NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

      CHÚ GIẢI  

  CHUYỆN NGẠ QỦI

   (Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. 6 Chú giải chuyện ngạ quỉ VUA KANHA
[Kaṇhapetavatthuvaṇṇanā]

[93] ‘Thưa ngài Kanha, hăy ngồi dậy đi nào, tại sao ngài c̣n nằm đó?’ Vị Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngài đang lưu lại trong cánh rừng Jeta, chuyện kể này liên quan đến một vị thiện nam có đứa con trai đă qua đời.

Người ta kể lại rằng trong thành Sāvatthī có một cậu con trai của một vị thiện nam nọ đă qua đời. Do mũi tên sầu muộn xuyên thủng cơi ḷng vị thiện nam này chẳng màng chi đến việc tắm rửa, ăn uống, công ăn việc làm ăn, ông cũng bỏ bê luôn việc đến và hầu hạ Đức Phật nữa. Ông chỉ lảm nhảm, nói rằng, “Con trai yêu của ta ơi, con đang ở đâu? Con đă vội vă đi đâu mà bỏ cha lại một ḿnh?’v.v... Đang khi quan sát cơi trần gian vào buổi sáng, Đức Phật đă nhận ra khả năng của ông có thể chứng đắc thánh quả nhập lưu và vào ngày hôm sau ngài đă đến thành Sāvatthī để khất thực, đi theo ngài là tăng đoàn đông đảo các tỳ khưu. Khi ngài đă dùng xong bữa trưa, ngài giải tán các tỳ khưu và đi cùng với người hầu của ḿnh là trưởng lăo Ānanda, tới cửa nhà vị thiện nam đó. Các đầy tớ thông báo cho thiện nam biết có Đức Phật đến thăm, rồi họ mời ngài ngồi vào nơi đă sửa soạn trước. Sau đó họ đi t́m vị thiện nam và dẫn ông tới tŕnh diện Đức Phật. Khi thấy ông ta ngồi sang một bên, ngài liền hỏi, ‘Hỡi Thiện nam, có chuyện ǵ thế, có phải nhà ngươi đang than khóc đó chăng?’ Khi vị đó đáp lại, “Vâng ạ, thưa Đức Thế Tôn.” ngài lên tiếng, “Này thiện nam, các vị thông thái ngày xưa đă nghe một chuyện kể từ các vị trí tuệ và không than khóc người con trai đă qua đời,” và khi thiện nam đó yêu cầu Đức Phật thuật lại chuyện kể này, ngài đă thuật lại câu chuyện xưa đó như sau:

Người ta kể lại rằng ngày xưa trong thành Dvaravti có mười vị hoàng tử – tên là Vasudeva, Baladeva, Candadva,Aggideva, Varunadeva, Ajjuna Ghatapandita và Ankura. Trong số họ, vị hoàng tử con vua Ghatapandita chẳng may qua đời. Nhà vua vô cùng đau khổ trước sự kiện này; ngài đă chểnh mảng bỏ bê toàn bộ công việc triều đ́nh, chỉ tối ngày phủ phục trước giường[136] rồi nằm xuống đó miệng nói lảm nhảm. Lúc đó Ghatapandita có suy nghĩ, ‘Ngoại trừ ta ra, chẳng c̣n ai có thể làm nguôi nỗi thống khổ cho anh ta được, ta sẽ xua tan nỗi sầu khổ bằng một mẹo vặt[137]. Thế rồi ngài giả dạng thành một người mất trí, nói rằng, ‘Hăy đưa cho ta con thỏ,[138] hăy đưa cho ta con thỏ nào!’ và toàn thành đă rúng động khi nghe tin hoàng thân Ghatapandita đă phát điên. Vào lúc đó có vị cận thận của nhà vua, tên là Rohineyya đến gặp nhà vua Vasudeva [94] và thốt lên đoạn kệ này, bắt đầu cuộc đối thoại với nhà vua như sau:

1.      Thưa ngài Kanha, hăy chỗi dậy đi nào, tại sao ngài c̣n nằm đó? Mơ mộng đem lại cho ngài điều ǵ tốt đẹp nào?[139] Thưa hoàng thân Kesava, bào đệ của ngài, là tấm ḷng và con mắt phải của ngài, đă phải gió [140] thổi kia ḱa – hoàng thân đang khao khát có được một con thỏ [141].”

