|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
II.12 Chú giải chuyện ngạ quỉ TRÚ Ở AO HỒ ‘Những bậc thang thiên cung làm bằng vàng[407].’ Chuyện kể này được thuật lại khi Đạo sư đang lưu lại tại thành Sāvatthī liên quan đến nữ ngạ quỉ Kannamunda. Người ta kể lại rằng, lâu lắm rồi, [151] vào thời Đức phật Kassapa, trong thành phố Kimbila có một thiện nam nọ, đă trở thành vị Nhập Lưu và là người có niềm tin cùng với năm trăm các thiện nam khác. Chàng luôn theo đuổi phước báu như trồng cây trong khu rừng khả ái, đắp đê và xây cầu v.v... và trong khi c̣n lưu lại tại đó chàng đă xây một thiền viện và dâng cho Tăng Đoàn, thỉnh thoảng chàng cũng đến thiền viện đó với tăng đoàn các tỳ khưu. Những bà vợ của họ cũng là những tín nữ và thỉnh thoảng cũng đi đến thiền viện chung với nhau và kèm theo là nước hoa, ṿng hoa và dầu xức v.v... trong tay. Trên đường đi họ đă nghỉ lại nơi những nhà nghỉ trong khu rừng khả ái trước khi tiếp tục lên đường. Thế rồi một ngày kia có một số tên lừa đảo đang ngồi nghỉ trong các nhà nghỉ đó, đă nhận ra vẻ kiều diễm của các cô gái đó và khi các nàng rời khỏi sau khi đă nghỉ lại trong đó, chúng đem ḷng luyến ái các nữ nhân đó. Khi chúng nhận ra rằng các nữ nhân ấy là những người có giới đức, chúng bắt đầu bàn tán với nhau xem ‘kẻ nào có thể làm rạn nứt giới đức của bất kỳ cô thiếu nữ nào trong số họ?’ ‘Tôi có thể làm được’, một kẻ trong bọn lên tiếng. Họ cá với nhau nói rằng, ‘Chúng ta đánh cược một ngàn đồng, nếu ông bạn làm được điều đó, chúng ta sẽ trả cho anh một ngàn đồng nhưng nếu anh thua th́ cũng phải trả cho chúng ta một ngàn đồng.’ Hắn thử[408] bằng vô số cách, do ḷng tham (tiền) và sợ (thua cuộc) chàng ta đă gẩy đàn bảy giây vina[409] tạo ra những nốt nhạc ngọt ngào, khi họ trở lại nhà nghỉ, có khi lại hát những bản nhạc khiêu dâm[410] với giọng hát ngọt ngào bằng tiếng hát của chàng trai[411] đó, chàng đă khiến cho một vài phụ nữ trong đó phải rạn nứt giới đức, chàng ta đă phạm tội ngoại t́nh với nàng và đă thắng một ngàn đồng tiền vàng từ tay những tên lừa đảo khác. Những tên bị thua cuộc một ngàn đồng cho hắn đă thuật lại vấn đề cho chồng nàng nghe. Không tin tưởng những tên đó người chồng hỏi nàng, ‘Em có làm như những tên này nói chăng?’ ‘Em chẳng biết chút ǵ về điều đó cả’, nàng căi lại. Khi nàng thấy người chồng không tin ḿnh, nàng đă chỉ vào con chó đang đứng gần đó và thề rằng, ‘Nếu như em làm hành vi xấu xa đó, mong rằng con chó đen đứt tai kia xé xác em bất kỳ nơi nào em sanh ra!’[152] Cho dù năm trăm phụ nữ khác biết rơ người đàn bà này là kẻ ngoại t́nh, khi được hỏi, “Phải chăng nàng đă hay không đă phạm phải hành vi xấu xa đại loại như thế chăng?’ Họ liền nói dối rằng, ‘Chúng em chẳng biết điều ǵ như vậy cả.’ và thề rằng, ‘Nếu chúng em biết điều đó, mong rằng chúng em trở thành nô lệ cho nàng trong suốt thời gian hiện hữu tương lai của chúng em!’ Bấy giờ người đàn bà ngoại t́nh kia trở nên gầy ṃn ốm yếu do tâm trí nàng đă bị dày ṿ do bởi lương tâm bất an và không lâu sau nàng đă qua đời. Nàng đă tái sanh thành ngạ quỉ thiên cung trên bờ hồ Kannamunda, một trong số bảy đại hồ[412] trên núi Himalaya, vua các dẫy núi và vây quanh bốn bề thiên cung của nàng lại nổi lên một đầm sen thích hợp để cho nàng cảm nhận được kết quả của những ác nghiệp[413] nàng đă gây ra. Khi năm trăm phụ nữ c̣n lại cũng qua đời họ tái sanh thành nô lệ cho nàng do lời thề họ đă thực hiện. Nhờ kết quả những phước báu nàng đă thực hiện trước đó, nàng được hưởng thù thắng tại đó vào ban ngày nhưng c̣n ban đêm, bị thôi thúc do sức mạnh ác nghiệp nàng đă làm, nàng trổi dậy khỏi giường và đi ra bờ đầm sen. Khi nàng đă ra tới đó th́ một con chó đen to lớn cỡ một con voi con, với diện mạo[414] khủng khiếp, tai bị cắt (cụt), răng nhọn nhọn và ch́a