NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

     CHÚ GIẢI  

  CHUYỆN NGẠ QỦI

   (Petavatthu - aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III. 6 Chú giải chuyện ngạ quỉ SERINĪ
[Serinīpetavatthuvaṇṇanā]

"Ngươi lỏa lồ và có h́nh dạng xấu xí.” Chuyện kể này được thuật lại khi Đạo sư c̣n lưu trong Khu Rừng Jeta liên quan đến Nữ Ngạ Quỉ Serini.

Người ta kể lại rằng tại Hatthinipura[185] trong vương quốc những thần dân Kurus có một gái điếm tên là Serinī. Giờ đây các tỳ khưu đă tụ tập lại từ nơi này nơi khác nhằm mục đích làm lễ phát lồ (uposatha)[186] và có một tăng đoàn các tỳ khưu đông đảo diễn ra tại nơi đó. Khi họ nh́n thấy sự kiện này chúng sanh đă sửa soạn một cuộc bố thí rất dồi dào các vật thí như thể dầu mè gạo v.v... thục tô , bơ tươi và mật ong v.v... và họ đă bắt đầu tổ chức một buổi lễ cúng dường rất lớn. Bấy giờ vào thời đó cô gái điếm đó chẳng có niềm tin lẫn tịnh tín và tâm lại bị che ẩn do bợn nhơ bủn xỉn. Mặc dù chúng sanh đă động viên nàng nói rằng, ‘Hăy tới và tỏ ḷng hian hỷ đối với cuộc bố thí này!’Nàng đă tỏ rơ ḷng bất tịnh tín nói rằng, ‘ Bố thí cho những tên sa môn đầu trọc đó có lợi ích ǵ? Tại sao tôi phải cho đi ngay cả một vật nhỏ mọn nhất cho bọn người đó? Đến thời điểm đă định nàng qua đời và tái sanh thành một nữ ngạ quỉ trong một hào rănh ở một vùng biên cương thành phố nọ. Bấy giờ có một thiện nam nọ trong vùng Hatthinipura đă đến thành phố đó và, đứng không xa nơi đó là bao, nàng đă hiện nguyên h́nh nàng, lỏa lồ với thân h́nh chỉ c̣n lại có da bọc xương, và nh́n vô cùng kinh dị. Khi anh ta nh́n thấy nàng, anh ta lại hỏi với câu kệ sau:

1.      ‘Nàng loả lồ và có h́nh dáng kinh dị, gầy ốm với những đường gân lộ ra này nhà ngươi gầy ốm với xương sườn lộ ra, giờ đây nhà ngươi là ai mà lại đứng im tại đây?’

Nàng đă hiện nguyên h́nh ra cho chàng biết cũng dùng đoạn kệ này:

2.      Thưa ngài, tôi là một nữ ngạ quỉ đă phải tái sanh nơi kiếp đau khổ ở cơi Diêm Vương sau khi đă thực hiện ác nghiệp, ta đă phải đi từ đây đến cơi ngạ quỉ.’

Anh chàng lại hỏi nàng một lần nữa về nghiệp nàng đă thực hiện với đoạn kệ sau:

3.      ‘Giờ đây ác nghiệp nào nhà ngươi đă thực hiện do thân, khẩu hay ư? do kết quả của ác nghiệp đó nhà ngươi đă phải ra đi từ nơi này đến cơi ngạ quỉ?’

[202] Và giờ đây nàng đă nói cho anh ta biết nàng đă làm ác nghiệp nào và hơn nữa chàng phải làm ǵ để đem lại lợi ích cho nàng, với sáu đoạn kệ sau:

4.      ‘Em đă t́m kiếm những đồng tiền nơi băi tắm công cộng; cho dù phước thí đang trong tầm tay em, nhưng em đă không kiếm đó làm nơi nương tựa cho chính ḿnh.

5.      Bị khát bỏng cổ, em đi đến ḍng sông nhưng ḍng sông liền cạn kiệt hết nước; ở giữa đám lửa nóng ta đến bóng râm nhưng nó lại biến thành nóng như thiêu như đốt dưới sức nóng mặt trời.

6.      Và một ngọn gió giống như lửa thổi trên em, đốt cháy em, thưa ngài nhưng em lại đáng bị như vậy và nỗi đau khổ kinh khủng hơn thế nữa.

