|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
II. 8 Chú giải chuyện ngạ quỉ TIỂU THƯƠNG ‘Thưa ngài, ngài là vị xuất gia lỏa lồ và gầy yếu.’ Vị Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngài lưu lại trong khu Rừng Trúc liên quan đến Ngạ quỉ Cūlasetthi. Người ta kể lại rằng trong thành Bernares có một gia chủ tên là Cūlasetthi, là người chẳng có niềm tin cũng như không có tịnh tín lại là người keo kiệt và bủn xỉn không có ḷng kính trọng đối với việc thực hiện nghiệp báu Khi gia chủ qua đời đă phải tái sanh nơi cơi Ngạ quỉ, đầu trọc, trần truồng không có quần áo và với thân h́nh không có thịt máu chỉ có xương, gân và da. (chỉ có da bọc xương). Tuy nhiên con gái chủ gia tên là Anulā, đang sống bên nhà chồng trong thành Andhakavinda[195] đă sửa soạn[196] một số của bố thí như cơm v.v... với ước muốn dâng cúng một số các vị bà la môn để cầu siêu cho cha ḿnh. Khi nghe được điều này, ngạ quỉ đi lang thang đây kia với hy vọng bay lên trời để tới thành Rājagaha vào thời gian nhà vua Ajātasattu đang đi lên đi xuống lầu trong toà lâu đài hoàng gia, nhà vua không tài nào ngủ được v́ lương tâm bất ổn và với những ác mộng do Devaputta xúi dục sau khi đă lấy mạng cha của ḿnh. Khi nh́n thấy ngạ quỉ di chuyển trên không nhà vua hỏi [106] với đoạn kệ sau: 1.‘Thưa ngài, ngài là vị xuất gia loả lồ (lơa thể) và gầy yếu. Ban đêm ngài đi đâu và v́ lư do ǵ? Xin nói cho trẫm biết - nếu có khả năng, chúng ta sẽ tặng cho ngài nhiều của theo ư ngài muốn.’ 1. Về điểm này là người đă xuất gia (pabbajito): là vị sa môn. Người ta kể lại rằng nhà vua nói, ‘Ngài là vị xuất gia lỏa lồ và có thân h́nh gầy ốm’ v.v... nghĩ rằng ngài là vị sa môn lỏa lồ do thân h́nh lỏa lồ và đầu cạo trọc. Về điểm này v́ lư do ǵ? (kissa hetu): v́ lư do ǵ vậy? trẫm có thể tặng cho ngài của cải theo ư ngài muốn (sabbena vittaṃ paṭipādaye tuvaṃ): trẫm sẽ ban tặng cho ngài, trẫm có thể kiếm[197] cho ngài, theo ư ngài muốn, những của cải là những hỗ trợ để ngài sống thoải mái cùng với những vật dụng cần thiết, hay nói cách khác với những ǵ cần thiết. Chắc chắn[198] chúng ta có thể hành động theo cách này. Chính v́ thế hăy nói cho chúng ta biết (ācikkha me taṃ) có nghĩa là giải thích cho trẫm lư do tại sao ngài phải xuất hiện ở đây. Khi đức vua hỏi như vậy, ngạ quỉ liền thốt lên đoạn kệ giải thích hoàn cảnh của ḿnh như sau: 2.Thành phố Bernares nổi tiếng khắp vùng; tôi là một gia nhân trong thánh phố đó, tôi giàu có nhưng lai keo kiệt bủn xỉn. tôi chẳng bố thí bao giờ và lại có ḷng ham hưởng lạc. Do phẩm hạnh xấu xa đó nên tôi đă phải tái sanh nơi cơi Diêm Vương. 3. Do vậy tôi bị hao ṃn giống như cây kim; chính v́ lư do đó tôi phải đến anh em họ hàng nhằm kiếm chút ǵ để ăn cho no bụng nhưng họ lại thiếu từ bi và không tin rằng bố thí chẳng đem lại kết quả ǵ cho đời sau cả. 4. Tuy vậy, con gái tôi thường xuyên lẩm bẩm rằng, ‘ta sẽ bố thí nhân danh cha ta và ông nội ta.’ [107] Các vị bà la môn đă được cúng dường những ǵ con gái tôi sửa soạn tại đó và tôi đi đến thành Andhakavinda để ăn những thứ đó.