NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

     CHÚ GIẢI  

  CHUYỆN NGẠ QỦI

   (Petavatthu - aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III.7 Chú giải chuyện ngạ quỉ THỢ SĂN NAI
[Migaluddapetavatthuvaṇṇanā]

“Nhà ngươi c̣n trẻ song cả nam nhân nữ giới đều kính trọng,’ chuyện kể này được thuật lại khi Đức Thế Tôn c̣n lưu lại trong cánh rừng Trúc liên quan đến ngạ quỉ là thợ săn nai.

Người ta kể lại rằng, trong thành Rājagaha có một người thợ săn kiếm sống bằng cách bắn hạ và giết nai cả ngày lẫn đêm. Ông có người bạn thân là một thiện nam, cho dù không thuyết phục nổi ông từ bỏ luôn ác nghiệp, bèn thức tỉnh anh ta làm việc phước vào ban đêm nói rằng, ‘Nào, bạn thân ta ơi, xin đừng sát sanh vào ban đêm! Ông nên hạn chế đừng sát sanh vào ban đêm và có thể làm điều đó vào ban ngày”. Đến thời điểm đă định người thợ săn nai qua đời và tái sanh nơi một thiên cung ngạ quỉ gần thành Rājagaha và phải trải qua biết bao đau khổ vào ban ngày song lại được hài ḷng[190] và được hưởng dục lạc vào ban đêm. Khi nh́n thấy người thợ săn trưởng lăo Nārada hỏi anh với đoạn kệ sau:

1.    [205] ‘Nhà ngươi c̣n trẻ song cả nam nhân và nữ giới đều kính trọng; nhà ngươi tỏ ra sáng chói với các dục lạc. Nhưng vào ban ngày th́ nhà ngươi lại phải lănh khổ quả – nhà ngươi đă làm ǵ nơi kiếp trước?’

1. Về điểm này các nam nhân và nữ giới kính trọng (naranarīpurakkhato): được kính trọng, được hầu hạ có các Chư Thiên[191] nam nữ hầu hạ. Trẻ trung (yuvā): trẻ. Giữa những lôi kéo (rajanīye): với những điều cám dỗ, điều thích hợp làm nổi dậy tham dục. Với những tham dục (kāmaguṇehi): với những cảm khoái dục lạc. Nhà ngươi trông rất đẹp (sobhasi): nhà ngươi trông rất đẹp vào ban đêm do có được những điều này. Đó là ư nghĩa ở đây. V́ lư do đó ngài nói rằng: nhưng vào ban ngày nhà ngươi phải chịu quả khổ (divasaṃ anubhosi kāraṇaṃ): hay nói cách khác (chúng ta nên giải thích :) Vào ban đêm (rajanī): vào ban đêm (rattīsu), ye ở đây chỉ là một tiểu từ. Nhà ngươi đă làm ǵ nơi kiếp trước? (kiṃ akāsi purimāya jātiyā): nhà ngươi đă thực hiện ác nghiệp nào nơi kiếp trước đă dẫn đến hạnh phúc và đau khổ như vậy. Ư nghĩa ở đây là xin làm ơn nói cho ta biết.

Khi nghe được điều này ngạ quỉ thốt lên những đoạn kệ sau đây nói cho trưởng lăo về những nghiệp chàng đă thực hiện.

2.      Trong thành Rājagaha tươi đẹp, ở thành Giribhaja[192] khả ái ấy, trước kia ta làm nghề thợ săn nai, độc ác và với bàn tay dính máu.

3.      Do tâm bị ô nhiễm, ta đă không tốt trong cuộc sống, luôn hướng tới làm hại chúng sanh và vô cùng tàn nhẫn đối với những sanh vật vô tội, những thọ tạo gần xa.

4.      Ta có người bạn đầy từ tâm, là thiện nam có ḷng tin và đă cảm thấy thương hại ta nên đă nhiều lần khuyên răn ta nói rằng,

5.      Xin đừng có phạm ác nghiệp, ông bạn của tôi ơi, để khỏi rơi vào kiếp khốn khổ; nếu nhà ngươi muốn  được hạnh phúc sau khi qua đời.[193]Hăy tránh xa những hành vi sát sanh bừa băi.”

