NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

     CHÚ GIẢI  

  CHUYỆN NGẠ QỦI

   (Petavatthu - aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III.5  Chú giải chuyện ngạ quỉ TIỂU NHI
[Kumārapetavatthuvaṇṇanā]

‘Tuệ giác của vị Thiện Thệ[156] thật tuyệt vời.’ Đây là chuyện kể về Tiểu Nhi Ngạ Quỉ. Chuyện kể này đă xuất hiện như thế nào?

Người ta kể lại rằng trong thành Sāvatthī có rất nhiều thiện nam đă tự tổ chức thành một nhóm Phật Tử và đă xây dưng trong thành phố đó một phước xá rất rộng và được trang hoàng bằng rất nhiều loại vải đủ màu sắc khác nhau. Vào buổi sáng sớm họ đă mời Đạo sư và tăng đoàn các tỳ khưu và cùng với các tỳ khưu có Đức Phật đứng đầu ngồi trên vị trí được trải với nhiều vải trải chất lượng cao rất đắt tiền, cúng dường các vị đó với hương nhang và hoa v.v... [195] và khởi sự một cuộc bố thí rất lớn. Khi nh́n thấy quang cảnh đó, có một người đàn ông nọ, có tâm bị bợn nhơ ích kỷ che phủ, không thể chịu đựng nổi việc cúng dường như vậy, đă nói rằng, ‘Tốt hơn hết là bỏ tất cả những thứ đó vào thùng rác hơn là cúng dường cho những hạng người đầu trọc đó.’ Khi họ nghe thấy những lời đó khiến cho một số các thiện nam bị dao động trong ḷng, họ suy nghĩ, “Quả thật đây là điều nghiêm trọng con người này đă theo đuổi ác nghiệp, với ác nghiệp đó hắn đă xuc phạm đến các vị tỳ khưu có Đức Phật dẫn đầu.’ Họ đă tường tŕnh sự việc cho mẹ người đó rằng, ‘Bà phải đi và xin lỗi Đức Phật và Tăng Đoàn của ngài.’ ‘Tốt lắm’ bà đồng ư và sau khi đă quở trách con trai ḿnh thậm tệ, doạ nạt nó bà đă đến gặp Đức Phật và tăng đoàn các tỳ khưu và xin lỗi. Thú nhận việc sai phạm con trai bà đă phạm phải và đảnh lễ Đức Phật cùng tăng đoàn các tỳ khưu, trong ṿng bảy ngày với của bố thí bằng cơm dẻo. Con trai của bà đă qua đời không lâu sau đó và đă tái đầu thai trong ḷng một gái điếm đă kiếm sống bằng những hành vi bất chính. Bấy giờ nàng nhận ra rằng ḿnh sanh ra một đứa con trai ngay sau khi sanh nàng đă bỏ rơi đứa nhỏ trong băi tha ma.[157] Tại đó cậu nhỏ đă được bảo vệ do sức mạnh những phước báu cậu đă làm ở kiếp trước và chẳng có ai quấy rầy cậu cả và cậu đă ngủ an lành như trong ḷng mẹ vậy. Người ta cho rằng cậu đă được các chư thiên bảo vệ. Thế rồi vào lúc b́nh minh, khi Đức Phật khởi xuất hành thiền về ḷng từ tâm[158] và Ngài đang ngắm nh́n thế gian với Phật nhăn, Ngài đă nh́n thấy cậu bé bị bỏ rơi nơi băi tha ma, và khi mặt trời mọc Ngài đă đi đến băi tha ma đó. Dân chúng tụ họp lại đă nói rằng, ‘Đức Phật đă tới đây chắc ngài phải có nguyên cớ ǵ đây.’ Đức Phật liền nói với đám đông tụ họp lại rằng, ‘Ta chẳng nên khinh khi đứa trẻ này, ngay cả giờ đây nó đang bị bỏ rơi trong nghĩa địa này trong hoàn cảnh tuyệt vọng. Trong tương lai cậu ta sẽ đạt đến thù thắng cao nhất cả trong đời này lẫn trong cuộc sống mai sau. Những người đi theo hỏi Đức Phật, ‘Thưa Đức Thế Tôn cậu ta đă thực hiện phước báu nào ở kiếp trước? Ngài giải thích nghiệp cậu bé đă thực hiện và thù thắng cậu ta sẽ đạt được trong tương lai bằng đoạn kệ bắt đầu như sau:

“Vinh quang tột đỉnh chúng sanh đă thực hiện cho Tăng đoàn các tỳ khưu với Đức Phật đứng đầu khi cậu ta có những lầm lẫn trong tâm và có nói những lời thô lỗ và những lời khiếm lễ.’