[199]’ 2. Về điểm này nổi tiếng khắp nơi (dūraghuṭṭhaṃ): được tôn lên khắp nơi bằng cách khen ngợi do những phẩm chất thiện, có nghĩa là nổi tiếng và được biết đến khắp nơi. Thịnh vượng: aḍḍhako = aḍḍho (một dạng ngữ pháp hoán chuyển), có nghĩa là rất thịnh vượng trù phú. Keo kiệt (dīno): tính bủn xỉn, trong tư thế không sẵn sàng bố thí. V́ lư do đó ngạ quỉ nói, ‘tôi đă không thực hiện bố thí.’ Tâm tôi luôn hướng về ái dục (gedhitamano āāmisasmiṃ): tâm tôi lúc nào cũng luôn nghĩ tới khoái lạc.[200] qua phẩm hạnh bất thiện đó tôi đă tái sanh nơi cơi Diêm Vương (dussīlena Yamavasayamhi patto): qua những ác hạnh đă làm, ta đă tái sanh nơi cơi Diêm vương, và cơi ngạ quỉ. 3. Ta đă bị kiệt quệ chỉ c̣n bằng cây kim (so sūcikāyo kilamito): tôi đă bị kiệt quệ. Tôi đă bị đâm chọc liên tục, do đói khát được gọi là là ‘cây kim’ tương tự như đặc tính đâm thọc của cây kim. Hay nói cách khác cách giải thích chính là hiện trạng ‘cạn kiệt’ (kilamatho). Do những điều này (tehi): v́ lư do tôi đă thực hiện những hành vi xấu xa nói ở trên thế nên đă bị thất vọng hoàn toàn và chính v́ thế nói theo cách này. Chính v́ lư do này (ten’eva): chính v́ lư do điều khổ sở đau khổ đói khát này. Ta đă đến với bà con thân thuộc của ḿnh (ñātīsu yāmi): ta đi, ta lên đường tới trước sự hiện diện của bà con ruột thịt của ta. Nhằm kiếm được chút ǵ để vào bụng (āmisakiñcihetu) chỉ cốt kiếm được một chút đồ ăn, có nghĩa là mong chờ được một chút đồ ăn. Nhưng họ lại thiếu tinh thần từ bi quảng đại và không tin rằng bố thí chẳng đem lại kết quả nào dành cho đời sau (adānasīlā na va saddahanti, ‘dānaphalaṃ hoti paramhi loke): đối với ta, cũng giống như vậy những kẻ thiếu ḷng từ và không tin tưởng rằng chắc chắn chẳng có nhân quả ǵ trong việc bố thí có thể giúp được cho đời sau, cũng giống như ta, v́ lư do đó cả họ nữa cũng sẽ tái sanh thành ngạ quỉ và trải qua những khổ cực to lớn đó chính là ư nghĩa ở đây. 4. Lẩm bẩm (lapate): nói lảm nhảm. Kiên tŕ: abhikkhaṇaṃ = abhiṇhaṃ ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển) liên tục. Nàng lẩm bẩm điều ǵ vậy? Nàng nói, ‘Ta sẽ bố thí cho cha ông ta.’ Về điểm này dành cho cha ta (pitunnaṃ: dành cho cha mẹ ta hay dành cho cha mẹ em trai anh trai ta[201], Dành cho ông nội ta (pitāmahānaṃ): dành cho ông nội và ông cố nội.[202] Điều nàng đă sẵn sàng (upakkhaṭaṃ): những ǵ nàng đă sửa soạn. Đă được dâng cho (parivisayanti): được cho ăn. Tới thành Andhakavina (Andhakinvinda): thành phố với tên như vậy. Để ăn: bhotuṃ = bhuñjituṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) [108] Từ điểm này trở đi là những câu kệ do các vị kiết tập Kinh Tạng đề cập đến: 5.Nhà vua nói với ngạ quỉ, “Sau khi nhà ngươi đă sử dụng đồ ăn đó nhà người phải quay trở lại ngay; cả ta nữa cũng sẽ cúng dường cho ngươi. Hăy cho ta biết xem c̣n bất kỳ điều kiện ǵ v́ chúng ta sẵn sàng lắng nghe thuyết giảng những điều kiện[203] đáng tin cậy. 6.