7.      Khi ngài tiến lại gần Hatthinpura nhà ngươi phải nói với mẹ ta, “Ta đă nh́n thấy con gái của bà phải tái sanh nơi kiếp đau khổ nơi cơi Diêm Vương, sau khi đă làm ác nghiệp, nàng đă phải đi từ đây tới cơi ngạ quỉ.

8.      Ở đây có điều được để dành nhưng ta không được phép công bố – có một khoản tiền đó bốn trăm ngàn đồng dấu phía dưới chiếc giường.

9.      Từ món tiền này bà nên thực hiện bố thí dùm em. Mong rằng điều đó sẽ đem lại sanh mệnh cho em và khi bà thực hiện bố thí th́ bà phải hồi hướng phước thí đó cho em – thế rồi em sẽ trở nên hạnh phúc và được nhận dồi dào những ǵ ḿnh ước ao.

4. Về điểm này Tại những điểm tắm công cộng (anāvajenu titthesu): tại những điểm tắm công cộng như sông và hồ bơi v.v... không có ai kiểm soát cả.[187] Tại những nơi có nhiều người đến tắm rửa thân ḿnh như vậy. Em đến kiếm những món tiền nhỏ tại đó. (vicini addhamāsakaṃ): do thèm khát chế ngự em đă t́m kiếm, dầu chỉ là những đồng tiền[188] nhỏ mọn nhất nghĩ rằng, ‘Tại nơi đây có lẽ em có thể kiếm được những ǵ người ta để quên tại đó.’ Hay nói cách khác tại những chỗ tắm công cộng đó (anāvajesu titthesu nơi các sa môn và các thầy bà la môn lui tới. – những chỗ “tắm đó” không có ai kiểm soát bất kỳ ai tới đó và cũng là nơi tạo phương tiện tinh luyện phẩm hạnh và các khuynh hướng cho chúng sanh. Ta t́m kiếm những đồng tiền nhỏ (vicini addhamāsakaṃ): với tâm đă bị những bợn nhơ ích kỷ xâm chiếm và chẳng bố thí cho ai cả. Ta đặc biệt t́m kiếm ngay cả những đồng tiền nhỏ và không tạo được bất kỳ công đức nào. V́ lư do đó nàng nói rằng, ‘Cho dù cúng dường nằm trong tầm tay, song ta không tạo ra được bất kỳ phước báu nào cho chính ḿnh.’

5. Bị khát cháy cổ: chịu khát. Trống rỗng (rittakā): cho dù con sông đang chảy xiết tràn bờ đến nỗi những con quạ đậu trên bờ sông có thể uống nươc thoải mái, đă trở nên cạn kiệt và chẳng c̣n chút nước nào nữa, đă biến thành toàn là cát, do ác nghiệp ta đă làm. [203] Ngay giữa sức nóng gay gắt (uphesu): vào thời điểm trời nóng gay gắt. Đă bị sức nóng mặt trời thiêu đốt (ātapo parivattati): một chỗ bóng râm, khi ta tiến lại, liền trở thành cháy bỏng do mặt trời thiêu đốt.

6. Giống như lửa (aggivaṇṇo): giống như lửa ngọn đuốc. V́ lư do đó có lời nói rằng, ‘ khi đốt cháy tôi lửa thổi vào người tôi”. ‘Nhưng thưa ngài, ta đáng phải chịu điều đó (etañ ca bhante arahāmi): nàng nói với thiện nam ấy một cách cung kính với cách xưng hô ‘thưa ngài’. Nhưng thưa ngài, tôi đáng phải chịu nỗi khổ sở đói khát v.v... nói trên và nhiều nỗi khổ sở ghê gớm hơn, nghiêm khắc hơn thế nhiều, do tôi đă làm ác nghiệp – đó là ư nghĩa.

7. Ngài có thể nói: vajjesi = vadeyyāsi ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển).

8. Ở đây điều được dành cho tôi nhưng lại không được công bố (ettha nikkhittaṃ anakkhātaṃ): mức độ những ǵ dành cho tôi lại không được nói tới. Thế rồi nàng nói rằng, ‘Có chừng bốn trăm ngàn đồng tiền vàng dưới gầm giường, muốn chỉ rơ số tiền và nơi cất giấu số tiền đó. Về điểm này chiếc giường (pallaṅkassa): chiếc giường nàng đă nằm trước đó.