1. Về điểm này, Kanha (Kaṇha): hoàng thân nói với Vasudeva bằng tên gọi trong hoàng tộc. Mơ tưởng đem lại lợi lộc ǵ cho ngài? (ko attho supinena te): quả thật mơ mộng có lợi ích ǵ cho anh chăng? Chính người em (sako bhātā): người em do cùng mẹ sanh ra. Trái tim và mắt phải của ngài (hadayaṃ cakkhuñ ca dakkhiṇaṃ) có nghĩa là ngài giống như trái tim và con mắt phải của ngài vậy. Ngài đang bị những trận gió áp đảo (tassa vātā balīyanti): những cuồng phong điên cuồng tiếp tục nổi lên trong ngươi và đang mạnh dần, tăng thêm và áp đảo vị ấy. Vị ấy đang khao khát (jappari): vị hoàng thân đang nói lảm nhảm, rằng, “Đưa cho ta một con thỏ!’ Kesava (Kesava): người ta kể lại rằng ngài có tên gọi là ‘Kesava’ là do ngài có mái tóc thật đẹp; hoàng thân đang gọi ngài bằng tên thật của ngài.

Thế rồi vị Đạo sư, người đă trở thành Đức phật Toàn Hảo, đă thốt lên đoạn kệ này để làm rơ bằng cách nào vị hoàng thân đă ngồi dậy khỏi giường khi ngài nghe những lời này.

2.      “Khi ngài nghe những lời của Rohineyya, Kesava đă vội vă đứng lên, quá đau buồn v́ sầu khổ trước cái chết của người em.’

Nhà vua đă ngồi dậy và nhanh chóng bước xuống hoàng cung và rồi đến trước mặt Ghatapandita, ôm chầm lấy người em bằng cả hai tay và nói với em bằng những đoạn kệ sau:

3.      Tại sao em lại nói lảm nhảm ‘Thỏ này, thỏ này!’ như người mất trí vậy, quanh khắp cả vùng Dvāraka này? Em muốn anh cho loại thỏ nào?

4.      Một con thỏ bằng vàng chăng? Một chú thỏ bằng châu báu chăng? Một con thỏ bằng đồng chăng? Hay một con thỏ bằng đá quí? (Không thành vấn đề) anh sẽ sai người kiếm con thỏ đó cho em.

5.      Cũng c̣n có các con thỏ nhỏ khác đang chạy tung tăng trong những khu rừng. – ta sẽ cho bắt về cho em nữa, em muốn có loại thỏ nào?’

3. [95] Về điểm này Giống như kẻ điên (ummattārūpo): giống như một kẻ khùng. Toàn bộ (kevalaṃ): khắp cơi Dvaraka (Dvārakaṃ): chạy lang thang khắp nơi trong thành Dvāravatī, nói làm nhảm ‘con thỏ, con thỏ!’(saso saso ti lapati); Nói lẩm bẩm ‘thỏ! thỏ!’

4. Con thỏ bằng vàng: sovaṇṇanyaṃ=suvaṇṇamayaṃ (dạng ngữ pháp chuyển đổi) con thỏ bằng đồng (lohamayaṃ): con thỏ làm bằng đồng. Con thỏ bằng bạc (rūpiyamayaṃ: con thỏ làm bằng những đồng tiền bạc.

5. Vị ấy dỗ ngọt Ghatapandita với con thỏ với ư định khám phá ra ư định về con thỏ, nói rằng, ‘Hăy cho anh biết em muốn thứ ǵ, tại sao em lại sầu muộn đến như vậy? Cũng c̣n có nhiều con thỏ nhỏ xíu đang chạy tung tăng trong rừng – anh sẽ đem về cho em hết tất cả, chỉ cần em nói cho anh biết, em yêu quí ơi,[142] đó là loại thỏ nào vậy?’