Đức Phật đă diễn giải Phật Pháp thích hợp với hoàn cảnh của đám người qui tụ lại tại đó và sau đó ngài đă thuyết diệu pháp và chính các ngài đă khám phá ra (khổ, tập diệt, đạo)[159] vào lúc kết thúc bài thuyết pháp đó [196] tuệ giác Phật Pháp đă khởi sanh nơi tám mươi tư ngàn chúng sanh. Và trước sự hiện diện của Đức Phật một người có tài sản đáng giá tám mươi ngàn kotis đă nhận cậu bé nói rằng, ‘Cậu ta sẽ trở thành con trai ta’.[160] Đức Phật nói, ‘Cậu nhỏ này được một người giàu có như vậy bảo vệ và giúp đỡ đă đem lại cho chúng sanh.[161]’ và rồi ngài trở về thiền viện. Đến đúng thời điểm qui định khi người giàu có đó qua đời, cậu ta đă nhận thừa kế ông để lại bằng di chúc[162]. Cậu ta đă trở thành chủ gia nhân giàu có nhất trong thành phố và đă thực hiện rất nhiều phước báu như bố thí v.v... Và rồi một ngày kia các tỳ khưu bắt đầu nói với nhau trong giảng đường chánh pháp rằng, quả thật đây là điều rat tuyệt vời, làm thế nào Đức Phật đă tỏ ḷng bi mẫn với chúng sanh; quả thật chính đứa trẻ đó ngay cả trong thời đó đă rơi vào t́nh cảnh tuyệt vọng, giờ đây lại được hưởng thù thắng to lớn đến như vậy và thực hiện được rất nhiều phước báu’; khi ngài nghe thấy điều này, vị đạo sư trả lời, ‘Hỡi các tỳ khưu, đây chưa phải toàn bộ thù thắng của cậu ta, quả thật vào cuối đời cậu ta sẽ đầu thai thành con trai của Sakka, vua các chư thiên. Nơi cơi Tam Thập Tam và đạt được rất nhiều thù thắng chư thiên.’ Khi họ nghe được điều này các tỳ khưu và chúng sanh đă tỏ ḷng kính phục trí toàn tri của Đức Phật, nói rằng[163], ‘Người ta nói rằng khi Phật nhăn nh́n xa trông rộng đă nh́n thấy những ǵ đă được thực hiện, ngài đă đến đó và giúp đỡ cho cậu nhỏ bị bỏ rơi nơi băi tha ma ngay sau khi sanh ra.’ Và họ có thể kể rất nhiều về biến cố liên quan đến cậu nhỏ trong suốt cuộc sống của họ.[164] Những vị Kiết Tập Tam Tạng đă nói lên sáu đoạn kệ hầu làm rơ vấn đề này:

1.      Trí của vị Thiện Thệ thật thù thắng; đạo sư đă trả lời phù hợp với từng cá nhân; dầu có tràn đầy phước báu một số đă trở thành hạ sanh trong khi đó dầu có phước báu giới hạn song lại trở nên rất cao quí.[165]

2.      Cậu nhỏ bị bỏ rơi nơi băi tha ma, vẫn duy tŕ được cuộc sống suốt đêm bằng sự ẩm ướt của ngón tay cái. Chẳng có quỉ thần dạ xoa cũng như rắn rết có thể hại được cậu bé[166] cậu đă thực hiện được phước báu.[167]

3.      [197] Tuy nhiên chó liếm chân cậu bé, trong khi đó quạ và chó rừng lại vây quanh cậu. Những bầy chim lấy đi những nhơ uế lúc cậu được sanh ra. Trong khi đó những con quạ tha đi những cục ghèn bám nơi mắt đứa nhỏ.

4.      Chẳng có ai bảo vệ cậu cũng chẳng ai cho cậu thuốc men hay sưởi ấm bằng cách đốt hạt cải, chẳng ai thèm chú ư đến việc các v́ sao di chuyển hay thậm chí rải ra các hạt ngũ cốc.

5.      Rơi vào một hoàn cảnh khốn khổ như vậy như thể bị mang đi vào ban đêm và bị bỏ rơi nơi băi tha ma và run rẩy như khúc bơ tươi. Đời sống quả thật không chắc chắn nhưng vẫn tồn tại.