9. Từ đây (tato): lấy một phần từ khoản tài sản được cất dấu và bố thí nhân danh tôi. Của nàng (tassa): mẹ của nàng.

Khi nữ ngạ quỉ đă nói như vậy thiện nam đồng ư với những ǵ nàng nói. Chàng hoàn tất công việc tại đó và đi đến thành Hatthinipura và thuật lại vấn đề cho mẹ của nàng, làm rơ vấn đề này các vị Kiết Tập Tam Tạng đă nói như sau:

10.  “Tốt lắm”, chàng đồng ư và đi tới Hatthinipura (và nói), “Tôi đă nh́n thấy con gái của bà đă phải chịu kiếp đau khổ nơi cơi Diêm Vương, sau khi đă thực hiện ác nghiệp. Nàng đă đi ra từ cơi này đến cơi ngạ quỉ.

11.  Nàng đă thúc đẩy tôi vào lúc đó, nói rằng, ‘Chàng phải nói với mẹ ta rằng. “Tôi (chàng) đă nh́n thấy con gái bà đang phải chịu cảnh khốn khổ nơi cơi Diêm Vương. Sau khi đă làm ác nghiệp, nàng đă phải đi từ cơi này tới cơi ngạ quỉ.

12.  Tại đó có điều c̣n giấu không được ta tiết lộ “ – có độ bốn trăm ngàn đồng đang được giấu dưới gầm giường.

13.  [204] Từ số tiền đó mẹ ta phải thực hiện bố thí cho ta và cũng để nuôi sống mẹ ta và khi mẹ ta thực hiện bố thí th́ bà phải hồi hướng thí phước đó cho ta. – rồi ta sẽ được hạnh phúc và được dồi dào những ǵ đang ước mơ.”

14.  Ngay sau khi mẹ thực hiện bố thí và hồi hướng phước thí cho nàng – và nữ ngạ quỉ đó được hạnh phúc và với thân h́nh t́m thấy được vẻ kiều diễm trông[189] vô cùng đẹp mắt.

Ta có thể dễ dàng hiểu điều này.

Khi nghe được điều này mẹ nàng đă thực hiện bố thí cho tăng đoàn các tỳ khưu và hồi hướng phước thí đó cho nàng. Được an trú trong thù thắng có cuộc sống nàng đă nhận được theo cách đó. Nàng đă tự hiện h́nh ra cho mẹ và giải thích nguyên nhân mẹ nàng đă thuật lại cho các tỳ khưu và các ngài lại nêu vấn đề cho Đức Phật. Đức Thế Tôn coi đó như là nhu cầu cần thiết nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho nhóm người tụ tập lại ở đó. Việc thuyết pháp này đem lại lợi ích cho những người đó.

 

-ooOoo-

 

[185] Hastinapur, là thủ đô của một vương quốc rất nổi tiếng gọi là Kaurava đă tạo thành hai thân tộc đối nghịch nhau trong cuộc chiến tranh Mahābharata.

[186]. Nghi lễ Bát quan trai giớidành cho người Phật tử thường gắn kết với các con trăng, chính v́ thế sáng như ánh trăng, vào ngày trăng rằm, cũng có thể hiểu là giống mặt trời, các Phật tử mặc toàn đồ trắng trong những dịp đó theo gương các tỳ khưu (vào thời xưa là các A-la-hán ) thường mặc đồ vàng bằng cách áp dụng thêm nhiều luật giới khác nữa; đọc chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) I 211tt iv 388tt.

[187]. Anivāritesu; PED sv nivāarita có nghĩa là không bị ngăn cản. Ngược lại ở đây nivārita lại mang ư nghĩa phủ định.

[188]. Để biết thêm chi tiết về đồng tiền này xin đọc PED sv māsaka Gehman dịch đoạn kệ này hơi sai một chút.

[189]. Chú giải Be giải thích ở đây là: petī ca sukhitā āsi tassā c’āsi sujīvikā, và nữ ngạ quỉ đó đă trở nên hạnh phúc và mẹ nàng có được cuộc sống an nhàn.