Khi nghe thấy những lời này Ghatapandita thốt lên đoạn kệ này:

6.      ‘Em chẳng cần những loại thỏ đó, những loại thỏ cư trú trên cơi đời này, em muốn những con thỏ trên cung trăng cơ, anh Kesava yêu, hăy đem thứ thỏ đó lại cho em!’

6. Về điểm này, đem xuống cho em: ohara = ohārehi (một dạng ngữ pháp chuyển đổi). Khi nhà vua nghe thấy như vậy ngài trở nên thất vọng, nghĩ rằng, Chẳng c̣n nghi ngờ ǵ nữa người em của trẫm đă phát rồ thật rồi.và rồi thốt lên đoạn kệ này:

7. “Giờ đây,[143] hỡi người em yêu quí ơi, chắc hẳn em đă đánh mất cuộc sống ngọt ngào của em rồi, em đă chờ mong những thứ không thể nào có được[144] khi em đ̣i có được con thỏ lấy xuống từ mặt trăng.’

7. Về điểm này người quyến thuộc yêu quí của anh ơi (nāti): nhà vua nói với người em trai của ḿnh. Đây là ư nghĩa: ‘Hỡi người quyến thuộc yêu quí của ta, ta nghĩ rằng em đă đánh mất cuộc sống vô cùng ngọt ngào của em rồi’.

Khi Ghatapaṇḍita nghe thấy điều nhà vua vừa nói, ngài đă đứng như trồng tại đó, nói rằng, ‘Anh ơi, anh nhận ra quả là một mất mát cuộc sống của kẻ nào mong có được con thỏ từ mặt trăng, là điều không thể có được, tại sao anh lại than văn thương tiếc một người con trai đă chết[145] mà anh chẳng thể lấy lại được?’ và ngài đă thốt lên đoạn kể làm rơ điểm này như sau:

8. [96] Hỡi Kanha, giả như anh biết rơ cách thức khuyên nhủ kẻ khác, thế tại sao ngay cả ngày hôm nay[146] anh lại khóc lóc thương tiếc người con trai đă chết trong quá khứ?’

8. Về điểm này, hỡi Kanha nếu anh biết như vậy (evañ ce Kaṇha jānāsi): anh yêu, nếu như anh biết rơ, thưa đại vương Kanha, là một điều ǵ đó không thể lấy được th́ không thể nào mong mỏi được, cách thức trong đó (anh đă khuyên) người khác (yath’ aññaṃ): và cho dù có biết như vậy, mà anh lại không hành động giống như cách anh đă khuyên can người khác. Tại sao anh lại khóc lóc thương tiếc đứa con trai của anh đă qua đời trong quá khứ? (kasma pure mataṃ puttaṃ) có nghĩa là tại sao, ngay cả ngày hôm nay, anh lại khóc lóc thương tiếc đưa con trai đă qua đời trong quá khứ lâu rồi. Ngài nói, ‘ Ít nhất ta chỉ mong chờ điều ǵ có thể nh́n thấy được, ngược lại anh sầu khổ v́ kẻ nào không c̣n nh́n thấy được nữa.’ và rồi ngài thốt lên hai đoạn kệ diễn giải Phật Pháp cho nhà vua như sau:

9. ‘Những điều này không thể đạt đến được, ngay cả con người hay siêu nhân nữa. Đó là “ một người con trai ta sanh ra sẽ không phải chết” ta có thể kiếm được cái không thể kiếm được ở đâu đây?’

10. Chẳng phải do một câu thần chú, hay những dược thảo, hay dược liệu cũng chẳng do tiền bạc có thể làm sống lại Ngạ Quỉ anh đang thương tiếc khóc lóc đó hay sao, Kanha?’