ra, sắc như dao trông rất dữ tợn, hai mắt mở to giống như những cục than gỗ acacia[415] cháy đỏ, lưỡi thè ra trông như những tia chớp[416] phát sáng liên tục, với những chiếc vuốt nhọn hoắt trông rất dữ tợn, với bộ lông dài bờm xờm rất dị hợm, ngay sau đó con chó đến vật nàng xuống đất, hùng hổ xé xác nàng giống như một kẻ đói quá mức. Khi con chó ăn thịt nàng chỉ chừa lại bộ xương, nó dùng nanh tha nàng đi và ném xuống hồ sen rồi bỏ đi. Vừa khi bị ném xuống hồ ngay lập tức nàng trở lại h́nh tượng b́nh thường như cũ và sau khi trèo lên cung điện của ḿnh, nàng đă nằm vật lên giường. Tuy nhiên những cô gái khác vẫn phải chịu cảnh nô lệ khổ cực cho nàng. Họ tiếp tục sống như vậy cho đến khi năm trăm năm mươi năm trôi qua và rồi họ chán ngấy cảnh sống như vậy khi phải tiếp tục sống cảnh thù thắng chư thiên mà thiếu vắng bóng người nam. Bấy giờ ở đó có một con sông chảy ra từ hồ Kannamunda và chảy vào sông Hằng sau khi chảy ngang qua vách núi đá. [153] Gần nơi các thiếu nữ đó cư trú có một cánh rừng giống như khu vườn khả ái. Có rất nhiều trái cây chư thiên trang điểm cho khu vườn đó, gồm những cây xoài và cây mít[417] v.v... Những cô gái đó suy nghĩ rằng, ‘Nếu như giờ đây chúng ta ném những quả xoài đó xuống sông chắc chắn sẽ có một số đàn ông nh́n thấy và sẽ xuất hiện ở đây v́ muốn ăn trái xoài đó và chúng ta sẽ có thể tiêu khiển với bọn họ.[418] Và họ đă thực hiện y như vậy. Có một số sa mônđă lượm được những quả xoài, họ ném xuống sông, một số khác do các thợ rừng vớt được và một số lại trôi dạt vào bờ. Tuy nhiên có một quả trôi theo ḍng nước sông Hằng và đúng lúc đó đă trôi tới thành Bernares. Lúc bấy giờ nhà vua cai trị thành Bernares đang tắm trong sông Hằng tại ngay địa điểm bên trong ṿng đai lưới đồng và trái xoài đó, chảy theo ḍng nước sông đúng lúc đă trôi dạt vào ṿng đai lưới đồng đó. Khi những vị cận thần nhà vua nh́n thấy quả xoài chư thiên to tướng với đủ thứ màu sắc mùi thơm và hương vị ngọt ngào và dâng cho nhà vua. Đức vua dùng một phần nhỏ và để thử thứ quả đó, nhà vua liền đưa cho một tên cướp, đang bị giam trong tù chờ ngày xử trảm,[419] ăn trái xoài đó. Khi tên cướp đă ăn hết trái xoài hắn nói: ‘Tâu bệ hạ, tôi chưa hề được ăn một thứ quả như thế bao giờ; tôi nghĩ đây phải là một trái xoài chư thiên.’ Nhà vua lại đưa cho hắn một lát xoài nữa, và khi hắn ăn hết miếng xoài đó th́ bộ tóc bạc và những vết nhăn trên mặt tên cướp biến mất hết và h́nh dáng anh ta trở nên vô cùng hấp dẫn trông giống như một người đang trong độ tuổi thanh xuân. Khi đức vua chứng kiến điều này ngài vô cùng kinh ngạc và rất ṭ ṃ chỉ ăn một trái xoài và thân h́nh lại trở nên thanh lịch đến như vậy. Nhà vua liền hỏi những quân hầu của ḿnh rằng, ‘Các ngươi đă kiếm thấy trái xoài đó ở đâu?” Những người hầu cận thưa rằng, ‘Tâu bệ hạ, người ta bảo ở trên đỉnh núi Himalaya, vua các ngọn núi’ và khi được hỏi ‘liệu các ngươi có thể lấy cho trẫm những trái xoài đó chăng?’ họ trả lời, “Tâu bệ hạ, những tên thợ rừng có thể lấy được, xin hăy nói cho họ biết vấn đề đó và xin ư kiến của họ xem sao.’ Nhà vua truyền t́m kiếm những tên thợ rừng và bảo cho họ biết về vấn đề đó. Nhà vua c̣n cho một ngàn kahananas cho một tay thợ rừng đang trong t́nh trạng nghèo khổ và sai hắn đi nói rằng [154] “Hăy mau ra đi và kiếm đem về cho trẫm trái xoài này.” Hắn ta trao một ngàn đồng kahapannas cho vợ và các con, sửa soạn đồ dự trữ lương thực cho chuyến đi và ngược ḍng sông Hằng theo hướng hồ Kannamunda. Khi hắn đă đi hết những con đường người ta xử dụng, hắn nh́n thấy một sa môn ngay tại một điểm sáu mươi do tuần phía dưới hồ Kannamunda. Hắn đi theo lối sa mônđă mô tả cho và hắn lại gặp một sa mônnữa ngay tại một điểm cách xa khoảng ba mươi do tuần nữa. Hắn đi tiếp theo lối sa môn đó chỉ cho, hắn lại bắt gặp