ không tưởng nhớ đến chúng sanh do nghiệp họ đă làm. Một số cũng bố thí cho họ hàng thân thuộc của ḿnh, chính v́ thế họ có ḷng từ bi quảng đại; và những kẻ nào có ḷng từ bi th́ bố thí cho những người thân của ḿnh những đồ ăn thức uống tinh khiết nhất, tuyệt hảo nhất, đúng lúc và thích hợp nhất v́ của bố thí nhà ngươi thực hiện như vậy, hỡi đại vương. Ở đây bố thí (dadanti): có nghĩa là dành cho, uỷ thác cho. Dành cho họ hàng thân thích (ñarīnaṃ): dành cho những kẻ nào có quan hệ cả về bên nội cũng như bên ngoại. Kẻ nào (ye): bất kỳ con trai v.v... bất cứ ai: honti=bhavanti (dạng ngữ pháp chuyển đổi). Có ḷng từ bi thương xót (anukampakā): ước ao tạo hạnh phúc cho họ, là kẻ t́m kiếm hạnh phúc cho họ. Tinh khiết nhất (suciṃ):sạch sẽ, hấp dẫn và phù hợp với Phật Pháp. Chọn lựa (panitaṃ): tuyệt vời nhất. đúng thời điểm (kālena): vào thời gian thích hợp[119] dành cho những kẻ xứng nhận của bố thí để ăn hay vào lúc họ hàng đă đến [26] và đứng ngoài hàng rào (bức tường). Thích hợp (kappiyaṃ): thích hợp, h́nh như xứng đáng dành cho các vị thánh được ăn. Đồ ăn thức uống: pānabhojanaṃ=pānañ ca bhojanañ ca (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) ở đây ngài đề cập đến[120] toàn bộ những phước thí. Thế rồi, cho thấy bằng cách nào ta phải bố thí cho ngạ quỉ, ngài nói rằng. ‘Hăy dành điều này cho những người họ hàng thân thuộc của ta! mong rằng điều này mang phước đến cho họ khiến họ được hạnh phúc.!’ điều này cần được giải thích theo phần đầu đoạn kệ thứ ba. Như vậy: chính v́ thế những kẻ nào có ḷng từ bi quảng đại nên bố thí cho họ hàng thân thuộc của ḿnh nói rằng. “hăy dành những thứ đó cho bà con thân thuộc của ta và mong rằng họ được hạnh phúc sung sướng!’ bằng cách này ngài làm rơ cách thức phải thực hiện bố thí[121] ra làm sao. Ở đây điều này (idaṃ) chứng tỏ làm rơ phước thí. Vo (không dịch) chỉ là một tiểu từ (trong những đoạn như) một trong số những kẻ lành thánh đó... ” (ye hivo ariyā) hăy hướng của thí này cho họ hàng chúng ta (ñarīnaṃ hotu): hăy hướng của thí này cho họ hàng chúng ta đă tái sanh nơi cơi ngạ quỉ.! Một số giải thích họ hàng của ta: no ñatīnaṃ=amhākaṃ ñarīnaṃ (dạng ngữ pháp hoán chuyển)[122] mong rằng bà con thân thuộc của ta được hạnh phúc sung sướng! (sukhitā hontu nātayo): mong rằng họ hàng của ta đă tái sanh nơi cơi ngạ quỉ được sung sướng, đạt được hạnh phúc cảm nghiệm được phước thí này.! Cho dù ngài nói rằng. “ hăy dành của thí này cho họ hàng ta!’ đây không phải trường hợp một hành vi do người nào đó dành phước báucho người khác[123] nhưng chỉ đơn giản là những ǵ được bố thí nhân danh họ theo cách thức này đây chính là điều kiện để cho ngạ quỉ họ hàng[124] ta nhận được thí phước đó, là người đă thực hiện nghiệp thiện[125]. Chính v́ thế ở đây chỉ có nghiệp thiện mới tạo quả cho họ ngay giây phút phù hợp với những điều đó. Chứng tỏ điều này ngài thốt lên đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘và những ngạ quỉ họ hàng đă qui tụ lại và tụ họp ở đó.’