6.      Ta đă nghe theo những lời khuyên chỉ muốn ta được hạnh phúc và lo lắng đến hạnh phúc của ta, tuy nhiên v́ đă quá dấn sâu vào ác nghiệp và thiếu tuệ giác, ta đă không theo toàn bộ những lời khuyên của anh ta.

7.      Một lần nữa, con người vô cùng khôn ngoan đó, do ḷng thương xót đối với ta, lại khuyên nhủ ta hăy tỏ ra hạn chế nói rằng, ‘Nếu như nhà ngươi có sát sanh vào ban ngày th́ hăy đừng làm như vậy vào ban đêm.

8.      [206] Chính v́ thế ban ngày ta đă sát sanh nhưng lại hạn chế vào ban đêm – và vào ban đêm ta đă cảm thấy khoái cảm trong khi ban ngày ta đă rơi vào cảnh khốn khổ và ta đă bị xâu xé.

9.      Do thiện nghiệp đó vào ban đêm ta đă được hưởng khoái cảm phi nhân trong khi đó vào ban ngày th́ những tai hoạ lại đổ dồn trên đầu ta từ tứ phía để xâu xé ăn thịt ta.

10.  Giờ đây những kẻ nào liên tục tự rèn luyện ḿnh, và kẻ nào chuyên tâm thực hiện lời khuyên của vị Thiện Thệ. – thiết nghĩ chỉ những kẻ đó sẽ đạt đến bất tử, đó chính là đạt đến vô vi vậy.

2. Về điểm này người thợ săn (luddho): (một người tỏ ra) hung ác. Có bàn tay vấy máu. (lohitapāṇi): với những bàn tay dính máu do đă nhiều lần thực hiện sát sanh bằng cách liên tục tàn sát thú vật. Hung ác (dāruṇo): là người hung dữ, có nghĩa là người liên tục làm hại đến những sanh vật.

3. Vô tội: avirodhakiresu = avirodhaṃ karontesu (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); như thể nai, và chim chóc v.v...

5. Không kiềm chế (asaṃyamaṃ): không kiểm soát được bản chất hung ác của ḿnh.

6. Toàn bộ lời khuyên của anh ta (sakalānusāsaniṃ): toàn bộ lời khuyên của anh ta, có nghĩa là luôn luôn kiềm chế khỏi những ác nghiệp. Đă quen với những ác nghiệp quá lâu rồi (cirapāpābhirato): đă theo đuổi những ác nghiệp trong một thời gian dài.

7. Kiềm chế (saṃyame): hạnh thiện. Lời khuyên: nivesayi = nivesesi (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Nếu như vào ban ngày nhà ngươi đă sát sanh những sinh vật th́ hăy tỏ ra kiềm chế vào ban đêm (sace divā hānasi pāṇino atha te rattiṃ bhavatu saṃyamo): điều này cho thấy cách thức người bạn đă khuyên nhủ anh ta như thế nào. Người ta kể lại rằng chính vào ban đêm anh ta cũng thực hiện những việc sát sanh như bằng cách giương bẫy và đóng cọc để hại người v.v...

8. Vào ban ngày ta đă phải chịu kiếp khốn khổ và bị ăn thịt (divā khajjāmi duggato): giờ đây ta đă rơi vào kiếp khốn khổ, đă phải chịu đau khổ lớn lao, và vào ban ngày ta đă bị xé xác ăn thịt. Người ta kể lại rằng quả nghiệp anh ta đă phải theo thật xứng với ác nghiệp anh ta đă thả những con chó xé xác những con nai vào ban ngày. (như vậy) vào ban ngày những con chó to lớn, đă nhảy chồm lấy anh ta và xé xác anh ta đến nỗi chẳng c̣n ǵ cả mà chỉ c̣n bộ xương. Trong khi đó khi đêm xuống chàng lại hiện được nguyên h́nh và được hưởng thù thắng chư thiên. V́ lư do đó có lời nói rằng: [207] ‘Do phước báu đó vào ban đêm ta được hưởng các cảm khoái của chư thiên trong khi đó vào ban ngày những con chó săn hung dữ đă nhảy chồm lấy ta và xé xác ta để ăn thịt.’

