|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
III.2 Chú giải chuyện ngạ quỉ NÚI SĀNUVĀSI[54]
‘Trưởng lăo sống trong thành Kuṇḍi.’ Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngài đang lưu lại trong khu Rừng Trúc liên quan đến những ngạ quỉ là bà con quyến thuộc của trưởng lăo Sānuvāsin. Người ta kể lại rằng trong thành Bernares có hoàng tử nhà vua Kitava đă trở về sau chuyến du chơi tại những nơi giải trí trong công viên hoàng gia khi đó vị hoàng tử đă nh́n thấy vị Độc giác Phật Sumeta đang rời khỏi thành phố sau chuyến đi khất thực.[55] Say sưa với ngă mạn quyền thế và bị ô nhiễm trong tâm hoàng tử suy nghĩ, ‘Làm thế nào tên đầu trọc đó dám đi ngang ta mà lại không ngả đầu chào!’ [178] Hoàng tử xuống khỏi lưng voi và mở miệng hỏi trưởng lăo nói rằng, ‘Ta muốn biết không hiểu nhà ngươi có kiếm chác được chút của khất thực nào chăng?’ hoàng tử giật chiếc bát khất thực khỏi tay trưởng lăo, quăng xuống đất và làm bể chiếc bát của ngài. Thế rồi c̣n chế diễu ngài đang khi ngài đứng yên nh́n hoàng tử với ḷng tịnh tín, mặt cúi xuống nh́n đất, dịu dàng thoải mái và tràn ngập ḷng từ bi[56] không chút bối rối v́ ngài đă đạt đến pháp chứng như thực[57] (suchness) trong mọi t́nh huống; rồi hoàng tử bỏ đi và thốt lên những lời nham hiểm do tính độc ác đă đặt sai chỗ, ‘thế nào! nhà ngươi không biết ta là con vua Kitava hay sao? nhà ngươi có thể làm ǵ được ta sao lại đứng đờ người nh́n ta như vậy?’ Nhưng ngay khi hoàng tử bỏ đi th́ một luồng sức nóng nổi lên nơi thân xác hoàng tử giống như sức nóng lửa hỏa ngục vậy. Với thân xác hoàng tử phải tra tấn bằng sức nóng ghê gớm như vậy và bị tra tấn với những cảm thọ đau đớn ghê gớm đến thế, vị hoàng tử qua đời và tái sanh nơi Đại Hoả ngục Avicī. Trong đó ngài bị luộc trong ṿng tám mươi bốn ngàn năm phải đứng quay quanh bằng nhiều cách như vậy. - khi th́ xoay bên phải, lúc th́ bên trái, khi phải nằm ngửa mặt ngẩng lên trời lúc lại úp mặt xuống đất.[58] Khi hoàng tử thoát ra khỏi chốn hỏa ngục đó ngài lại trải qua khốn khổ đói khát v.v... trong một thời gian bất tận nơi cơi ngạ quỉ. Khi ngài măn phần khỏi đó hoàng tử lại phải tái sanh trong một ngôi làng chài gần thành phố Kundi trong suốt một Phật kỷ. Tại đó hoàng tử có được khả năng nhớ lại những nghiệp tiền kiếp. Bằng cách đó ngài nhớ lại những khốn khổ ngài đă phải trải qua[59] trong quá khứ thế nên ngài không dám ra đi bắt cá với những người quyến thuộc, do sợ những ác nghiệp ngài đă làm nơi tiền kiếp, ngay cả khi hoàng tử đă đạt đến tuổi trưởng thành. Khi những người quyến thuộc ra đi bắt cá th́ hoàng tử lại ẩn nấp không muốn giết hại những con cá, trong lúc ngài buộc phải ra khơi bắt cá th́ hoàng tử lại[60] làm hư lưới hay bắt những con cá vẫn c̣n sống[61] và thả chúng xuống nước. Không tán thành[62] những hành vi của hoàng tử, các họ hàng quyến thuộc liền đuổi chàng ra khỏi nhà. Tuy nhiên một người anh của ngài đem ḷng thương hại chàng. Giờ đây vào thời điểm đó Trưởng lăo Ānanda đang ngụ trên Núi Sanuvasin[63] kế bên thành phố Kundi và người con trai của người thợ chài đă bị những người họ hàng đuổi ra khỏi nhà, đang đi lang thang khắp nơi, đă tới địa điểm đó và tiến lại gặp trưởng lăo vào lúc ngài đang dùng bữa. Khi trưởng lăo hỏi chàng ngài phát hiện ra chàng đang cần đồ ăn và đă cho chàng trai một bữa ăn và khi bữa ăn đă xong [179] Trưởng lăo biết toàn bộ vấn đề. Khi ngài biết rằng, chính nhờ cuộc trao đổi Phật Pháp chàng đă nổi lên tịnh tín trong ḷng (trưởng lăo hỏi), ‘nhà ngươi có ước ao xuất gia chăng, anh bạn?’ chàng ta trả lời , “vâng thưa ngài, con muốn được xuất gia.’ Khi trưởng lăo cho phép chàng xuất gia th́ chàng đă ra đi cùng với trưởng lăo đến gặp Đức Phật. Đạo sư sau đó nói với trưởng lăo, ‘Hỡi Ānanda, nhà người hăy tỏ ḷng thương xót đến thầy Sadi này,’ V́ sadi đă không thực hiện thiện nghiệp, sadi sẽ nhận được rất ít (của bố thí) chính v́ thế đạo sư, hăy giúp[64] sadi, động viên sadi để đổ đầy mấy b́nh đựng nước để cho các tỳ khưu sử dụng. Khi họ trông thấy như vậy th́ các thiện nam sẽ cung cấp cho sadi một số vật thực thường xuyên đầy đủ. Vào đúng thời gian qui định sadi đă nhận cụ túc giới và chứng đắc đạo quả A-la-hán và sau đó trở thành một trưởng lăo, ngài cư ngụ trên núi Samuvasin cùng với mười hai tỳ khưu. Tuy nhiên, có khoảng năm trăm quyến thuộc của ngài do không tích lũy được thiện nghiệp và chỉ tích lũy ác nghiệp như ích kỷ v.v... đă qua đời và tái sanh thành ngạ quỉ. Tuy nhiên, cha mẹ ngài đă không đến gặp ngài v́ họ cảm thấy lúng túng nghĩ rằng, đây là người chúng ta đă đuổi ra khỏi[65] nhà trước đó và đă sai đứa em trai là người đă có ḷng yêu thương ngài trưởng lăo Sanuvasin. Ngài đă hiện h́nh vào thời điểm vị trưởng lăo đi vào trong làng khất thực, qú gối[66] phải trên mặt đất và chấp tay đảnh lễ, và thốt lên những đoạn kệ bắt đầu như sau: ‘Thưa ngài, đây là cha và mẹ của ngài.’Tuy nhiên năm đoạn kệ bắt đầu với: vị trưởng lăo của kundi’ v.v... được các vị kiết tập Tam Tạng lồng vào với mục đích chứng tỏ cho thấy văn cảnh liên tục. 1. Trưởng lăo sống trong thành phố Kundi đang sống trên núi Sanuvisin tên là Potthapada. Ngài là một sa môn các căn đă được tu tập phát triển. 2. Mẹ, cha và người em của ngài đă phải trải qua kiếp sống đau khổ nơi cơi Diêm Vương. Sau khi đă thực hiện ác nghiệp họ đă rời khỏi đây và tái sanh nơi cơi ngạ quỉ. 3. Phải rơi vào kiếp sống khổ sở, bị kim chích[67]vào thân ḿnh, phải mệt mỏi,loả lồ và gầy ốm, khiếp sợ và rơi vào t́nh trạng khiếp đảm với bàn tay rớm máu[68]. Họ không thể để lộ thân ḿnh ra được. 4. [180] Người anh trai của ngài, sửng sờ loả lồ và một ḿnh ở trong một con hẻm, cong xuống đất ở cả bốn