4. Ở đây từ những kẻ đó (te):nhưng ngạ quỉ họ hàng. Tại đó (tattha): tại nơi đang diễn ra cuộc bố thí. Họ đă tụ họp lại (samāgantvā):họ đă qui tụ lại tại đó để chứng tỏ ḷng ngương mộ của họ, nghĩ rằng, “Những họ hàng của chúng ta sẽ hồi hướng phước thí đó cho chúng ta!’ V́ có đồ ăn thức uống rất dồi dào[126] đối với những ǵ được bố thí nhân danh họ. Tỏ ḷng kính cẩn ngưỡng mộ (sakkaccaṃ anumodare): đặt niềm tin nơi nghiệp quả và không bỏ qua ḷng kính trọng của họ[127] và không gây xáo trộn trong thâm tâm [27] họ đă sung sướng và bắt đầu hoan lạc suy nghĩ rằng, “Mong rằng những của bố thí này trở thành hạnh phúc và sung sướng cho chúng ta[128] vậy!’

5. Cuộc sống trường thọ (chaṃ jīvantu): mong rằng họ được sống lâu, mong rằng họ được sống lâu! Đối với họ hàng chúng ta. (no nātī) đối với họ hàng chúng ta đă qua đi. nhờ có họ (yesaṃ hetu): v́ lư do có họ, tuỳ thuộc vào họ. Chúng ta đă nhận được (labhāmane) chúng ta đă nhận được điều tuyệt hảo đó. Điều này cho thấy cách thức các ngạ quỉ khen ngợi họ hàng thân thuộc của ḿnh đang cảm nghiệm được điều tuyệt hảo có được bằng cách thực hiện bố thí. Của thí tạo ra nghiệp ngay lập tức khi hội đủ và điều kiện: chứng đắc thành công đáng nhận phước thí đó. Cuộc bố thí được thực hiện do người thí chủ và được ngạ quỉ ngưỡng mộ. Về ba điểm này có điểm thuộc những thí chủ, đó là cách thức đặc biệt nhất; v́ lư do đó người ta nói rằng. “Nhờ họ mà chúng ta nhận được toàn bộ điều này,’nhằm kính lễ những ai đă hồi hướng cho chúng ta (amhākañ ca katā pūjā): do việc tôn vinh đă được dành cho chúng ta, do những ai đă thực hiện bố thí đó. “Mong rằng điều hồi hướng cho họ hàng chúng ta”và những thí chủ không phải không được hồi hướng quả báu (dāyakā ca anipphalā): v́ nghiệp đó bao gồm thực hiện bằng cách đó)[129] sẽ đem lại thí quả[130] chỗ này chỗ nọ. V́ việc phước đó được ấp ủ trong ḷng những người thực hiện bố thí đó. Ta có thể đặt nghi vấn tại điểm này[131] ‘Làm thế nào chỉ có[132]những kẻ đă sanh ra nơi cơi ngạ quỉ mới nhận được tuyệt hảo này nhờ họ hàng của họ hay những kẻ khác cũng nhận được hay không? Chúng ta không cần trả lời ǵ ở đây cả, v́ chính Đức Phật đă giải thích điều này như sau:

“Thưa ngài Cồ Đàm, chúng ta là những bà la môn đă bố thí và thực hiện những nghi thức cúng tế khác[133] nói rằng, “Mong rằng những của thí này đem lại lợi ích cho các ngạ quỉ là những họ hàng ruột thịt của chúng ta, mong rằng các ngạ quỉ họ hàng ruột thịt của chúng ta có thể hưởng phước báu các của thí này. Thưa ngài Cồ Đàm liệu những vật thí này có thực sự đem lại lợi ích cho các ngạ quỉ đó là họ hàng ruột thịt của chúng ta chăng? Lịêu các ngạ quỉ là họ hàng ruột thịt của chúng ta có thể được hưởng thực sự của thí đó chăng?”