một sa môn nữa ngay một nơi cách xa mười lăm do tuần và hắn nói cho sa môn biết lư do cuộc hành tŕnh hắn đang thực hiện. Sa môn liền khuyên hắn nói rằng, ‘Từ đây tới đó nhà ngươi phải vượt sông Hằng hung dữ và đi ngược ḍng con sông nhỏ này cho đến khi nhà ngươi nh́n thấy một vách núi khi đó nhà ngươi phải lấy một ngọn đuốc bằng một khúc cây cháy dở và vào đó vào ban đêm. V́ ḍng sông này không chảy xiết vào ban đêm chính v́ thế đây là thời gian thích hợp để nhà ngươi tiến tới. Khi nhà ngươi đă đi được một ít do tuần th́ nhà ngươi sẽ nh́n thấy những quả xoài.’ Người thợ rừng làm y hệt lời sa môndặn và vào lúc mặt trời mọc hắn đă tới được khu rừng xoài vô cùng hấp dẫn đó tại đó hắn nghe thấy vang vọng những tiếng chim hót[420] rất đa dạng và được trang điểm bằng những lùm cây[421] với cành lá xum xuê nặng trữu[422] những trái xoài ngọt mọng. Quang cảnh trông thật lộng lẫy với những chùm tia sáng toát ra từ nhiều loại châu báu đa dạng. Khi từ xa xa những phụ nữ phi nhân này trông thấy hắn tới gần. Họ đến gặp hắn nói rằng, ‘Người này thuộc chúng ta! người này thuộc chúng ta!’ Tuy nhiên, ngay sau khi hắn nh́n thấy những thiếu nữ phi nhân này[423] hắn trở nên hoảng hốt v́ hắn không phải là người đă thực hiện được những phước báu để được hưởng thụ thù thắng chư thiên với nhưng phụ nữ phi nhân này và đang khi hắn kêu gào thảm thiết hắn chạy khỏi đó và tường tŕnh biến cố đó cho nhà vua khi hắn quay trở về đến thành Bernares. Khi nhà vua nghe được sự việc này nhà vua tràn đầy ước muốn gặp các phụ nữ phi nhân đó và được ăn những quả xoài nữa, thế rồi nhà vua trao vương quốc cho những vị cố vấn đặc biệt của ḿnh, và giả bộ tiến hành một cuộc đi săn xa, nhà vua cho trang bị vũ khí với cung và bao đựng tên, sỏ kiếm vào bao và ngài đă lên đường lần theo con đường tên thợ rừng đă chỉ cho, đi theo nhà vua là một đoàn tùy tùng nhỏ những người tháp tùng. Ngài cho đóng trại những người đi theo ngay tại một vị trí cách xa đó một vài do tuần và tiếp tục lên đường ngay khi người thợ rừng và đoàn người của nhà vua quay trở về tường tŕnh sự việc [155] và nhà vua đă đi vào khu rừng xoài khi mặt trời vừa mọc. Khi các phụ nữ nh́n thấy nhà vua như một devaputta vừa mới tái sanh họ đă muốn ra gặp ngài. Khi các phụ nữ phi nhân này phát hiện ra ngài là vua họ đă tỏ ḷng rộn ràng t́nh cảm và kính trọng ngài. Họ đă tắm cho nhà vua hết sức cẩn thận và trang điểm cho ngài thật lộng lẫy với y phục chư thiên, kèm theo là đồ trang sức, ṿng hoa, hương thơm và dầu xức chân và dẫn nhà vua vào thiên cung tại đó họ đă cho nhà vua ăn uống vật thực chư thiên với hương vị hảo hạng và săn sóc nhà vua theo như ư ngài muốn. Thế rồi một trăm năm mươi năm trôi qua vào nửa đêm nhà vua thức dậy và, khi c̣n đang ngồi, ngài đă nh́n thấy nữ ngạ quỉ bị nghiệp tà dâm ấy đi ra bờ hồ sen. Nhà vua liền theo dơi nàng, muốn khám phá xem nàng đi đâu vào giờ này (ban đêm), và đă bị con chó xé xác khi nàng tới đó. Nhà vua cân nhắc vấn đề trong ba ngày mà không hiểu được toàn bộ vấn đề đó là ǵ. Nhà vua quyết định chắc hẳn con chó đó phải là kẻ thù của nàng và lấy mạng con chó đó, ngay lúc đó ngài bắn con vật bằng một mũi tên nhọn hoắt. Thế rồi nhà vua nhận ch́m[424] nữ ngạ quỉ xuống hồ sen và khi nhà vua nhận ra rằng nàng đă hiện nguyên h́nh trước kia của nàng, nhà vua liền hỏi nàng về biến cố với những đoạn kệ sau đây: 1. Những bậc thang của nàng được làm bằng vàng, và trên đó được rải cát màu vàng óng[425]. Ngay ở đó lại có những bông súng[426] màu trắng đầy khả ái, với hương thơm dịu dàng, và khiến cho tâm hồn[427] sảng khoái. 2. Có nhiều loại cây đa dạng che mát và lan tỏa nhiều loại hương thơm thơm ngát; mặt hồ che phủ với nhiều loại hoa sen[428] đa dạng lại có nhiều bông sen trắng[429] lan toả đầy[430] mặt nước. 3. Đầy mê ly, những bông hoa thoảng đưa mùi thơm khả ái quanh khắp vùng, có làn gió quạt nhẹ[431]vang vọng xa xa là tiếng kêu thiên nga[432] và vang vọng là tiếng ngỗng hồng[433] kêu quang quoác. 4. Có nhiều đàn chim xúm quanh và phát ra những tiếng hót đa dạng từ những bầy chim đó. Những khóm cây mang[434] đầy quả đủ loại và cánh rừng trổ đủ loại hoa[435] muôn sắc. 5. [156] Ta chẳng t́m đâu ra một thành phố giống kiểu này nơi cơi con người và lại c̣n có rất nhiều lâu đài bằng vàng bằng bạc[436]; (6) trông thật loé mắt. Những lâu đài đó chiếu sáng khắp tứ phía. 6. Đây phải chăng là những nàng hầu của nàng, có tới năm trăm nô lệ cũng của nàng. (7) họ được đeo ṿng tay và kiền đeo cổ và c̣n được trang điểm trên đầu bằng nhiều sợi dây bằng vàng[437]. 7. Nhà ngươi cũng có vô số giường nằm, làm bằng vàng bạc (8) và được trải với tấm trải bằng da non sơn dương được trang hoàng khéo léo và trải với những tấm vải len cừu[438] dài. 8. Khi nằm nghỉ trên đó nhà người được thoả măn mọi ước mơ mong muốn,(9) tuy nhiên vào lúc nửa đêm nàng thức dậy và ra đi. 9. Nhà ngươi đi tới vùng đất khoái lạc và (10) đứng trên đám cỏ xanh mướt bao quanh toàn thể chiếc đầm sen đó. 10. Rồi sao đó xuất hiện con chó cụt hai tai,[439] đă xé xác nhà ngươi hết chi này đến chi khác. (11) và khi con vật đă xé xác nhà ngươi chỉ c̣n lại một bộ xương, thế rồi quăng nàng xuống đầm sen và thân h́nh nhà ngươi lại trở lại nguyên h́nh như trước. 11. (12) Thế rồi với tứ chi được phục hồi, trong thật kiều diễm và dễ thương, nàng mặc bộ xiêm y và quay trở lại gặp ta. 12. (13) Giờ đây ác nghiệp nào nhà người đă thực hiện bằng thân, khẩu hay ư? mà kết quả của hành vi đó đă khiến cho con chó mất tai đă xé xác nàng ra như vậy?’ 1. Về điểm này, những bậc thang của nàng bằng vàng (savaṇṇasopānaphalakā): những bậc thang của nàng được làm bằng vàng và được trải quanh bằng cát vàng óng (sovaṇṇavāhukasanathatā): và được trải[440] quanh bằng cát vàng óng ánh. Tại đó (tattha): trên chiếc đầm sen. Những bông súng màu trắng: sogandhiyā = sogandhikā (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Dễ thương (vaggū): đẹp kiều diễm, xinh đẹp, lấp lánh. Hương thơm ngọt ngào (sucigandhā): với hương thơm khả ái. 2. Đủ thứ hương thơm[441] lan toả khắp nơi (nāgāgandhasamīritā): lan toả khắp nơi với luồng gió đủ loại hương thơm say đắm. [157] Đủ loại hồng sen che phủ khắp mặt hồ. (nānāpadumasañchannā): rất nhiều và đủ loại hoa sen[442] che phủ khắp mặt nước hồ. Trải trên mặt hồ với những bông sen trắng (puṇḍarikasamotāta): những bông sen[443] trắng phủ khắp mặt hồ. 3. Say đắm, những bông sen đó toả hương thơm khắp vùng (surabhi sampavāyanti): toàn bộ đầm sen toả ra[444] khắp nơi hương thơm khả ải – đây là ư nghĩa. Những tiếng kêu của loại thiên nga và diệc vang dội khắp nơi (haṃsakoñcābhirudā): tràn ngập với tiếng thiên nga và diệc vang dội khắp nơi. 4. Những đàn chim đủ loại kéo đến đông nghịt (nānādijagaṇakiṇṇā): tràn đầy những đàn chim đủ loại kéo đến. Và những tiếng hót líu lo của những đàn chim đó vang vọng khắp nơi. (nānāsaragaṇayutā): tràn ngâp với tiếng vang vọng của nhiều đàn chim ḥa trộn với nhau. Cây cối trổ đủ loại quả (nānāphaladharā): cây cối mang[445] đủ loại quả, những cành cây nặng quằn[446] xuống liên tục do sức nặng đủ mọi loại quả và những cánh rừng nở rộ đủ mọi loại hoa (nānāpupphadharā vanā): có nghĩa là những cánh rừng trổ đầy những loại hoa tràn ngập hương thơm quyến rũ; những ‘cánh rừng’ đây được dùng bằng cách thay đổi giới tính[447] . 5. Khác xa những thành phố nơi cơi chúng sanh (na manussesu īdisaṃ nagaraṃ): ta chẳng t́m đâu ra một thành phố giống như thành phố của nàng nơi cơi chúng sanh, có nghĩa là không biết đến một thành phố như vậy nơi cơi chúng sanh. Được làm bằng bạc (rūpiyāmaya): làm bằng đồng tiền bạc. Đang chiếu sáng (daddalhamānā): chói lọi tột độ. Chúng toả sáng (abhenti): vô cùng sáng chói. Sáng khắp tứ phương thiên hạ: samantā caturo disā = samantato catasso pi disā ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển). 