9. Về điểm này hung hăn (paṭihatā): trong t́nh trạng hung hăn như thể đây là cú nhảy tiêu diệt. Từ mọi phía để xé xác ăn thịt ta (samantā khādituṃ): chúng nhảy chồm lên ta từ mọi phía để xé xác ăn thịt ta; điều này được ám chỉ vào lúc chúng tiến lại gần anh ta khiến cho anh ta vô cùng khiếp sợ. Khi chúng đă nhảy chồm lên và khiến cho thân xác anh ta không c̣n ǵ nữa chỉ c̣n có xương, tuy nhiên chúng đă đi theo đường chúng đă đi.

10. Giờ đây những kẻ nào liên tục tự kiềm chế ḿnh (ye ca te satatānyogino): đây là ư nghĩa ngắn gọn trong lúc kết của đoạn kệ. Tuy nhiên, ngay cả khi ta đă được hưởng thù thắng chư thiên qua việc chỉ kiềm chế khỏi sát sanh vào ban đêm. Tuy nhiên những người nào có ư định liên tục, ư định cương quyết, liên tục, vào mọi lúc, tự kiềm chế ḿnh theo lời dạy của vị Thiện Thệ, của Đức Thế Tôn Buddha, đối với giới đức cao hơn.[194] Chỉ những phước báu này mà thôi, theo thiển ư tôi cũng đă đạt đến bất tử. Đó là nơi ta gọi là chốn vô vi,[195] là điều ta không nên lầm lan với hạnh phúc thế gian chẳng c̣n điều ǵ gây cản trở việc chứng đắc điều này.

Khi ngài đă nói như vậy Trưởng lăo đă nêu vấn đề với đạo sư, ngài đă coi vấn đề đó như là nhu cầu nổi lên và đă diễn giải Phật Pháp cho đám người tụ tập tại đó mọi sự cũng đều giống như đă đưa ra ở trên.

 

-ooOoo-

 

[190] Chú giải Se giải thích là paricāreti (Be paricāresi) c̣n bản văn ghi là parihāti.

[191]. Ư nghĩa đích thực của từ devaputta, ngược lại với các từ khác như devatā và deva v.v… vẫn cần đến thẩm sát khẩn trương hơn. Thật rất hấp dẫn được biết đến ở đây việc sử dụng ít nhất theo nghĩa đen là chư thiên con trai, chư thiên con gái. Xin đọc chú giải PvA 147.

[192]. Giribbaja. Một tên gọi khác của thành Rājagaha, tọa lạc trong một thung lũng vây quanh là đồi núi. Có rất nhiều đồi núi này mang ư nghĩa tôn giáo hết sức giá trị, như Ngọn núi Kền Kền, người ta kể lại Đức Phật đă Phân phát nhiều Kinh Phật chính của ngài (Mahāyāna sutras). Một số ngọn đồi khác đă trở thành linh thiêng đối với những người Jainas và ngày nay đă trở thành địa điểm hành hương nổi tiếng. Khu Rừng Trúc, trong đó rất nhiều câu chuyện trong tập này đă được kể lại cũng tọa lạc trong thung lũng này, xin đọc chú giải DPPN ii 721 để biết về lịch sử các điểm này, cũng như MLS I 39 n 3 để biết thêm nguyên từ Giribbaja.

[193]. Pecca.

[194]. Chú giải Se Be giải thích là adhisīlādike c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là adhisīlādhike

[195]. Chú giải Se Be và đoạn kệ v 10 giải thích là asaṅkhataṃ padan ti c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là asaṅkhatan ti.