chỗ[69], đă hiện h́nh[70] trước mặt trưởng lăo. 5. Nhưng trưởng lăo lại không quan tâm[71] và đi qua trong thinh lặng chính v́ thế người em đă báo cho trưởng lăo biết rằng, ‘ta là em trai trưởng lăo, ta đă tái sanh là ngạ quỉ. 6. ‘Thưa ngài, cha ngài và mẹ ngài đă phải trải qua kiếp sống đau khổ nơi cơi Diêm Vương, sau khi đă thực hiện ác nghiệp họ đă phải lang thang khỏi đây và đến cơi ngạ quỉ. 7. Đầu thai vào cơi khổ, bị kim chích vào thân ḿnh, mệt mỏi loả lồ và gầy ốm; khiếp sợ bị kinh hăi lớn và có bàn tay vấy máu, họ đă không thể hiện h́nh được. 8. Ngài có ḷng từ bi thương xót, hăy thương xót đến họ - Khi ngài thực hiện bố thí hăy hồi hướng cho chúng tôi v́ chính nhờ của bố thí ngài thực hiện mà bàn tay vấy máu của họ mới được nuôi sống.” 1. Về điểm này vị Trưởng lăo thành phố Kundi (Kuṇḍinagariyo thero): vị trưởng lăo đă sanh ra và lớn lên trong thành phố có tên như trên, một cách giải thích khác là Kuṇḍikanagaro thero nhưng ư nghĩa cũng vẫn giống nhau. Ngài lưu lại trên đỉnh núi Sanuvasin (Sānuvāsinivāsino): ngài cư trú trên núi Sanuvasin. Có tên là Poṭṭhapāda (Poṭṭhapāda ti nāmena): được biết tới với tên gọi là Poṭṭhapada. Ngài là sa môn(samaṇo): đă biến mọi ác nghiệp trở nên an tịnh.[72] Với các căn đă được phát triển (bhāvitindriyo): với các căn đức tin v.v... đă phát triển nhờ tu luyện thánh đạo, có nghĩa là một vị A-la-hán. 2. Của vị ấy (tassa): của vị trưởng lăo Sanuvasin. Đă phải đầu thai nơi kiếp sống đau khổ (duggatā): đă trải qua nơi kiếp sống đau khổ. 3. Bị kim chích vào thân ḿnh (sūcik’ aṭṭa):[73] bị đau đớn[74], bị hành hạ bởi những tấm thân[75] thối tha[76]. Một cách giải thích khác đó là ‘bị châm chọc’ (sūcigata)[77] họ phải chịu đau khổ, bị áp bức[78] do đói khát được gọi là ‘cây kim’ (sūcikā) hiểu theo nghĩa châm xuyên qua.[79] Một số khác lại giải thích là bị kim châm nơi cổ họng (sūcikaṇthā), có nghĩa là họ mở miệng ra là giống như đầu kim gút [80]. Mệt mỏi (kilantā): mệt mỏi cả thân lẫn tâm. Lỏa lồ (naggito): không mặc quần áo, h́nh dáng lỏa lồ. Gầy ốm (kisā): với thân h́nh gầy ốm v́ có thân h́nh chỉ c̣n da bọc xương. Phải khiếp đảm (uttasantā): họ trở nên hoảng sợ do bị khiển trách[81] v́ nghĩ rằng, ‘Vị sa môn này chính là con trai của chúng ta’. [181] Trong nỗi sợ hăi lớn (mahātāsā): họ gặp đầy sợ hăi v́ những ác nghiệp họ đă làm trong quá khứ. Không thể để lộ chính ḿnh ra (na dassenti): họ không thể lộ rơ nguyên h́nh, không dám đi, và không dám đối mặt với ngài. Bàn tay bị vấy máu (kurūno) hành động độc ác. 4. Người anh trai của ngài (tassa bhātā): người anh trai cả của trưởng lăo Sanuvasin. Sững sờ: vitaritvā = vitiṇṇo (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) sợ hăi và run rẩy v́ nỗi sợ bị khiển trách. Một cách giải thích khác là vội vă (vituritvā):[82] đang vội vàng, có nghĩa là, đang đi vội vă. Trên một con hẻm (ekapathe) : trên con đường chỉ có một lối. Một ḿnh (ekako): một ḿnh, không có người đi kèm. Cúi xuống bốn chân (catukuṇḍiko bhavitvāna): người đó di chuyển bằng cách ḅ hai tay hai chân chống đất.