6. Những người dưới quyền nàng: yā temā = yā te imā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Những tớ gái (paricārikā): những kẻ chỉ thực hiện những dịch vụ hầu hạ. Họ (ta): những tớ gái hầu hạ nàng. Mang ṿng xuyến nơi cánh tay và ṿng vàng đeo cổ. (kambukāyuradharā): trang điểm bằng ṿng xuyến đeo tay và ṿng đeo cổ làm bằng vỏ xà cừ. Đầu được trang điểm bằng những ṿng hoa bằng vàng. (kañcanāveḷabhusitā): những búi tóc trên đầu được trang điểm bằng những dây hoa bằng vàng.[448] 7. Được trải bằng những miếng vải làm bằng da non sơn dương (kadalimigasañchannā): trải trên (giường) với những tấm vải trải làm bằng da non sơn dương. Được sửa soạn rất công phu: sajjā = sajjitā (một dạng ngữ pháp hoán chuyển); ngủ trên đó quả là thích hợp. Lại được trải bằng những tấm thảm len lông dài (goṇakasanthatā): trải[449] bằng những tấm thảm len có lông dài. 8. Trên đó (yattha): trên chiếc giường đó. Khi nàng lên giường nằm nghỉ: vāsūpagatā = vāsaṃ upagatā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) có nghĩa là khi nàng nằm trên đó để ngủ. Khi đến nửa đêm (sampattāya aḍḍharattāya): khi nửa đêm ch́m xuống. Từ đó (tato): từ chiếc giường đó. 9. Chiếc đầm sen đó: pokkharañña = pokkharaṇiyā (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). [158] Màu xanh lá (harite) màu xanh lục.[450] Đầy cỏ (saddale): phủ đầy cỏ non. Tươi sáng (subhe) : sạch sẽ; hay nói cách khác đây chính là cách nói về nàng. – ‘hỡi nàng xinh đẹp sáng chói của ta ơi’. Này em yêu, em đi lại, đứng đó và nằm trên bờ cỏ non xanh rờn vây quanh là đầm hồ sen nở rộ. – đây là cách chúng ta phân tích. 10. Không có tai (cụt tai) (kaṇnamuṇdo): tai bị xé rách, tai bị đứt. Con vật đă xé xác nàng: khāyitā āsi = khāditā ahosi ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Chỉ chừa lại bộ xương. (aṭṭhisaṅnkhalikā katā): biến nhà ngươi chỉ c̣n lại bộ xương. Giống y hệt như trước (yatha pure): giống như trước khi bị chó xé xác. 11. Thế rồi (tato): sau khi d́m nàng xuống đầm sen. Tứ chi nàng được phục hồi nguyên h́nh (aṅgapaccaṅngā): các chi[451] được phục hồi hoàn toàn. Xinh đẹp kiều diễm (sucārū): vô cùng hấp dẫn. Trông rất dễ thương (piyadassanā): trông rất hấp dẫn. Đến (āyāsi): xuất hiện. Khi nhà vua lên tiếng hỏi như vậy, nữ ngạ quỉ đă thốt lên năm đoạn kệ kể lại sự thể ngay từ đầu cho nhà vua nghe. 13. (14). Tại thành Kimbila có một thiện nam kia, một thiện nam có đức tin mạnh mẽ; ta là vợ của thiện nam này, nhưng ta lại không có đức hạnh tốt và lại ngoại t́nh. 14. (15) Chồng ta đă nói với ta như thế này khi ta thông dâm như vậy. “quả thật không thích hợp cũng chẳng hay ho ǵ - nàng lại thông dâm chống lại ta bằng thân hay ư.’ 15. (16) Ta đă nói dối một cách trầm trọng khi ta thực hiện lời thề nói rằng, ‘em chẳng phạm tội thông dâm chống lại chàng bằng thân hay ư. 16. (17) Nếu em phạm tội thông dâm chống lại chàng bằng thân xác hay ư th́ mong rằng con chó cụt tai sẽ xé xác em.’ 17. (18) Chính do kết quả lời thề đó và do thực chất là ta đă nói dối mà trong suốt bảytrăm năm cho đến nay ta đă bị con chó cụp tai đó xé xác.” 13. [159] Về điểm này ngay tại thành phố Kimbila (Kimbhlāyaṃ): tại thành phố có tên như thế. Ngoại t́nh (aricārinī): Khi người vợ[452] đă phạm tội ngoại t́nh phản bội[453] lại chồng của ḿnh, nàng được cho là phạm tội ngoại t́nh do phẩm hạnh của nàng như vậy. 14. Chồng em đă nói với em như vậy trong khi em phạm tội ngoại t́nh chống lại anh ta – đây chính là điều ta cần phải phân tích.