“Nếu họ đang hiện hữu ở những vị trí thích hợp, thưa vị bà la môn, họ sẽ được hưởng lợi do của thí đó đem lại. Nếu họ hiện hữu ở một nơi không thích hợp th́ họ không nhận được.”

Nhưng thưa Đức Phật Cồ Đàm thế nào và vị trí thích hợp và thế nào là vị trí không thích hợp?”

“Thưa các vị Bà la môn, ở đây có người sát sanh, ăn trộm, tà dâm, nói dối[134], nói đâm thọc, nói lời thô lỗ, nói lời phù phiếm, tham lam, hiểm ác trong tâm[135] và có tà kiến. Khi thân xác họ đă đến lúc thân hoại mệnh chung sau khi chết, họ phải tái sanh trong hoa ngục. Người đó đau khổ ở đó, người đó tồn tại ở đó bằng bất cứ thứ ǵ gọi là đồ ăn cho chúng sanh nơi hỏa ngục, hỡi vị Bà la môn, đây chính là vị trí không thích hợp; những của thí đó không đem lại lợi ích ǵ cho những kẻ nào tồn tại đó.

Ở đây, thưa ngài bà la môn, có người đă đoạn tận sanh mạng... co tà kiến vào lúc thân hoại mệnh chung sau khi chết [28] người đó sanh ra trong bào thai súc sanh. Người đó duy tŕ cuộc sống tại đó, người đó lưu lại trong đó với bất kỳ loại thức ăn nào dành cho chúng sanh, sanh ra trong bụng súc sanh. Thưa ngài bà la môn, đây là vị trí không thích hợp: những của thí đó không làm lợi ǵ cho kẻ tồn tại ở đó.

“Ở đây, thưa ngài bà la môn, một người nào đó kiềm chế không sát sanh (không trộm cắp, tránh tà hạnh tham dục, tránh nói dối, tránh nói lời thâm thọc, tránh nói lời cọc cằn, tránh nói lời phù phiếm, không tham lam, không ác tâm và không có tà kiến. Vào lúc thân hoại mệnh chung sau khi chết, người đó được sinh ra trong cơi chúng sanh. (người đó duy tŕ cuộc sống tại đó, người đó tồn tại, tại đó bằng bất kỳ loại thực phẩm nào dành cho chúng sanh, thưa ngài bà la môn, đây chính là vị trí không thích hợp: những của bố thí đó không đem lại lợi ích ǵ cho những kẻ lưu lại trong đó.

“Ở đây, thưa ngài bà la môn, có người nào đó kiềm chế không sát sanh... và có chánh kiến, vào lúc thân hoại mạng chung, sau khi chết[136]người đó tái sanh nơi cơi chư Thiên. Người đó duy tŕ cuộc sống và lưu lại tại đó bằng bất kỳ loại thực phẩm nào dành cho các chư thiên. Thưa ngài ba là môn, đây[137] chính là vị trí thích hợp: những của bố thí đó không đem lại lợi ích ǵ cho những kẻ sống trong cơi đó.

“Ở đây, thưa ngài bà la môn, có người nào đó phạm tội sát sanh... có tà kiến. vào lúc thân hoại mạng chung, sau khi chết kẻ đó tái sanh nơi cơi ngạ quỉ[138], người đó duy tŕ cuộc sống và tồn tại ở đó bằng bất kỳ loại thực phẩm nào dành cho chúng sanh thuộc cơi ngạ quỉ. Hay kẻ đó tồn tại tại đó, kẻ đó lưu lại cơi đó nhờ bất kỳ người bạn hữu nào, người thân nào, người họ hàng ruột thịt nào dâng cúng họ tại đây[139] trên cơi đời này. Thưa ngài bà la môn, đây chính là vị trí thích hợp; những của thí cho những kẻ duy tŕ cuộc sống và tồn tại tại đó.

“Nhưng nếu như, thưa Đức Phật Cồ Đàm ngạ quỉ đó lại chính là anh em họ hàng ruột thịt của chúng ta lại không tái sanh tại nơi đó, ai là người sẽ được hưởng phước thí đó?