6.      Một con người được các chư thiên và chúng sanh kính lễ đă nh́n thấy cậu bé; ngay khi nh́n thấy cậu, đấng vô thượng trí liền công bố. ‘Đứa trẻ này sẽ trở thành thành viên của một gia đ́nh cao trọng nhất trong thành phố này do tài sản của cậu.”

7.      Cậu đă thọ tŕ điều ǵ vậy, giờ đây hạnh phúc của cậu hệ tại điều ǵ?[168] do kết quả của thiện hạnh nào đă khiến cho cậu sau khi đă rơi vào cảnh ngộ như vậy lại vẫn có thể tiếp tục hưởng được tiềm năng sức mạnh đến như vậy?[169]

1. Về điểm này tuyệt vời (accherarūpaṃ): có bản chất tuyệt vời. Trí của đức Thiện Thệ (Sugatassa ñaṇaṃ): Trí của Đức Thiện Thệ không ai có thể chia sẻ được – người ta kể lại rằng trí toàn tri này, như trí biết được khuynh hướng và căn tính của con người v.v... v́ lư do ǵ trí của Đức Phật lại không thuộc phạm vi trí của bất kỳ ai khác? Người ta nói rằng, Đức Phật đă trả lời theo nghiệp duyên của từng cá nhân.’ Điều này cho thấy chỉ[170] qua việc diễn giải của ngài bản chất tuyệt vời về trí của ngài được sáng tỏ. Thế rồi việc làm sáng tỏ phương pháp trả lời của ngài, người ta lại kể rằng[171], cho dù có đầy đủ phước báu một số người vẫn chỉ là hạ sanh, trong khi đó dù phước báu của ai đó có bị hạn chế một số người vẫn có thể trở nên cao quí.’ Đây là ư nghĩa của vấn đề: cho dù có tích luỹ được nhiều thiện pháp một số chúng sanh ở đây vẫn trở thành thấp hèn về ḍng dơi v.v... [198] chỉ bằng một ác nghiệp loại đó đă được duy tŕ trong tâm, trong khi đó cho dù có phước báu hạn chế cho dù có ít phước báu hơn do có được những chứng đắc thành công liên tục do có được phước điền v.v... [172] th́ một số chúng sanh vẫn trở thành cao quí do vẻ oai lực của phước báu đó đem lại.

2. Nơi Băi tha ma (sīvathikāya): trong nghĩa trang. Do sự ẩm ướt từ ngón tay cái toát ra (aṅguṭṭhasnehena): bằng sự ẩm ướt toát ra từ ngón tay cái, có nghĩa là bằng sữa chảy ra từ ngón tay cái của vị Chư Thiên. Chẳng phải quỉ dạ xoa hay loài ḅ sát nào (na yakkhbhūtā na siriṃsapā va): chẳng phải những loài quỉ sứ pisaca hay quỉ dạ xoa cũng như loài bọ sát hay bất kỳ loài cây leo nào di chuyển qua đó.[173] Có thể gây phiền hà (quấy rầy) (na viheṭhayeyyuṃ): có thể đàn áp hay tấn công.

3. Liếm chân (pālihiṃsu pade): lấy lưỡi liếm chân ngài.[174] Những con quạ (dhaṅkā): con diều hâu (kākā). Con chó giả can xúm quanh (siṅgālā parivattayanti): bám quanh liên tục[175] bảo vệ cậu ta để duy tŕ kiếp sống cho cậu ta nghĩ rằng, ‘Mong rằng chẳng ai có thể hại cậu bé này!’ Những vật bất tịnh trong lúc sanh ra (gabbhāsayaṃ): những chất nhơ trong khi sanh. Những đàn chim (pakkhigaṇā): những đàn chim như chim kền kền, diều hâu v.v... lấy đi (haranti): mang đi. Những cục ghèn ở hai mắt (akkhimalaṃ): những ǵ từ mắt cậu nhỏ tiết ra.