[83] Đây có nghĩa là cúi xuống[84] để che khuất bộ ngực khỏi hở ra là điều đáng xấu hổ. Tự hiện h́nh cho Trưởng lăo trông thấy (therassa dassayī ’tumaṃ) khiến cho người khác trông thấy ḿnh, hiện h́nh rơ trước vị trưởng lăo.[85] 5. Không quan tâm (amanasikatvā): không chú ư tới (amanasikaritvā, một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Không lưu ư tới, người kia là ai. Chính v́ thế ngài (so ca): chính v́ thế ngạ quỉ. Ta là anh trai của ngài đă tái sanh làm ngạ quỉ (bhātā petāgato ahaṃ): người anh báo cho trưởng lăo biết nói rằng, ‘Ta là anh trai của trưởng lăo nơi kiếp trước; giờ đây ta xuất hiện dưới kiếp ngạ quỉ.’đây là cách ta nên phân tích. Ba đoạn kệ bắt đầu với: ‘Mẹ ngài và cha ngài được nói lên cho thấy cách thức người anh thông báo cho trưởng lăo vấn đề này. 6. Về điểm này mẹ ngài và cha ngài : mātā pitā ca = teva mātā pitā ca (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). 8.Xin hăy nhủ ḷng thương xót (anukampassu): xin cứu giúp chúng ta, xin hăy tỏ ḷng thương tưởng đến chúng tôi. Xin hăy hồi hướng (anvādisāhi): hăy chuyển phước ấy. Đến cho chúng tôi: no = amhākaṃ [86](một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Ngài đă bố thí: tava dinnena = tayā dinnena (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Thế rồi các vị Kiết Tập Tam Tạng đă thốt lên những đoạn kệ này cho thấy hướng hành động[87] Trưởng lăo tiến hành ra sao khi ngài nghe thấy điều này: 9. ‘Khi trưởng lăo và mười hai tỳ khưu đang trên đi khất thực họ đă tụ tập lại ở cùng một địa điểm với mục đích thọ nhận bữa ăn trưa.[88] 10. Trưởng lăo nói với tất cả họ rằng, “Hăy cho tôi những ǵ các ngài nhận được; tôi sẽ chuyển chúng thành một bữa ăn trưa cho toàn thể Tăng Đoàn [89] do ḷng thương xót đối với các quyến thuộc của ta.” 11. [182] Họ liền dâng cho trưởng lăo và ngài đă mời toàn thể Tăng Đoàn thọ dụng bữa ăn trưa. Khi ngài đă thực hiện bố thí cho tăng đoàn, trưởng lăo liền hồi hướng cho mẹ, cha và anh trai ngài nói rằng, ‘Hăy hồi hướng phước thí này cho thân quyến của ta! Mong rằng họ được hạnh phúc.’ 12. Ngay khi ngài hồi hướng phuớc thí đó, vật thực hiện ra sạch sẽ, tuyệt vời, được sửa soạn rất khéo và nêm nếm bằng nhiều hương vị; ngay sau đó anh trai Trưởng lăo hiện h́nh trước trưởng lăo,[90] rất bảnh trai, khoẻ mạnh và sung sướng, nói rằng, 13. ‘Thưa ngài vật thực này quá dồi dào, nhưng nh́n ḱa chúng ta vẫn c̣n loả lồ. Xin ngài tự[91] cố gắng cách nào đó cho chúng ta có ư phục để mặc.’ 14. Trưởng lăo đă lượm tất cả những miếng giẻ rách nơi đống rác rồi biến những miếng giẻ rách đó thành y phục và bố thí cho tăng đoàn