9. Về điểm này, điều mà (yam) có nghĩa là những điều mà anh hằng mong ước; đó là ‘người con trai anh sanh ra không phải chết’, lai không thể lấy lại được, không có cách nào lấy lại được người em của ta, kể cả con người hay chư Thiên cũng không thể chẳng làm ǵ được. Như vậy từ đâu ta có được điều này, v́ điều này không thể lấy được cũng không thể nào có được đâu.

10. Bằng câu thần chú (mantā): bằng cách dùng câu thần chú. Bằng rễ cây thảo dược: mūlabhsajjā = mūlabhesajjena (một dạng ngữ pháp chuyển đổi). Bằng dược liệu (osadhehi) bằng nhiều loại dược liệu khác nhau. Cũng chẳng bằng tiền của (dhanena vā): cũng chẳng bằng tài sản chất cao hàng trăm kotis. Đó là điều được cho là: “không thể lấy được, bằng một câu thần chú v.v... ngạ quỉ mà anh đang than văn khóc lóc.’

Thế rồi để chứng tỏ cho vua anh của ḿnh thấy rằng ta không thể ngăn chận được điều ta gọi là ‘cái chết’, hoặc giả bằng tài sản, hay bằng tái sanh hay bằng kiến thức hiểu biết bằng giới đức hay nhập thiền[147], Ghatapaṇḍita [97] đă diễn giải Phật Pháp cho vua anh ḿnh với năm đoạn kệ sau đây:

11. “Những kẻ nào có tài sản lớn, có nhiều của cải. Ngay cả những vị Sát đế lỵ có rất nhiều vương quốc – ngay cả các vị này, có được nhiều của cải và ngũ cốc dồi dào cũng không thể thoát khỏi lăo và tử.

12. Các vị Sát đế Lỵ, các vị bà la môn, các vị Vệ sá, các vị Thủ Đà, các vị Chiên Đà la và các vị pukkusas – ngay cả các vị này và nhiều người khác nữa cũng không thể, qua tái sanh, mà thoát khỏi lăo và tử.

13. Những kẻ đó có đọc thần chú bao gồm sáu chương do các vị Phạm Thiên phân loại – ngay cả các vị này và những kẻ khác thông qua kiến thức vẫn không thể được giải thoát khỏi lăo và tử.

14. Và ngay cả các thầy ẩn sĩ, các vị đạo sĩ đă đuợc an tịnh và đă kiềm chế được bản thân ḿnh –ngay cả các vị sa môn này vẫn phải loại bỏ thân xác của ḿnh khi thời gian qui định đă điểm.

15.Các vị giới đức A-la-hán [148], là những vị đă đạt tu tiến, họ đă thực hiện những ǵ phải thực hiện và đă thoát khỏi mọi lậu hoặc - ngay cả họ nữa cũng phải rời bỏ thân xác này khi các nghiệp thiện và bất thiện đă cạn kiệt.

11. Về điểm này những kẻ nào có tài sản lớn lao (mahaddhanā): thật là giàu có do có nhieu tiền của họ đă tích lũy được. Những kẻ nào có nhiều của cải (mahābhogā): có được thù thắng lớn nơi của cải như các vị chư thiên có được. Sở hữu rất nhiều vương quốc (raṭṭhavanto): có được toàn bộ các vương quốc. Có nhiều tiền bạc (của cải) và ngũ cốc. (pahūtadhanadhaññāse): họ có vô số của cải và ngũ cốc họ đă cất giữ để dùng hàng ngày sau khi đă bỏ ra đủ để trang trải những nhu cầu hàng ngày trong ṿng ba bốn năm. Ngay cả những người này cũng không thể thoát khỏi lăo và tử (te pi no ajarāmarā): ngay cả các vị Sát Đế Lỵ có rất nhiều của cải như Mahāmadhātu[149] và Mahāsudassana[150]v.v... cũng không thể thoát khỏi lăo và tử, có nghĩa là họ chắc chắn phải đi vào miệng thần chết.