4. Chẳng có ai (keci): chẳng có ai thuộc kiếp con người, v́ các phi nhân đang bảo vệ cậu. Thuốc men (osadhaṃ): thuốc giải độc đem lại sức khoẻ ngay cả lúc đó và trong tương lai nữa.[176] Hay do việc xông khói hạt cải (sāsapadhūpanaṃ va): việc xông khói họ thực hiện với hạt cải nhằm bảo vệ cho đứa trẻ mới sanh; họ giải thích rằng chẳng có ǵ được thực hiện để bảo vệ đứa trẻ mới sanh ngay cả điều (xông khói) này nữa. Thậm chí chẳng có ai để ư đến việc giao hội giữa các v́ sao: nakkhattayogaṃ pi na uggahesuṃ = nakkhattayuttam pi na uggaṇhiṃsu (một dạng ngữ pháp hoán chuyển), có nghĩa là chẳng có ai coi số tử vi cho cậu bé ngay cả bằng cách như vậy, ‘đứa bé này được sanh dưới ngôi sao này ngôi sao nọ của hoàng đạo v.v... dưới hành tinh này hành tinh kia, cậu bé sanh ra trong ngày có trăng hay vào thời điểm chính xác nào đó.’ Hay ngay cả việc rải các hạt ngũ cốc nữa (na cabbadhaññani pi ākiriṃsu): khi đứa trẻ sanh ra người ta rải những hạt ngũ cốc như gieo mạ trong ruộng lúa... hay trộn với dầu hạt cải để tạo ra một hành vi may mắn như một loại thuốc giải độc cho mọi bệnh tật, ư nghĩa ở đây là ngay cả những điều như vậy họ cũng không thực hiện cho cậu bé.

5. Như thế (etādisaṃ): [199] như thế. Bị bỏ rơi trong t́nh trạng khốn khổ cùng cực (uttamakicchapattaṃ): gặp phải t́nh trạng khốn khổ cùng cực, rơi vào t́nh thế khốn khổ tột độ. Như bị mang đi vào ban đêm: rattābhataṃ = rattiyaṃ ābhataṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Giống như một cục bơ tươi (nonītapiṇdaṃ viya): giống như một cục bơ tươi. Điều này được đề cập tới do đứa trẻ chỉ là một cục thịt mà thôi. Run rẩy (pavedhamānaṃ): run rẩy do lâm vào t́nh cảnh yếu đuối. Nghi ngờ (sasaṃsayaṃ): vô cùng nghi ngờ do thiếu chắc chắn như không hiểu cậu nhỏ có thể sống được hay không.[177] Tuy nhiên với sức sống c̣n lại (jīvitasāvasesaṃ): ấy vậy mà chỉ với một chút sức sống c̣n lại do thiếu những thứ thiết yếu đối với một con người làm phương tiện để duy tŕ cuộc sống.[178]

6. Sẽ trở thành thành viên một gia đ́nh giàu có nhất do tài sản cậu có được (aggakuliko bhavissati bhogato) có nghĩa là cậu ta sẽ trở thành thành viên của một gia đ́nh giàu có nhất, của một gia đ́nh tuỵêt vời nhất do tài sản cậu có được. Nhờ vào tài sản cậu có được. Đoạn kệ bắt đầu với: ‘sự thọ tŕ nào của cậu bé ấy’ do một thiện nhân thốt lên trước sự hiện diện của Đức Phật như là một cách t́m hiểu về hành vi cậu bé đă thực hiện trong tiền kiếp, do những người đă nhặt được cậu trong băi tha ma; đây chính là cách chúng ta nên hiểu.

7. Về điểm này Cậu ta là ai vậy?: ki’ssa-kim assa ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) sự thọ tŕ (vataṃ): việc thực hiện một tuân giữ luật giới nào đó. Một lần nữa thuộc điều ǵ thế?(kissa): thuộc loại hạnh thiện nào thế, việc tuân thủ phạm hạnh nào vậy? – Đây là cách ta nên phân tích. Ở đây đă có sự biến cách thay đổi đôi chút.[179] Như vậy (etādisaṃ): như phải đầu thai trong ḷng cô gái điếm và bị bỏ rơi nơi nghĩa trang. Một cảnh ngộ (vyasanam): một điều bất hạnh. Đến mức độ ấy (tādisaṃ): quá sức, có nghĩa giống như cách ta đă khẳng định ở trên, cụ thể là ‘tồn tại trong suốt đêm do chất ẩm (sữa) toát ra từ ngón tay cái.’ v.v... như thể ‘cậu nhỏ này sẽ trở thành thành viên của một gia đ́nh giàu có nhất trong thành phố v.v... Tiềm năng (iddhiṃ) ám chỉ thù thắng chư thiên của sức mạnh thần thông.

Giờ đây Đức Thiện Thệ đă hỏi ngài theo cách đó, đă trả lời rất phù hợp; các vị Kiết Tập Kinh Tạng đă thốt lên bốn đoạn kệ chứng tỏ điều này:

8.      Chúng sanh đă tỏ ḷng tôn kính tột độ với tăng đoàn có Đức Phật dẫn đầu trong khi cậu ta th́ có những suy nghĩ sai lầm trong tâm và nói những lời thô thiển, nói những lời khiếm nhă.