trên toàn cơi chúng sanh. 15. Khi đă bố thí xong ngài liền hồi hướng cho mẹ, cha và anh của ḿnh nói rằng, ‘Mong rằng những y phục này đến với những quyến thuộc của ta! Mong rằng quyến thuộc của ta được hạnh phúc!’ 16. Ngay khi ngài hồi hướng những y phục đó liền hiện h́nh, sau đó (anh của ngài) được mặc y phục rất đẹp, và tự hiển hiện trước trưởng lăo nói rằng, 17. “Quá nhiều y phục đủ cho toàn cơi vương quốc Nanda – c̣n nhiều hơn thế nữa. thưa ngài, y phục và những tấm vải trải của chúng ta c̣n nhiều hơn thế nữa. 18. Y phục bằng vải len, vải lụa và vải sợi.[92]Thật quá nhiều và đắt giá, rồi c̣n treo cả [93] từ trời xuống nữa. 19. Và chúng ta chỉ chọn mặc những bộ chúng ta ưa thích. Xin trưởng lăo ngài hăy cố gắng bằng cách nào để chúng ta có một nơi cư trú.” 20. [183] Khi Trưởng lăo cho dựng xong một túp lều bằng lá ngài cũng bố thí cho tăng đoàn khắp tứ phương thiên hạ. Khi đă làm như vậy trưởng lăo liền hồi hướng cho mẹ ngài, cha và cả anh trai của ḿnh nói rằng, ‘mong rằng căn nhà này được hồi hướng cho những quyến thuộc của ta! và mong rằng họ được hạnh phúc!” 21. Ngay tức khắc những căn nhà[94] đó xuất hiện – những căn nhà tháp nhọn được phân thành nhiều pḥng bằng nhau. 22. Chẳng t́m thấy ở bất kỳ nơi nào những căn nhà giống như vậy nơi cơi chúng sanh này chúng ta chỉ thấy có nơi cơi Chư Thiên mà thôi. 23. Những căn nhà đó chiếu sáng chói lọi khắp tứ phương, thưa ngài. Xin hăy cố gắng bằng cách nào để chúng ta có nước uống.” 24. Sau khi trưởng lăo đă đổ đầy các b́nh nước và bố thí cho Tăng Đoàn khắp tứ phương thiên hạ, ngài cúng đă hồi hướng cho mẹ, cha và anh trai của ḿnh nữa rằng, ‘Mong rằng nước này dành cho những quyến thuộc của ta! Mong rằng họ được sung sướng!” 25. Sau khi ngài đă hồi hướng, tức khắc nước đă xuất hiện – Những hồ sen đầy ắp nước xuất hiện rất sâu, có bốn góc cạnh và rất khéo léo sửa soạn. 26. Với nước trong veo, vây quanh là bờ hồ kiều diễm, nước trong mát và toả hương thơm, có hoa sen phủ đầy mặt hồ.[95] 27. Khi họ nhẩy xuống tắm và uống nước trong hồ sen th́ thân quyến của trưởng lăo liền hiện h́nh trước mặt ngài, nói rằng, ‘Thưa ngài, nước này dồi dào quá. Nhưng những bàn chân của chúng tôi đă nứt nẻ đau đớn quá chừng. 28. Khi dạo quanh đây đó chúng ta phải đi khập khiễng trên sỏi và gai kusa[96] Thưa ngài, xin hăy gắng sức bằng cách nào đó để chúng ta có thể di chuyển.” 29. Khi đó trưởng lăo đă bố thí dôi dép[97] của ngài cho tăng đoàn trên toàn cơi thế gian. Sau khi đă bố thí như vậy, ngài liền hồi hướng cho mẹ, cha và anh trai của ḿnh nói rằng, ‘Mong rằng những của thí này đến với quyến thuộc của ta! Mong rằng họ được hạnh phúc!” 30. Ngay khi ngài hồi hướng phước thí đó th́ ngạ quỉ xuất hiện với xe kéo, nói rằng, ‘ Thưa ngài, do ngài đă tỏ ḷng thương xót bằng cách hồi hướng vật thực và y phục, 31. [184] ngôi