“Những kẻ khác, thưa ngài bà la môn, ngạ quỉ không phải là họ hàng ruột thịt của chúng ta được tái sanh nơi cơi đó. Những kẻ này sẽ được hưởng của thí đó.”

“Thưa ngài Cồ Đàm, nhưng nếu ngạ quỉ đó lại chính là bà con ruột thịt của chúng ta lại không tái sanh nơi cơi đó và những ngạ quỉ khác lại chính là bà con ruột thịt của chúng ta, cũng không phải tái sanh nơi cơi đó – th́ ai sẽ được hưởng phước thí đó?”

“Thưa ngài bà la môn, nhưng điều[140] này không thể xảy ra, điều này không thể có được đó là vị trí đó có thể là vị trí trống không trong một thời gian dài những ngạ quỉ là bà con ruột thịt máu mủ của chúng ta và bất kỳ thế nào, thưa ngài bà la môn, những kẻ bố thí đó không thể không có kết quả tốt.”[141]

Rồi để chứng tỏ những kẻ nào tái sanh nơi cơi ngạ quỉ lại duy tŕ cuộc sống nhờ vào những ǵ được bố thí từ trên này, và chẳng c̣n nguồn nào khác, như trồng cấy gieo tỉa, chăn nuôi v.v... đó chính là lư do họ chiếm được điều tuyệt hảo một đoạn kệ bắt đầu với: “v́ chẳng có điều ǵ như vậy được đề cập tới.

6. Ở đây v́ chẳng có việc trồng tỉa cấy hái nào tại đó (na hi tattha kasī atthi) : v́ chẳng có việc trồng tỉa cấy hái nào nơi cơi ngạ quỉ đó các ngạ quỉ có thể sống thoải mái dựa vào đó. Cũng như ở đây cũng chẳng có việc chăn nuôi nào được biết đến. (gorakkh’ettha ma vijati): tại đó nơi cơi ngạ quỉ, không những chẳng có việc trồng tỉa gặt hái nào được thực hiện, hơn thế nữa cũng chẳng có việc chăn nuôi nào [29] nhờ đó chúng có thể sống thoải mái. Cũng chẳng có những việc như buôn bán (vanijjā tādisī n’atthi): cũng chẳng có ngay cả những việc như buôn bán có thể là điều kiện để cho họ chiếm được những điều tuyệt hảo. Và cả buôn bán đổi chác bằng vàng bạc (hiraññena kayakkayaṃ): cũng chẳng diễn ra việc buôn bán hay đổi chác bằng vàng bạc châu báu có thể làm nguyên nhân để cho họ chiếm được những điều tột hảo. Những ngạ quỉ là những kẻ đă chết, tồn tại ở đó bằng những ǵ được bố thí từ cơi đời này (ito dinnena yāpenti petā kālagatā tahiṃ): họ duy tŕ cuộc sống, họ tiếp tục tồn tại. Hoàn toàn dựa vào những ǵ được bố thí từ cơi đời này do họ hàng bạn bè và những người thân hữu. Những ngạ qủi đó ( Petas): những chúng sanh đă tái sanh nơi cơi ngạ quỉ. Những kẻ đó đă qua đi (kālagatā): những kẻ đă qua đi do đă đến thời điểm họ phải chết. Một cách giải thích khác là những kẻ đó đă chết (kālakatā): những kẻ đă hoàn tất thời gian nghiệp chướng.[142] Những kẻ đó đă chết. Những kẻ đó đă đạt đến sự chết. Tại đó (tahiṃ): nơi cơi ngạ quỉ đó, thế rồi ngài đă thốt lên hai đoạn kệ bắt đầu như sau: “Giống như nước mưa chảy xuống từ cánh đồng cao’ bằng cách dùng ẩn dụ để làm rơ ư nghĩa điều ngài vừa mới đề cập đến.