“Chắc vậy rồi’ ngạ quỉ nói và ra đi. Nhưng những kẻ ăn thức ăn tại đó lại tỏ ra không xứng với của thí đó. Chính v́ thế ngạ quỉ quay trở lại [204] thành Rājagaha một lần nữa và hiện h́nh trước vị chúa tể chúng sanh. 7.Nhận thấy, Ngạ Quỉ lại quay trở lại một lần nữa, nhà vua nói, ‘Ta phải cho nhà ngươi ǵ đây? Hăy nói cho hay có điều kiện ǵ chăng nhờ đó nhà ngươi có thể nhận được hạnh phúc một thời gian dài trong tương lai.’ 8.‘Khi ngài cúng dường Đức Phật và tăng đoàn với vật thực, đồ uống hay y cà sa, tâu bệ hạ, rồi sau đó hồi hướng phước thí đó nhằm đem lại lợi ích cho ta. Bằng cách này ta có thể được hạnh phúc một thời gian dài trong tương lai. 9.Chính v́ thế nhà vua đă ngồi xuống và chính tay nhà vua đă bố thí một cách rộng răi cho tăng già; ngài đă tường tŕnh công việc này cho vị Như Lai và hồi hướng phước thí cho ngạ quỉ đó. 10.Được tôn kính như vậy và với tướng mạo sáng láng vô ngần, ngạ quỉ đă hiện nguyên h́nh truớc mặt nhà vua và nói, ‘Giờ đây ta là một dạ xoa có sức mạnh thần thông tột đỉnh. Chẳng có chúng sanh nào sánh bằng hay ngang bằng với ta được. 11.Hăy nh́n xem vinh quang vô hạn lượng này của ta đă do đại vương[205] hồi hướng cho ta sau khi ngài đă bố thí vô số kể vật dụng cho Tăng Đoàn. [109] ta sẽ được thoả măn liên tục và luôn măi, với đầy đủ mọi thứ như vậy và ta sẽ luôn được hạnh phúc, ôi Chư thiên nơi cơi chúng sanh. 5. Về điểm này, đức vua nói với Ngạ Quỉ (tam avoca rājā): nhà vua Ajātasattu nói với Ngạ Quỉ đang đứng đó sau khi đă nói như vậy. Sau khi ngài đă tham gia vào điều đó (anubhaviyāna tam pi): sau khi ngài đă tham gia vào việc bố thí mà con gái nhà ngươi đă sửa soạn. Nhà vua nên hồi hướng (eyyāsi): nhà vua nên hồi hướng trở lại. Sẽ cúng dường : karissaṃ=karissāmi (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Hăy cho ta biết c̣n có những điều kiện nào nữa chăng (ācikkha me taṃ yadi atthi hetu): hăy nói cho ta, hăy giải thích cho ta, nếu c̣n cách nào khác nữa chăng. Có thể tin tưởng được (saddhāyitaṃ): là điều cần được tin tưởng. Bất kỳ điều kiện nào khác (hetu vaco): bất kỳ tuyên bố nào liên quan đến, tuyên bố cùng với những cách thức (kèm theo) như là, ‘sẽ đem lại lợi ích cho ta khi của bố thí như vậy, như vậy ngay tại nơi này nơi nọ và theo cách này cách nọ. 6. ‘Mong rằng được như vậy,’ vị ấy nói (tathā ti vatvā): ‘Tốt lắm’, ngài nói. Tại đó (tattha)[206] trong thành Andhakavinda, là nơi vật thực được dọn sẵn. Nhưng những kẻ dùng vật thực đó lại không xứng với vật thí đó(bhuñjiṃsu [207] bhattaṃ na ca pana dakkhiṇārahā): những kẻ sử dụng vật thực từ các vị bà la môn có ác hạnh, nghĩa là những kẻ sử dụng vật thực đó không có giới đức và không xứng đáng nhận vật thí đó. Một lần nữa: punāparaṃ-puna aparaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) ngạ quỉ lại quay trở lại thành Rājagaha một lần nữa. 7. Ta phải bố thí cho nhà ngươi điều ǵ (kiṃ dadāmi): nhà vua hỏi Ngạ Quỉ ‘ta phải bố thí cho nhà ngươi loại vật thí nào? Qua đó nhà ngươi (ciratarraṃ): trong một thời gian lâu dài. Hạnh phúc (pīṇito): nhà ngươi có đồng ư không, nghĩa là làm ơn giải thích điều này. 8. Khi nhà ngươi đang dâng cúng (parivisāyani) :khi ta cho nhà ngươi ăn. Tâu bệ hạ. (rāja): ngài đang nói với Ajātasattu. Có lợi cho ta (ne hitāya): đem