[454] ‘Đây là điều không thích hợp v.v... cho thấy cách thức chàng đă nói. Về điểm này điều này không thích hợp (n’etaṃ channaṃ): đây là điều không thích hợp. Theo cách này (n’etaṃ paṭirūpaṃ) là các từ đồng nghĩa.[455] Theo cách này (yam): với hành vi ngoại t́nh ấy. Phải được coi là hành vi ngoại t́nh: aticarāsi = aricarasi (một dạng ngữ pháp hoán chuyển); hay nói cách khác, điều sau này là cách giải thích duy nhất, ư nghĩa duy nhất nàng đă phạm phải tội ngoại t́nh chống lại ta bằng cách này, tội ngoại t́nh của nàng vào đó, đây là điều không thích hợp cũng như không hợp lư. 15. Khủng khiếp (ghoraṃ): ghe tởm, kinh dị. Lời thề (sapathaṃ): lời thề[456]. Được thực hiện: abhāsissaṃ = abhāsiṃ ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển) 16. Nếu như ta: sacāhaṃ = sace ahaṃ ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Chống lại anh: taṃ- rvaṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). 17. Về hành vi đó (tassa kammassa): về hành vi bất thiện đó, về hành vi phẩm hạnh bất thiện đó. Và do hành vi tôi đă nói dối (musāvādassa ca): và do hành vi tôi đă nói dối theo như đă đề cập đến ở trên. ‘ ta đă không phạm tội ngoại t́nh’. Cả hai (udhayaṃ): do kết qủa của cả hai việc. Ta đă thực hiện (anubhutaṃ) có nghĩa là ta đă tiến hành. V́ (yato): v́ ta đă làm ác nghiệp đó. Khi nàng đă nói như vậy nàng thốt lên hai đoạn kệ khen ngợi công việc nhà vua đă làm cho nàng như sau: 18. (19) Thưa bệ hạ, và ngài đă đến đây v́ thiếp đă giúp đỡ thiếp rất nhiều; thiếp đă thoát khỏi nanh vuốt con chó cụt tai. Và thiếp không c̣n phải chịu buồn sầu nữa, thiếp chẳng c̣n ǵ phải sợ ở bất kỳ nơi nào trên cơi đời này. 19. (20) Tâu bệ hạ, thiếp xin cúi ḿnh kính lễ bệ hạ, và cầu khẩn ngài bằng kiểu chào anjali: xin hăy thưởng thức khoái cảm nơi các phụ nữ phi nhân này. Tâu bệ hạ, xin hăy hưởng lạc với thiếp.’ 19. Về điểm này, thưa bệ hạ (deva): nàng đang nói với nhà vua. Về con chó tai cụp: kaṇṇamuṇdassa = kaṇṇamuṇḍato (một dạng ngữ pháp hoán chuyển): đây là sở hữu cách hiểu theo công cụ cách. Và rồi nhà vua mệt mỏi sống tại đó và khiến cho nàng biết ư định của ngài là muốn rời khỏi nơi đây. Khi nàng biết được ư định của nhà vua nữ ngạ quỉ đó, do ḷng gắn bó với nhà vua quá mạnh, [160] đă thốt lên đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘Thưa bệ hạ, thần kính lễ trước đức vua’ cầu xin nhà vua ở lại đây. Nhưng v́ đă quyết một ḷng rời khỏi nơi này, nhà vua đă thốt lên đoạn kệ kết luận như sau, công bố ư định của ḿnh như sau: 20. (21) ‘Trẫm đă thưởng ngoạn những khoái cảm[457] với những phụ nữ phi nhân này, và cũng đă tiêu khiển với nàng. Hỡi kẻ may mắn của ta, ta năn nỉ nàng, xin hăy đưa ta trở về ngay tức khắc. Về điểm này, trẫm năn nỉ nàng: tāhaṃ = taṃ ahaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Hỡi nàng phi nhân may mắn của trẫm. (subhage): xin hăy đưa trẫm về thành phố của ta (paṭinayāhi maṃ). điều c̣n lại đều đă rơ ràng. Khi nàng thiên cung ngạ quỉ nghe thấy những ǵ nhà vua nói nàng không thể chịu nổi việc chia cắt giữa hai người được nữa. Với tấm ḷng đau đớn và sầu khổ, thân nàng run bật lên, như thể nàng đă nài nỉ đức vua bằng nhiều cách, nàng cũng không thể nào thuyết phục nổi nhà vua ở lại. Nàng đă đưa đức vua trở lại thành phố của ngài với biết bao nhiêu châu báu có giá trị lớn. Và dẫn nhà vua lên lâu đài của ngài và sau khi nàng đă khóc lóc và than văn, nàng đă quay trở lại nơi cư trú của nàng. Bấy giờ khi nhà vua chứng kiến điều này, trong ḷng đầy xúc động ngài thực hiện phước báu bằng cách bố thí v.v... và ngài được tái sanh nơi thiên giới. Thế rồi khi Đức Phật xuất hiện trên cơi đời này, và đă quay chuyển pháp luân và đến thời gian qui định ngài đă lưu lại tại Sāvatthī. Trưởng lăo Mục Kiền Liên (Mahāmoggallana) khi đang du hành một ngày nọ trên núi đă chứng kiến người phụ nữ phi nhân đó với đoàn tuỳ tùng của nàng ngài liền hỏi nàng về ác nghiệp nàng đă thực hiện. Nàng đă kể lại mọi sự cho ngài trưởng lăo nghe từ lúc bắt đầu câu chuyện. Vị trưởng lăo nêu vấn đề này cho Đức Phật nghe ngài đă coi vấn đề đó như là một nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho đám người tụ họp lại tại đó. Chúng sanh sau khi đă nghe được vấn đề này quá xúc động đă từ bỏ[458] ác nghiệp. Thực hiện phước báu như bố thí v.v... và thoả thích trong Phật Pháp[459] và đă được tái sanh nơi thiên giới.