7-8. Đây là ư nghĩa của hai đoạn này: Chính v́ nước chảy xuống từ đám mây trên vùng đất cao, trên vùng đất cao, trên thửa đất cao, xuống phần đất thấp, chính v́ thế cùng một cách như vậy của bố thí từ cơi đời này cũng đem lợi cho ngạ quỉ, đem lại cho họ khi quả xuất hiện. Cơi ngạ quỉ là nơi được hưởng lợi ích giống như vùng đất trũng nước chảy xuống đó. Ngài cũng nói như sau: “ Hỡi ngài bà la môn, đây[143] chính vị trí thích hợp; của bố thí sẽ đem lại cho kẻ nào đang tồn tại tại đó và giống như ḍng suối, những con sông hung hăn, dũng mănh, đă ph́nh ra do có quá nhiều nước đổ vào từ phía những triền núi và những khe núi, từ những ao hồ đầm lầy lớn, đă chảy ra làm đầy đại dương ngay cả như vậy của thí được thực hiện trên thế gian này cũng đem lại cho ngạ quỉ theo cách như đă nói ở trên. V́ những ngạ quỉ đă trở lại nhà của họ hàng thân thiết của ḿnh, liều lĩnh hy vọng rằng họ có thể kiếm được chút ǵ tại đó đă không thể cầu khẩn van xin được, “Làm ơn bố thí cho chúng tôi thứ đó!” Chính v́ thế ngài đă thốt lên hai đoạn kệ (bắt đầu bằng;) “Ngài đă bố thí cho ta’ cho thấy đứa con trai trong gia đ́nh nên thực hiện bố thí cho cha mẹ để nhớ lại những dịp liên quan đến ngạ quỉ.

9. Đây là ư nghĩa: kẻ đó bố thí cho ta những của cải và ngũ cốc đó; chính người đó đă làm việc v́ ta đă hoàn tất được những ǵ đă thực hiện; v́ như vậy có liên quan đến phía họ hàng nội ngoại của ta.[144][30] V́ ngài có thể trở thành nơi ta qui y[145] do t́nh cảm của một người bạn thân. Nhớ lại toàn bộ điều này chúng ta nên bố thí cho các ngạ quỉ, chúng ta nên hồi hướng của bố thí cho họ. Một cách giải thích khác chính là phải thực hiện bố thí (dakkiṇā dajjā): Gợi nhớ lại, bằng cách gợi nhớ lại[146]những ǵ họ đă sử dụng và cũng làm như vậy. Bằng cách này “Ngài đă bố thí cho ta’ v.v... ta phải thực hiện bố thí cho ngạ quỉ – đó là điều được nói tới ở đây.

10-11. Ngài đă thốt lên đoạn kệ bắt đầu như sau: “Dầu có khóc lóc đến đâu đi nữa,” cho thấy đang khi chúng sanh kiên định khóc lóc và sầu khổ v.v... [147]khi người họ hàng đă qua đời họ chẳng đem lại lợi lộc ǵ cho họ cả và việc khóc lóc sầu khổ này chỉ là và hoàn toàn tự hành hạ[148] bản thân người đó mà thôi chẳng đem lại lợi lộc ǵ cho các ngạ quỉ cả. Thế rồi ngài lại thốt lên đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘Nhưng đây là điều” để chứng tỏ bản chất ích lợi của bố thí do đại vương Magadha thực hiện. Ư nghĩa đoạn kệ này cũng giống như đoạn kệ đă được đưa ra ở trên.[149]