12. Các vị này (ete): các vị Sát đế lỵ v.v... Các vị khác (aññe): những người thuộc ḍng dơi trực tiếp như thể Ambaṭṭha v.v... ,[151] thông qua ḍng dơi của họ (jātiyā) có nghĩa là họ thoát khỏi lăo và tử do họ thuộc ḍng dơi đó.

13. Những câu thần chú (mantaṃ): những bộ kinh phệ đà. Được tụng (parivattenti): tụng hay ngâm nga; hay nói cách khác tụng niệm (parivattenti): niệm lâm râm đang khi thực hiện những nghi lễ cúng tế (anuparavittentā). Gồm sáu bộ kinh (chalangaṃ): liên quan đến sáu phần được liệt kê như là: Âm ngữ học, những qui luật mô tả về nghi lễ cúng tế, từ nguyên học, ngữ pháp, thiên văn và làm thơ... ... ... ... Do các vị Phạm Thiên soạn ra (brahmcintitaṃ): do các vị Phạm thiên nghĩ ra, nói ra nhằm đem lại lợi ích cho các vị Bà la môn. [98] Thông qua kiến thức đó (vijjaya) có nghĩa là họ thoát khỏi lăo và tử. Ngay cả khi được phú bẩm những trí tương tự trí của vị Phạm Thiên.

14. Các vị đạo sĩ (isayo): họ là các vị đạo sĩ (isayo) v́ lư do họ cố gắng thu thúc và tự kiểm soát bản thân v.v... [152] An tịnh (santa): có bản chất an tịnh nơi thân và khẩu. Họ là những người đă tự tiết chế (saññatatta): họ là những người thu thúc được tâm bằng cách tiết chế tham dục v.v... [153] Các vị sa môn (tapassino): họ thực hiện pháp chế ngự (tapo) bao gồm thân khổ hạnh (tapana). C̣n nữa các sa môn (tapassino): những người thực hiện pháp chế ngự.[154] Điều này chứng tỏ rằng họ đă trở thành những người dựa vào việc tu tập khổ hạnh theo cách này và có ước ao đạt đến giải thoát thông qua thân (cũng cần rời bỏ thân này) những kẻ nào thực hiện pháp chế ngự19v.v... đơn giản cũng phải từ bỏ thân nữa. Hay nói cách khác, các đạo sĩ (isayo): họ là các đạo sĩ (isayo) do họ đang cố gắng đạt được giới cao thượng v.v... 17 theo nghĩa này họ được an tịnh bằng cách diệt hiện trạng bất thiện đối nghịch lại điều khổ hạnh đó. Họ thực hiện tự thu thúc bằng cách chú tâm vào một đối tượng duy nhất.[155] là những đạo sĩ do tinh tấn thiêu đốt họ áp dụng để đạt đến tứ thần túc.[156] Họ cũng c̣n là các sa môn do thiêu rụi hết tham dục v.v... họ áp dụng vào bốn pháp chánh cần.[157] – đây chính là cách ta phải phân tích.

15 Những kẻ nào tự tu tiến (bhāvitatta): những kẻ nào có tâm được tu luyện bằng pháp thiền quán[158] về tứ diệu đế được coi như là đề mục thiền.[159]

Khi nghe qua pháp thoại này do Ghatapaṇḍita thực hiện, tựa như người ta rút ra mũi tên sầu khổ khỏi tâm trí va với ḷng tịnh tín Đức Phật liền thốt lên những lời khen ngợi Ghatapaṇḍita bằng những đoạn kệ sau đây:

16.Quả thật ta đang bị cháy bỏng, giống như ngọn lửa được tiếp thêm; nhưng giờ đây toàn bộ nỗi sầu của ta đă được dập tắt, như thể người ta đă lấy nước rẩy trên ta.

17.Thật vậy, mũi tên sầu khổ, đă xuyên thủng tim ta đă được rút ra ngài đă xua tan nỗi sầu khổ đó, nỗi sầu khổ (v́) con trai ta chết, đă tràn ngập tâm ta.