nhà và của thí nước này [98] cả hai thứ đó và vật thí này là chiếc xe, thưa ngài, chúng ta đến để đảnh lễ ngài, ôi vị Đại Hiền Trí giàu ḷng từ bi thương xót cơi chúng sanh này. 9. Về điểm này khi trưởng lăo đi khất thực (thero caritvā piṇḍāya): khi vị trưởng lăo đă du hành khất thực[99] với mười hai tỳ khưu khác (bhikkhū aññe ca dvādasa): và mười hai tỳ khưu khác cũng cư trú với trưởng lăo tụ họp lại ngay một địa điểm. Nếu (phải hỏi:) nhằm mục đích ǵ? , với mục đích thọ nhận bữa trưa với nhau (bhattvissaggakāraṇā): với mục tiêu dùng bữa trưa, nhằm mục đích dùng cơm trưa. 10. Cho họ (te) cho các tỳ khưu. v́ họ đă nhận được (yathā laddhaṃ): bất kỳ điều ǵ họ nhận được. Bố thí: dadātha (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) 11. Họ chuyển lại cho (nīyātayiṃsu): họ bố thí. Họ mời tăng đoàn (saṅghaṃ nimantayi): mời mười hai tỳ khưu để bố thí vật thực bằng cách xác định của ăn này dành cho tăng đoàn. Hồi hướng (avādisi): hồi hướng cho, dành cho;[100] cho biết ngài gán của thí đó cho ai trong dịp đó. ‘Cho mẹ cha và anh trai của ḿnh nói rằng, ‘Mong rằng phước thí này được hồi hướng cho thân quyến của ta! Mong rằng họ được hạnh phúc!” 12. Ngay khi ngài đă hồi tưởng phước thí này: samantarānuddiṭṭhe = uddiṭṭha samanantaram eva [101] (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Đồ ăn hiện h́nh (bhojanaṃ upapajjatha): đồ ăn xuất hiện cho các ngạ quỉ đó. Họ hỏi,[102]‘loại vật thực nào vậy? ‘... sạch sẽ’ v.v... Về điểm này được gia thêm nhiều hương vị (anekarasavyañjanaṃ): được nêm nếm cà ri với đủ loại hương vị. Hay nói cách khác, với nhiều hương vị và nhiều loại bột cà ri đủ loại. Nhân đó (tato): sau khi nhận được loại vật thực đó. Chính anh của ngài đă xuất hiện nguyên h́nh cho ngài thấy (uddassayī bhātā): ngạ quỉ chính là người anh của ngài đă xuất hiện nguyên h́nh cho trưởng lăo nh́n thấy. Đẹp trai, mạnh khoẻ và sung sướng (vaṇṇavā balavā sukhī): bằng cách nhận vật thực như vậy ngay lập tức anh của Trưởng lăo đă trở nên kiều diễm, có sức mạnh và rất hạnh phúc. 13. Thưa ngài, đồ ăn đă quá dồi dào (pahūtaṃ bhojanaṃ bhante): thưa ngài, qua oai lực vật thí của ngài, chúng tôi đă nhận được vật thực quá dồi dào, và đầy đủ. Nhưng hăy nh́n xem chúng tôi vẫn bị loả lồ (passa naggāmhase): tuy nhiên, hăy quan sát xem chúng ta vẫn bị loả lồ không một miếng vải che thân. V́ thế cho nên xin ngài hăy cố gắng hành động làm sao để chúng tôi có y phục để mặc (yathā vatthaṃ labhāmhase): bằng cách hăy cố gắng làm thế nào đó [185] để chúng tôi có quần áo để mặc, có nghĩa là xin ngài ban cho chúng tôi quần áo theo cách của ngài. 14. Từ đống rác (saṅkārakūtato): từ đống rác này nọ. Lượm lặt (uccinitvāna): thu lượm bằng cách kiếm cho ra. Những miếng giẻ rách (nantake): những mảnh vải đă bị vứt bỏ do đó chỉ là mảnh vải vụn. Bấy giờ trưởng lăo