12. Thế rồi Đức Phật thốt lên đoạn kệ kết thúc bắt đầu như sau: “Giờ đây’ đây chính là trách nhiệm của những họ hàng ruột thịt, phải khen ngợi đức vua liên quan đến những phẩm hạnh đích thực này. Đó là v́ nhà vua đă thực hiện cuộc bố thí, bằng cách làm những ǵ phải làm cho người họ hàng ruột thịt và cho người khác.[150] Ngài đă chỉ ra nhiệm vụ của những người họ hàng ruột thịt và thực hiện điều đó, cũng nên chu toàn[151] bổn phận đối với những họ hàng ruột thịt của ḿnh theo cùng một cách như vậy và bằng cách tạo cho các ngạ quỉ chiếm được hạnh phúc tuyệt hảo trên thiên giới là điều tôn kính tối thượng chúng ta đă đem lại cho ngạ quỉ. Bằng cách thoa măn với đồ ăn thức uống của nhà vua, Tăng Đoàn các tỳ khưu có Đức Phật đứng đầu th́ sức mạnh đă được hồi hướng cho các tỳ khưu; và bằng cách làm nổi lên ư định từ bi quảng đại đi kèm với phẩm chất từ bi v.v... nên việc phước đi kèm theo không phải là nhỏ. Ở đây bổn phận đối với họ hàng ruột thịt của ḿnh. (ñātidhammo): việc thực hiện những điều phải làm cho họ hàng ruột thịt và cho người khác. Đem lại lợi ích cao nhất (ulārā): lợi ích, rất tốt đẹp. Sức mạnh (balaṃ):sức mạnh thể lực. Theo đuổi (pasutaṃ): tích luỹ. Giờ đây, với lời tuyên bố, “Giờ đây, bổn phận của chúng ta là những người anh em họ hàng ruột thịt đă được nêu rơ Đức Phật đă chỉ thị[152] cho nhà vua bằng lời Thuyết Pháp để ngài chỉ định[153]bổn phận đối với những họ hàng, ở đây chính là một lời huấn thị.[154] Bằng cách đưa ra lời tuyên bố “Và vinh dự tột đỉnh đă được hồi hướng cho các ngạ quỉ, ngài đă thức tỉnh nhà vua bằng cách khen ngợi ngài là “tột đỉnh” ở đây là cách làm nổi lên nơi nhà vua để tỏ ḷng tôn kính ấy liên tục.[155] Bằng lời tuyên bố “Sức mạnh được trang bị cho các vị tỳ khưu.” Ngài đă cho nhà vua nh́n ra bằng cách tăng thêm cố gắng trong việc tạo thêm sức mạnh cho các tỳ khưu, ở đây việc làm nhậy bén bằng cách gia tăng tinh tấn bằng cách tăng sức mạnh một cách đặc bịêt’[156][31] Bằng lời tuyên bố ‘Và phước đức đă được nhà vua tích luỹ, đă khiến cho nhà vua hoan hỷ[157] do tự bản chất cách thức ngài mô tả về những phẩm chất đặc biệt.[158] Đây chính là cách làm thế nào ngài phải phân tích ở đây, đây cũng là cách chúng ta nên hiểu vấn đề này.

Vào lúc kết thúc buổi diễn giải Phật Pháp này th́ tuệ quán đă khởi sanh cho tám mươi tư ngàn chúng sanh với tinh tấn thích hợp, cơi ḷng họ đă dao động trước cách mô tả về những hoàn cảnh sầu khổ[159]đă nổi lên nơi cơi ngạ quỉ. Vào những ngày tiếp theo sau đó ngài cũng đă diễn giải tiếp Kinh Bên Ngoài bức tường cho cả chư thiên lẫn chúng sanh đếnn nỗi trong suốt bảy ngày liên tiếp chính tuệ quán này cũng đă khởi sanh nơi Phật Pháp.

 

-ooOoo-

 

[80] Chuyện kể cũng được thấy có một số khác biệt nhỏ, trong KhpA 201-216, đựơc dịch trong Minor readings và Illustrator tr. 223-241.

[81]. Chú giải Se Be giải thích là ‘etaṃ ṭhapetvā aññaṇ…’ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là etaṃ ṭhapetvā ’aññaṇ…’

[82]. chú giải KhpA Be giải thích là lekhaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi likhānaṇṇaṃ ( Se likhitanaṇṇaṃ)

[83]. chú giải Be KhpA giải thích là dānaṃ pavattāpesi bản văn Kinh Tạng Se ghi là dānavatthuṃ pesesi.