9.      Khi cậu ta đă loại trừ được suy nghĩ đó và sau đó đă chiếm lại được niềm hoan lạc và tịnh tín [200] cậu ta đă hầu hạ vị Như Lai trong suốt bảy ngày liên tục với cơm dẻo khi ngài c̣n đang lưu lại trong khu rừng Jeta.

10.  Đó chính là việc tuân giữ pháp của cậu, và giờ đây là phạm hạnh của cậu. Từ phẩm hạnh thiện đó là kết quả này, sau khi đă trải qua nỗi khốn khổ như thế, cậu ta đă có thể đi tiếp để hưởng niềm hân hoan như thể sức mạnh do oai lực như vậy.

11.  Sau khi đă lưu lại tại đó trong ṿng một trăm năm được cung cấp toàn bộ những ǵ theo như yêu cầu của cậu, vào lúc thân hoại mệnh chung, cậu đă được đoàn tụ với Vasava nơi kiếp đời sau.’

8. Về điểm này do những chúng sanh (janatā): do tập thể những người tụ tập lại thành đoàn thiện nam đây là ư nghĩa, Khi mà (tatra): vào lúc họ tỏ ḷng tôn kính (kính lễ)[180]. Cậu ta (assa): cậu con trai đó Có tâm lầm lạc (cittassa ahu aññathattaṃ): nơi kiếp trước tâm của cậu đă rơi vào bản chất sai lạc lầm lẫn và cậu đă tỏ ra thiếu kính cẩn, kính lễ và tin tưởng. Khiếm nhă (asabbhiṃ): cậu nói năng thô lỗ và nói một cách khó nghe giữa một nhóm những người có giới đức.[181]

9. Người đó (so): người này (vừa được đề cập tới). Suy nghĩ đó (taṃ vitākkaṃ): ác ư đó đă loại trừ được (đẩy lùi xua tan) (paṭivinodayitvā): đă khiến tiêu tan do mẹ cậu khuyên can. Đă chiếm lại được niềm hoan hỷ và tịnh tín (pītipasādaṃ paṭiladdhā): đă t́m lại được, đă chiếm lại được khiến nổi lên, hoan hỉ và tịnh tín[182]. Cậu ta hầu hạ mẹ bằng món cơm dẻo (yāguyā upaṭṭhāsi): cậu ta đă hầu hạ với của thí bằng món cơm dẻo.Trong bảy ngày liền (sattarattaṃ) [183] trong bảy này liền.

10. Đó chính là việc cậu tuân giữ giới, giờ đây là phạm hạnh của cậu ta. (ta’ ssa vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ): ḷng tịnh tín đó và của thí theo cách đă khẳng định ở trên. Chính là việc tuân giữ luật giới của người này, cùng với phạm hạnh của cậu, có nghĩa là chẳng c̣n điều ǵ ngoài việc này.

11. Sau những ǵ c̣n tồn tại (thatvāna): sau khi cậu ta c̣n lưu lại tại đây, nơi kiếp chúng sanh, cho đến lúc kết thúc sanh mệnh của cậu. Trong cuộc sống mai hậu (abhisampārayaṃ): nơi kiếp sau. Cậu ta sẽ ra đi tụ họp lại với Vasava (sahavyyataṃ gacchati Vāsavassa): cậu ta sẽ từ biệt cơi đời và đến chung sống với Sakka[184], là vua các chư thiên, [201] như là người con trai của sakka; đây là cách khẳng định ở th́ hiện tại có nghĩa tương lai. Điều c̣n lại đă tự rơ ràng.

 

-ooOoo-

 

[156] Tính ngữ dùng để chỉ Đức Phật, đôi khi c̣n gọi là Đức Thiện Thệ.

[157]. Đây h́nh như là một thói quen – xin đọc Kern, A Manual of Indian Buddhism. Delhi 1974, tr. 29

[158]. Xin đọc chú giải PvA 61.

[159]. Xin đọc chú thích trong PvA 38 ở trên.

[160]. Cách chấm câu của bản văn nên được sửa lại để giải thích với Se Be như sau:…bhagavato sammukhā ’va ’mama putto’ ti aggahisi.

[161]. Sự trợ giúp chính là tuệ quán nhập pháp đă được ban phát và ở đây đi nghịch lại với sự bảo vệ trần tục (rakkhito) ban cho đứa trẻ; Gehman h́nh như đă hiểu lầm hoàn toàn điểm này.