-ooOoo-
[407] Bản văn nên sửa lại từ sovaṇṇasapānaphalakā để giải thích với đoạn kệ là sovaṇṇasopāna- [408]. Chú giải Be giải thích là vāyamamāno c̣n bản văn Se ghi là gāayamāno. [409]. Một trong số các dụng cụ nhạc cổ của Ấn Độ, gần giống đàn luưt. Xin đọc A. K Coomaraswamy, ‘Một số từ pāli’, Havard Journal of Asiatic Studies IV, 2. 1939. tr. 167. [410]. Chú giải Be giải thích là kāamapaṭisaṃyuttagītāni c̣n bản văn Se ghi là kāmamati- [411]. Madhura, toàn bộ các bản văn đều giải thích là ngọt ngào. Lại nhấn mạnh đến ư nghĩa gây nghiện và gây khoái cảm v.v…chính v́ thế không c̣n nghi ngờ ǵ đây chính là sự cám dỗ của tiếng nhạc hơn là điệu nhạc đơn thuần đă khiến cho nàng hành động như vậy. [412]. Các vị khác là Anotatta, Sīhappapāta. Rathakāra, Kuṇāla. Chaddanta và Mandākini; xin đọc D I 54; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 101; J ii 92; chú giải DA 164 để biết thêm một nhóm khác. [413]. Xin đọc spơ PvA 228. [414]. Bheravarūpo, h́nh dáng giống Bhairava. Bhairava, lại giống Rudra (PvA 142), có liên quan với đặc tính khủng khiếp của thần Siva và đặc biệt hung dữ. Bhairava là thần độ tŕ quốc gia Nepal. [415]. Giải thích là suvipphālita- c̣n bản văn ghi là suvipphalita-; chú giải PED sv. Chú giải Se giải thích là suvipphūlita- khadirangārapuñjasadisanayano (Be suvipphulita-) [416]. Se giải thích nirantarappavattavijjullatāsaṅghātasadisajivho (Be-vijjulatā-) c̣n bản văn ghi là nirantarapavattivipulasaṅghātasadisajivho. [417]. Chú giải Be giải thích là panasalabujādhīhi c̣n bản văn ghi là pana salabujādīhi, có nghĩa là panasa, là cây mít. Artocarpus integrifolia, và labuja, là loại cây có múi dầy cơm. Artocarpus lacucha hay là incisa; có gợi lư chúng ta nên giải thích là salaḷa- như từ trong PED sv labuja nên loại bỏ. [418]. Chú giải Se Be giải thích là tena c̣n bản văn ghi là tehi. [419]. Chú giải Se Be giải thích là vajjhacarassa c̣n bản văn ghi là vajjacorassa; PED sv vajjha không phải là chú thích. [420]. Chú giải Se Be giải thích là -ūpakūjitaṃ c̣n bản văn ghi là -ūpakujitaṃ. [421]. Chú giải Se Be giải thích là tarugaṇopassobhitaṃ c̣n bản văn ghi là tarugaṇe palobhitaṃ. [422]. Chú giải Se Be giải thích là phalabhārāvanata- c̣n bản văn ghi là phalabhāravinatā- [423]. Se Be lại thêm t vào đây. [424]. Se Be giải thích là otāretvā, khiến cho nàng rơi xuống, c̣n bản văn ghi là ogāhetvā. Tôi chấp nhận bản văn của chúng ta v́ cách giải thích này phù hợp với ogāahasi trong đoạn kệ v 11 dựa vào đó toàn bộ các bản văn đều thống nhất. Be ở đây lại ghi thêm là chàng đă làm cho nàng té xuống sau khi đă đập đánh nàng thậm tệ. [425]. Chú giải Be giải thích là –santhatā. [426]. Sogandhiyā, hiểu theo nghĩa đen là một mùi thơm dễ chịu; bông sen súng. Không thấy liệt kê trong PED mà chỉ có từ sogandhika. [427]. Xin đọc chú giải Dhp 58. [428]. Paduma, nelumbium speciosum; những bông sen này có màu đỏ, trắng, xanh vàng hay hồng tím. [429]. Chú giải Be giải thích là samotatā c̣n bản văn Se ghi là samogatā. Xin đọc chú giải Vv 4412, 816 [430]. Puṇḍarīka; theo Childers đây cũng chỉ rơ một loại quả soài thơm ngon [431]. 2 c. d và 3 a b = Vv 4412. 