18.Với mũi tên đă được rút ra ta trở thành an tịnh và mát mẻ; v́ nghe những lời của ngươi ta không c̣n sầu khổ không khóc lóc nữa.

19.Cũng như Ghata đă giải thoát người anh trai khỏi sầu khổ - chính v́ thế kẻ hiền sĩ cũng có ḷng nhân hậu từ bi quảng đại.

20. [99] Cũng giống như Ghata đă tuân theo lời khuyên can tốt của người anh (cũng vậy) ngài cũng có được những vị cố vấn và những người hầu mà theo đuổi.

19. Về điểm này cũng giống như Ghata đă khuyên giải người anh của ḿnh (Ghaṭo leṭṭhaṃ va bhātaraṃ) có nghĩa là chính Ghatapandita bằng những phương[160] tiện tinh xảo và bằng pháp thoại đă kiến cho anh ḿnh đă bị sầu khổ do con trai qua đời, được nguôi khỏi nỗi sầu khổ do cái chết của con trai đem lại, cũng chính v́ thế những kẻ khôn ngoan có ḷng từ tâm cũng hành động để phục vụ cho bà con họ hàng là như vậy.

20. Những kẻ nào được như vậy (yassa etādisā honti): Đoạn kệ này xuất phát từ chính Đức Phật toàn hảo. Đây là ư nghĩa của đoạn kệ này. Cũng chính theo cách Ghatapandita đă tuân theo (anvesi = anudesu, một dạng ngữ pháp hóan chuyển) nhà vua Vāsudeva đă phải chịu sầu khổ khi con trai qua đời khuất phục, bằng những lời khuyên tốt nhằm mục đích xua tan nỗi sầu khổ đó. (Cũng vậy) bất kỳ kẻ nào có những vị cố vấn[161] khôn khéo như vậy để học hỏi theo. th́ làm sao nỗi buồn khổ có thể khống chế được họ?

Những đoạn kệ c̣n lại cũng có cùng ư nghĩa[162] như đă nêu trên[163].

Khi Đức Phật đă thuật lại pháp thoại này ngài nói. ‘cũng như vậy, hỡi thiện nam người khôn ngoan thuở xưa xua tan nỗi buồn khổ do cái chết của con trai gây ra. Khi họ được nghe chuyện kể này từ phía những người hiền triết. Thế rồi ngài giải thích Tứ Diệu Đế và áp dụng bằng một chuyện bản sanh, cuối cùng thiện nam đó đă được an trú nơi thánh quả Nhập Lưu.

 

-ooOoo-

 

[136] Be giải thích là aṭaniṃ pariggahetvā, nắm chặt lấy chân giường.

[137]. Upāya; xin đọc chú giải PvA 20.

[138]. sasaṃ, là con thỏ hay thỏ rừng, là thứ ngài có thể nh́n thấy được. Rơ ràng hơn về hướng đông – trên bề mặt mặt trăng. Xin cũng đọc đặc biệt là kinh Bản Sanh Sasapṇḍita (No 316) trong đó người ta kể rằng Sakka đă vie một h́nh ảnh mặt trăng như là một kỷ nguyên tặng cho một vị Bồ Tát có giới đức khi ngài c̣n là một con thỏ rừng. Như vậy điều này cũng tương đương với lời chúng ta nói, ‘ hăy ban cho ta người ở trên mặt trăng!’

[139]. Xin đọc Chú giải S I 198=Sn 331.

[140]. Tassa vātā balīyanti, hiểu theo nghĩa đen là gió đă trở mạnh với người, có nghĩa là, gió trong cơ thể có thể tạo ra khó chịu, cho dù cả thân lẫn tâm. Xin hăy so sánh việc chúng ta sử dụng trong quá khứ từ ‘hơi ẩm’ (vapours) ở đây h́nh như có nghĩa là ngài đă mất hết cảm giác. Đoạn kệ và câu chuyện lại xảy ra trong j iv 84tt.

[141]. Chú giải Se Be giải thích là sasaṃ c̣n bản văn ghi là ghaṭo.