[162]. Kuṭumbaṃ saṇṭhapento. Tự điển PED cũng ghi như vậy; rất có thể đây là một gia đ́nh thương gia.

[163]. Cách chấm câu của bản văn nên được chỉnh lại để giải thích cho khớp với chú giải Se Be như sau: Taṃ sutvā bhikkhū mahājano ca: ‘idaṃ kira kāaranaṃ disvā dīghadassī bhagavā…’

[164]. Chú giải Se Be giải thích là attabhāave c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là atthabhāve.

[165]. Đoạn kệ này đă bị hư và nếu được khôi phục vẫn không thể có nghĩa là Dhammapāla muốn nói như vậy, tuy nhiên h́nh như chính ngài Dhammapāla đă gặp đoạn kệ bị hư như vậy tôi kèm vào đây một trích đoạn từ tập chú giải được để trong ngoặc kép chỉ đơn giản nhằm đem lại một chút ư nghĩa cho đoạn kệ mà thôi.

[166]. Chú giải Se Be giải thích là viheṭhayeyyuṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là heṭhayeyyuṃ.

[167]. Từ điểm này trở đi tôi theo cách phân chia các đoạn kệ được ghi lại trong Se Be, đây không phải là bản văn của chúng ta cũng chẳng phải của Pv.

[168]. Đoạn kệ nên được giải thích là ki’ ssa…kissa…thể theo tập chú giải dưới đây chứ không phải là kissa… ki’ssa…

[169]. Xin đọc chú giải Vv 8434

[170]. Chú giải Se Be giải thích là eva c̣n bản văn ghi là evaṃ.

[171]. Āha, nghĩa đen là ngài nói.

[172]. Xin đọc chú giải PvA 191 ở trên.

[173]. Toàn bộ các bản văn cũng giải thích như vậy; tuy nhiên một vl trong Be có thể thích hợp hơn: na yakkhabhūtā ti yakkhā vā bhūtā vā…

[174]. Chú giải Be giải thích là Pālihiṃsu pāde ti attano jivhāya pāde lihiṃsu c̣n bản văn ghi là Pālihiṃsu pāde na yakkhabhūtā ti yakkhā vā bhūtā vā… Pālihiṃsu pāde ti attano jivhāya pāde lihiṃsulà Pālihiṃsu pāde ti attano jivhāya pāde palahiṃsu.

[175]. Chú giải Se Be giải thích là aparāparaṃ c̣n bản văn ghi là apāraparaṃ.

[176]. Xin đọc chú giải GS ii 55 n.1 để biết rơ ư nghĩa điểm này.

[177]. Chú giải Se Be giải thích là na nu c̣n bản văn ghi là nanu.

[178]. Chú giải Se Be giải thích là hetabhūtānaṃ c̣n bản văn kinh tạng ghi là hetu bhūtanaṃ

[179]. Có nghĩa là danh cách kiṃ ở đây trở thành tặng cách/thuộc cách kissa.

[180]. Chú giải Se Be giải thích là tassaṃ pūjāyaṃ c̣n bản văn ghi là tassa pūjāyaṃ.

[181]. Chú giải Se Be giải thích là sādhusabhāya c̣n bản văn ghi là sādhu sabhāya. Sabbā, thường được giải thích là pḥng hội họp ở đây lại được cho là ‘sâm rộng’ để nhấn mạnh một thực chất đó là asabbhiṃ xuất phát từ Sabbā với tiếp đầu ngữ phủ định và chính v́ thế có nghĩa là không lịch sự, không nhă nhặn không bao gồm hành vi tốt - xin đọc PED sv asabbha. chú giải Se Be giải thích ở đây là asabhaṃ.

[182]. Ơ đây chú giải Se Be lại thêm vào pītīm pasādañ ca; bản văn lại bỏ qua.

[183]. Hiểu theo nghĩa đen là trong bảy đêm.

[184]. S I 229 khẳng định là ngài có tên gọi là Vāsava qua việc bố thí trú xứ nơi kiếp trước và như vậy Vāsava, là người chủ nhà, xin đọc chú giải DhpA I 264; trong khi đó ii 260 lại cho rằng ngài được gọi như vậy v́ ngài là thủ lănh của Vasu (Vasūnaṃ seṭṭho) ngài Buddhaghosa coi như là một hạng devatas (Vasudevatānaṃ DA 690): xin đọc DPPN ii 857tt. để biết thêm chi tiết.