81 6 [432]. haṃsa, là thiên nga hay ngỗng, một loại chim và như vậy cũng áp dụng cho các vị A-la-hán là vua chúng sanh. – Sn 220tt 1134 ; Dhp 91, 175. đây cũng là vāhana hay là một loài ngựa đặc chủng. Đấng Phạm Thiên và thường được giải thích là một biểu tượng của ḷng trong sạch khi xuất hiện trong kiến trúc Phật giáo. [433]. Cakkavāka, Anas Casarca. [434]. Chú giải Se Be giải thích là -dharā c̣n bản văn ghi là –dadā. [435]. Bốn đoạn kệ đầu tiên nên được hiểu như đă mô tả về Thiên Cung sự, những ǵ có trong đó không giống bất kỳ điều ǵ t́m thấy nơi thế giới con người, thứ tự các tính ngữ đa dạng chứa đựng trong những đoạn kệ này, như đă được chuyển xuống cho chúng ta, có vẻ hơi lộn xộn. Như đă lưu ư đến trong (n. 25) 2 cd và 3 ab cũng đă xuất hiện đến hai lần trong Vv là một đoạn kệ duy nhất và lại là khía cạnh nổi bật của các đoạn kệ này, đă bắt đầu một vấn đề được một nửa và qua đoạn kệ đó ta cũng đă kết luận được, điều này rơ ràng cho thấy các chi tiết đó đă rất lộn xộn hay một hay nhiều nửa đoạn kệ này chính là nửa của đoạn kệ sau mà đôi khi đă bị mất. Nhiều cố gắng để chỉnh sửa lại điểm này bằng cách lấy đoạn kệ 6 a b là 5 e và rồi tiếp tục nửa đoạn kệ sau. Điều này ta chấp nhận ở đây và đặt số câu trong ngoặc kép được chèn vào để giải thích nửa đoạn kệ sau. Dựa trên cơ sở mạch văn (văn cảnh) ta có thể cấu trúc lại các đoạn kệ đó như sau: 2 a b c d > 2 abcd; 2 c d; 2 c d 3 a b > 3 a b c; và 3 c d 4 b> 4 a b c d rất có thể c̣n phải thêm 5 a b là 4 e f vi rất có thể đoạn kệ thất lạc trên thuộc đoạn kệ v 5. [436]. Chú giải Be giải thích là sovaṇṇarūpiyāmayā c̣n bản văn ghi là –rūpiyamayā (Se –rupiyāmayā); tương tự như vậy trong v 7 trong đó bản văn giải thích là –ruciyāmayā và Se sửa lại chính xác là –rūpiyāmayā. [437]. Chú giải Se Be giải thích là kaṅcanāveḷabhūsitā c̣n bản văn ghi là – celabhsit; chú giải III 93 và Vv 362 [438]. Chú giải Se Be giải thích là sajjā goṇakasanthatā c̣n bản văn ghi là -sanṭhitā. [439]. kaṇṇamuṇḍo; xin đọc chú giải lake kaṇṇamuṇḍa ở trên là điều ta có thể hiểu là ‘với những người tới lỗ măng. [440]. Chú giải Be và đoạn kệ giải thích là santhat c̣n bản văn Se ghi là saṇṭhitā. [441]. Xin đọc PvA 164. [442]. Rattapaduma- với những paduma mầu đỏ. [443]. Setapadumehi. Với những paduma mầu trắng. [444]. Chú giải Se Be giải thích là vāyati pokkharaṇtī ti c̣n bản văn ghi là vāayanti, pokkarantī ti. [445]. Chú giải Be giải thích là -dhārino c̣n bản văn Se ghi là –dāyino. [446]. Chú giải Se Be giải thích là –sākhattā c̣n bản văn ghi là –sākhaggā. [447]. Danh cách giống đực số nhiều, vanā, giống dở, vanāti. [448]. Chú giải Se Be giải thích là suvaṇṇavaṭaṃsakasamalaṅkata c̣n bản văn ghi là suvaṇṇavatthaṃ katasamalaṅkata- [449]. Chú giải Se Be giải thích là -santhatā c̣n bản văn ghi là -saṇṭhitā. [450]. Nīla; từ này có thể biểu thị mầu xanh dương và xanh lá, xanh đậm, xanh lạt và được dùng là từ chung để chỉ các loại “màu tối” ngược lại với “màu sáng”. Thí dụ màu vàng lạt (pita) cặp từ (nila-pita) được dùng để chỉ thị màu ‘không thuộc loại’ thuần nhất chính v́ thế mà nila có ư nghĩa dao động biến đổi ở đây (xin đọc PED sv nīla) [451]. Chú giải Se Be giải thích là paripuṇṇasabbaṅgapaccaṅgavatī c̣n bản văn ghi là paripuṇṇāabh- [452]. Chú giải Se giải thích là jāyā hi patiṃ c̣n bản văn ghi là lāyāpatī; chú giải Be giải thích là bhairiyā hi patiṃ. [453]. Chú giải Se Be giải thích là atikkamma caraṇato c̣n bản văn ghi là atikamācaraṇato; chú giải CPD sv atikkama. [454]. Chú giải Se Be lại bỏ qua từ mở đầu atikkamacaranato trong bản văn của chúng ta. [455]. Chú giải Se Be giải thích là vevacanaṃ c̣n bản văn ghi là vacanaṃ. [456]. sapanaṃ; xin đọc chú giải PvA 34. [457]. Chú giải Be giải thích là bhuttā amāmusā kāmā c̣n bản văn ghi là bhutā amānusā kāmā; chú giải Se giải thích là bhutvā amānuse kāme. [458]. Chú giải Se Be giải thích là oramitvā c̣n bản văn ghi là otaritvā. [459]. Dhammābhirato; Se Be lại bỏ qua.
|
|