lại lợi ích cho ta, để ta được giải thoát khỏi cơi Ngạ quỉ. 9. Chính v́ thế (tato): v́ lư do đó, v́ lời công bố đó; hay nói cách khác, Từ chỗ đó (tato): từ nơi lâu đài, ngài bước xuống (nipatitvā): đi ra ngoài. Ngay khi đó (tavā-d-eva): chính ngay sau đó, vào thời điểm mặt trời đang mọc. Nhà vua đă tổ chức bố thí ngay[208] buổi sáng hôm đó, lúc đó ngạ quỉ đă quay trở lại và hiện rơ nguyên h́nh người với nhà vua. [110] Bằng chính tay nhà vua: sahatthā = sahatthena (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Không ǵ sánh nổi (atulaṃ): vô song, tuyệt nhất[209], hoàn hảo nhất. Bố thí cho tăng đoàn: daditvā saṅghe = saṅghassa datvā (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Ngài thuật lại sự việc cho vị Như lai (ārocayi pakatiṃ Tathāgatassa): ngài thuật lại sự việc đó cho Đức Phật nói rằng, ‘Thưa Đức Phật, vật thí này được thực hiện liên quan đến một ngạ quỉ nọ. Và khi ngài đă kể lại vấn đề này, ngài đă hồi hướng: (ādisittha = ādisi, một dạng ngữ pháp hoán chuyển) của thí cho ngạ quỉ đó theo cùng một cách trong đó vật thí đó đem lại lợi ích cho hắn[210] 10. Hắn (so): ngạ quỉ, tôn kính (pūjito): tôn kính với vật thí đă được thực hiện. Toả sáng chói lọi (ativiya sobhamano): vô cùng chói lọi với ánh sáng chư thiên.[211] Ngài xuất hiện: pāturahosi = pātubhavi (một dạng ngữ pháp hoán chuyển); ngạ quỉ hiện nguyên h́nh trước nhà vua. Giờ đây ta là một dạ xoa (yakkho haṃ asmi): thoát khỏi[212] cơi ngạ qủi. Ta đă trở thành một dạ xoa, Ta đă đạt đến cảnh thiên giới (devata). Chẳng có chúng sanh nào sánh bằng hay ngang bằng với sức mạnh thần thông của ta (na mayham iddhisamasadiā manussā): chẳng có chúng sanh nào sánh bằng ta nơi ánh sáng chói chang[213] này. 11. Hăy nh́n xem vẻ oai lực vô hạn của ta (passānubhāvaṃ aparimitaṃ mamayidaṃ): chứng tỏ thù thắng của ḿnh cho nhà vua nói rằng, ‘Hăy nh́n xem ánh sáng chư thiên vô hạn của ta.’ Được hồi hướng cho ta sau khi nhà vua đă bố thí vượt lên mọi sự cho tăng đoàn (tayānudiṭṭhaṃ atulaṃ daditvā saṅghe): sau khi nhà vua đă bố thí vật thí thượng hạng như vậy vượt qua mọi so sánh cho tăng đoàn thánh đức.[214] Họ được nhà ngươi hồi hướng do ḷng từ bi quảng đại đối với ta. Ta sẽ được toại nguyện liên tục, măi măi không bao giờ gián đoạn và luôn măi cho đến khi nào sanh mệnh vẫn c̣n tồn tại. Do việc ngài đă làm thỏa măn Tăng Đoàn giới đức với nhiều của thí cúng dường như đồ ăn thức uống, y phục v.v... Ôi chư thiên (deva) ta sẽ hạnh phúc đi khắp nơi chúng sanh. (yāmi ahaṃ sukhito manussadeva): ngạ quỉ xin rút lui nói rằng, ‘Chính v́ thế giờ đây ta luôn hạnh phúc, ôi Chư Thiên, ôi đại vương, và ta sẽ đi tới bất kỳ nơi đâu ta muốn. [111] Khi ngạ quỉ đă ra đi sau khi xin phép Đức Phật như vậy, nhà vua Ajatasattu đă nêu vấn đề với các tỳ khưu. Các tỳ khưu đến gặp Đức Phật và nêu vấn đề đó với ngài. Đức Phật coi đó là nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho dân chúng đang tụ tập lại ở đó. Khi nghe biết vấn đề này dân chúng đă từ bỏ hết mọi vẩn nhơ ích kỷ, bủn xỉn và thoả thích thực hiện các phước báu bố thí v.v...