[84]. Chú giải Be giải thích là pavāritā (KhpA pavārite) c̣n bản văn Kinh Tạng Se ghi là saparivārā te hi; nghi lễ Pavarana đánh dấu chấm hết mùa an cư kiết hạ.

[85]. Chú giải Be Se giải thích là paccāmiṃsu c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là āgamiṃsu.

[86]. Phật kỷ này quả là thiện bởi lẽ được chứng kiến đến không ít hơn là năm Đức phật xuất hiện, tức là Kakusandha, Konāgamana, Kassapa, hay chính Đức Phật Cồ đàm của chúng ta và Đức Phật Metteya, ưa chúng ta

[87]. Phật kỷ không giống như các niên kỷ, lại không phải là những khoảng thời gian đặc biệt v́ ta có niên kỷ thiện sẽ thấy xuất hiện tới năm vị Đức phật, có tới sáu mươi niên kỷ đă trải qua giữa hai vị Vipassa và Sikhi.

[88]. Chú giải Se Be KhpA giải thích là Brāhmaṇakule.

[89]. Jaṭilā; xin đọc Vin i 24 để biết thêm chi tiết.

[90]. Makakasekera xác định là một chiếc đồi nằm ở vùng tây nam Gaya hiện nay gọi là Brahamyoni là một địa điểm hành hương quan trọng cho người Hindus.

[91]. vinetvā

[92]. nahuta

[93]. Anga và Magadha thực chất là hai t́nh riêng rẽ h́nh như đă được sát nhập lại làm một vào thời viết tập chú giải này.

[94]. Các đoạn kệ này được t́m thấy đầy đủ trong Vin I 38.

[95]. Chú giải Se be KhpA giải thích là api ca kho c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là attha kho.

[96]. Chú giải Se be giải thích là paccāsiṃsantā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paccasiṃsantā.

[97]. Hīyo, không thấy liệt kê trong tự điển PED.

[98]. Chú giải Se Be KhpA giải thích là ajjatanāya c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là svātanāya, là ngày hôm sau.

[99]. Xin đọc Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 81-82 để biết mười điều mạo hiểm các tỳ khưu phải trải qua khi đi khất thực.

[100]. Kalama Nelumbrium.

[101]. Kuvalaya.

[102]. Chú giải Se Be giải thích là paṭippassaddhadaratha – c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paṭippassaddhā daratha-

[103]. Chú giải Se Be giải thích là -bhjjāni c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là bhajjāni.

[104]. Chú giải Se KhpA giải thích là pīṇitindriyā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là pi nindiyā

[105]. Be Se giải thích là dibbavatthapāsādāpccattharaṇaseyyādi-alaṅkāravidhayo c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dibbavattha dibbapāsādā seyyāccapacāttharaṇākaravidhayo.

[106]. Chú giải Be Se giải thích là ettha và chú giải dưới đây c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là ettha.

[107]. Chú giải Be KhpA giải thích là kālagatā c̣n bản văn Kinh Tạng Se ghi là kālakatā; xin đọc chú giải dưới đây.

[108]. Xin đọc giải thích bản văn kinh tạng 7 a b và 6 e f theo như chú thích dưới đây yêu cầu.

[109]. Trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 244 thi tư thế của ngạ quỉ là nằm ngửa mặt lên trời.

[110]. Chú giải Se Be KhpA giải thích là gharasandhibhittisandhi-ālokasandhiyo. C̣n bản văn Kinh Tạng ghi là gharasandhi bhittisandhi ālokasandhiyo; nhà giao nhau có nghĩa là vết nứt và chỗ nối ở nhà, tường giao nhau có nghĩa là chỗ nối hay là kẻ hở trên tường, ánh sáng giao nhau có nghĩa là kẻ hở để ánh sáng lọt qua được.

[111]. Chú giải Be KhpA giải thích là siṅghāṭakā ti tikoṇaracchā (Se siṅghāṭakan ti).

[112]. Xin đọc phần thảo luận trong Minor readings và Illustrator tr. 228 n. 4