[142]. Bhaddamukha, hiểu theo nghĩa đen có nghĩa là có gương mặt hiền hoà; xin đọc Trung Bộ Kinh (M) ii 53. và KS I 100 n.3

[143]. Chú giải Se Be giải thích là nūna c̣n bản văn ghi là nanda; xin đọc Gehman (39 n .3)

[144]. Chú giải Be giải thích là apatthiyaṃ c̣n bản văn Se ghi là apathayaṃ; xin đọc PED sv pattheti.

[145]. Chú giải Se Be giải thích là alabhitvā jīvitakkhayo bhavissatī ti jānanto kasmā mataṃ puttaṃ. C̣n bản văn ghi là alabhitvājivitakkhayaṃ patto ti jananto kasmā tava puttaṃ mattāṃ.

[146]. Chú giải Se Be giải thích là ajā pi c̣n bản văn ghi là ājāpi.

[147]. Bhāvanāya.

[148]. Chú giải Be giải thích là arahanto c̣n bản văn Se ghi là viharanta; vv 11-15 lại xảy ra trong Vv 6313-15-18

[149]. Rất có thể đây là cách ám chỉ nhà vua Mandhātā; xin hăy đọc Jat 258 và DPPN ii 444tt.

[150]. Một cakkavattin được biết tới v́ có quá nhiều tài sản – xin đọc D ii 169tt. Jat 95 và DPPN ii 575tt.

[151]. Đó là, một loại bà la môn (vaṇṇa). cho dù rơ ràng có điều kỳ cục trong sự lựa chọn của ngài Dhammapāla về Ambaṭṭha làm một ví dụ v́ trong Kinh Ambaṭṭha (D I 87tt) Đức Phật đă viết lại ḍng dơi tổ tiên của Ambaṭṭha có liên kết với một nữ nô lệ. Xin cũng đọc DPPN I 151tt và 153 trong đó xuất hiện: chẳng phải ngài Ambaṭṭha trở thành bà la môn theo bẩm sanh; một số họ là nghề nông, số khác làm thương gia và ngay cả một số c̣n bán cả con gái để lấy vàng và trong đó c̣n có một chú thích được thêm vào khẳng định rằng, ‘ họ được gọi là ba la môn do ‘ưu đăi mà có” vohāravasena.

[152]. Xin đọc chú giải PvA 163. 265 để biết thêm những ǵ tương tự như vậy.

[153]. Người ta kể lại rằng Sāriputta đă khiến cho ư ḿnh tuân theo ư muốn của ḿnh mà không di chuyển theo ước muốn của ư chí. (Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 34; chú giải Trung Bộ Kinh (M) I 214tṭ S v 70tt)

[154]. Chú giải Se Be giải thích là saṃvarakā c̣n bản văn ghi là saṃvarākā.

[155]. Chú giải Se Be giải thích là ekāmmaṇe c̣n bản văn ghi là ekāmmaṇā.

[156]. Chú giải Se Be giải thích là sammappadhāna c̣n bản văn ghi là sama- tức là bậc thứ sáu trong Bát Chánh Đạo – xin đọc Trung Bộ Kinh (M) iii 251 và Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 15-17.

[157]. Sammayogā rāgādīnaṃ santapanena tapassino ti – chú giải SE Be cũng giải thích giống như vậy. c̣n bản văn lại bỏ qua hoàn toàn.

[158]. Bhāvanā; xin đọc chú giải PvA 139.

[159]. Điều này không xuất hiện trong số bốn mươi đă được kể trong PvA 42 ở trên.

[160]. Upāyakosallena; xin đọc chú giải chú thích Mahayana về Upāya-kausalya.

[161]. Chú giải Se Be giải thích là aññassāpi etādisā paṇditā amaccā paṭiladdhā assu tassa c̣n bản văn ghi là aññassa etāadisā paṇḍitā amaccā santi saṃvijamānassa tassa.

[162]. Chú giải Be giải thích là vuttatthā c̣n bản văn ghi là vuttattā

[163]. PvA 41tt.