-ooOoo-
[195] Một ngôi làng ngay bên ngoài thành Rājagaha. [196]. Chú giải Se Be giải thích là dāanūpakaraṇāani c̣n bản văn ghi là dānūpakaraṇā nisajesi; xin đọc chú giải PvA 278. [197]. Chú giải Se Be giải thích là sampādeyyaṃ c̣n bản văn ghi là sammāa deyyaṃ; Se Be giải thích là paṭipādaye trong đoạn kệ nhưng lại giải thích là paṭipādeyyaṃ trong tập chú giải. [198]. Chú giải Se Be giải thích là app’eva nāma c̣n bản văn ghi là app’eva. [199]. Chú giải Se giải thích là bhottun ti (Be bhuttun ti) c̣n bản văn ghi là bhottun’ tī ti. [200]. Chú giải Se Be giải thích là kāmāmise laggacitto c̣n bản văn ghi là kāmāmiseḷaggacitto. [201]. Chú giải Be giải thích là cūḷapitumahāpitūnaṃ (Se culla- ) c̣n bản văn ghi là cūḷapitu mahāpitūnaṃ [202]. ayyakapayyakānaṃ; xin đọc chú giải SED sv āryaka được cho là một nghi lễ dành cho những ngạ quỉ. [203]. Chú giải Se Be và IV 131 dưới đây giải thích là hetuvaco c̣n bản văn ghi là hetuvahe. [204]. Chú giải Se Be và tập chủ giải dưới đây giải thích là paccāgami c̣n bản văn ghi là pacchā gamī. [205]. Chú giải Se Be giải thích ở đây và trong tập chú giải là tayāanudiṭṭhaṃ (Se chú giải –udd-) c̣n bản văn ghi là tayānusiṭṭhaṃ. [206]. Chú giải Se Be giải thích là tattha ti c̣n bản văn ghi là tattha bhuñjimsū ti. [207]. Bản văn đă chấm câu sai và nên giải thích với Se Be…parivesanaṭṭhāne. Bhuñjiṃsu. [208]. Chú giải Se Be giải thích là eva c̣n bản văn ghi là evađ ca. [209]. Chú giải Se Be giải thích là suḷāraṃ c̣n bản văn ghi là oḷāraṃ. [210]. Chú giải Se Be giải thích là ārocetvā yatthā taṃ dānaṃ tassa upakappati evaṃ tassa ca petassa dakkhiṇaṃ āadhīittha ādīi c̣n bản văn ghi là āropetvā ca yathā uḷāraṃ paṇītaṃ dānaṃ datvā taṃ dānaṃ petassa upakappati, evaṃ tassa dakkhiṇaṃ ādisittha ādisi. [211]. Chú giải Se Be giải thích là dibbānubhāvena c̣n bản văn ghi là dibbabhāvena. [212]. Chú giải Se Be giải thích là mutto c̣n bản văn ghi là mato. [213]. Chú giải Se Be giải thích là ānubhāva- c̣n bản văn ghi là anubhāva- [214]. Xin đọc chú thích trong PvA 105 ở trên.
|
|
![]()