làm thành một chiếc y cà sa từ những mảnh vải vụn đó và bố thí cho tăng đoàn. V́ lư do đó họ nói rằng49, ‘Khi ngài biến từ những mảnh vải vụn thành một chiếc y ngài liền bố thí cho tăng đoàn trên toàn cơi thế gian này. Về điểm này Trưởng lăo bố thí chiếc y đó cho các tăng đoàn từ tứ phương đến (saṅghe cātuddise): ngài bố thí cho Tăng Đoàn[103] các vị tỳ khưu hiện hữu[104] từ khắp tứ phương thiên hạ đến. Đây là xuất xứ cách được hiểu theo nghĩa đối cách.[105] 16. Được mặc y phục đẹp đẽ (suvatthavasano): được mặc những y phục đẹp đẽ. Tự hiển thị trước trưởng lăo: therassa dassayī ‘tumaṃ = therassa attānaṃ dassayī dassesi (một dạng ngữ pháp hoán chuyển), ngài đă hiện nguyên h́nh. 17. Đó là những y phục (paticchadā) trong trường hợp này ngài đă tự mặc đồ bằng những thứ đó (paṭicchādayati) [106] (chung với họ). 21. Những nơi cư trú có tháp nhọn (kūtāgāranivesanā): những căn nhà đó có xây tháp nhọn và những căn nhà khác loại đó được gọi là những trú xứ; đây là cách đổi giới tính[107]. Được phân thành (vibhattā): được chia thành h́nh dáng đều đặn, h́nh chữ nhật, h́nh dài, h́nh tṛn v.v... Thành những phần bằng nhau (bhāgaso mitā): thành những phần bằng nhau. 22. Thuộc về chúng ta: no = amhākaṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Ở đây (idha):nơi cơi ngạ quỉ. Trong số các ngạ quỉ (chư thiên) (api dibbesu): api (không được dịch) chỉ là một tiểu từ nơi cơi các chư thiên, có nghĩa là nơi cơi phạm thiên.[108] 24. Lu đựng nước (karakaṃ): một chiếc lu đựng nước b́nh thường[109]. Đổ đầy (puretvā): đổ đầy nước. 26. Nước đầy nhị hoa sen (vārikiñjakkhapūritā): đầy nước đến nỗi trên mặt nước đầm nổi đầy những nhị sen vàng và những nhị bông súng v.v... 27. Bị nứt ra (phalanti): nở ra, có nghĩa là chúng xuất hiện từ gót chân ngài nhiều bông sen nở rộ. 28. Đi lang thang đó đây (āhiṇdamānā): du hành khắp đó đây. Chúng ta đi khập khiễng (khañjāma): [186] chúng tôi đi khập khiễng khắp đó đây. Bước trên đá sỏi và những bông hoa kusa đầy gai nhọn (sakkhare kusakanṭṭhake): đi trên mảnh đất đầy đó sỏi và những cỏ dại kusa đây gai nhọn. Có nghĩa là dẫm trên đá sỏi và trên gai cỏ kusa. Một chiếc xe (yānaṃ) bất kỳ loại xe nào như là phương tiện di chuyển như là xe kéo hay kiệu vơng cáng v.v... 29. Đôi dép (sipātikaṃ) : một đôi dày một đế. 30. Đến bằng xe kéo: rathenam āgamuṃ = rathena āggacchiṃsu (một dạng ngữ pháp hoán chuyển) các từ này được nối kết bằng âm êm tai “ma”. 31. Cả hai (ubhayaṃ): bằng cả hai vật thí.- bằng của bố thí là những đồ thiết yếu như đồ ăn v.v... và cũng bằng vật thí là chiếc xe kéo. Vật thí gồm thuốc chữa bệnh lại gồm trong vật thí là nước uống ở đây. Điều c̣n lại đă quá rơ ràng[110] v́ đă nêu ra ở trên. Trưởng lăo nêu vấn đề với Đức Phật. Ngài lại coi vấn đề đó như một nhu cầu nổi lên nói rằng, ‘Cũng giống như những ǵ ở đây, thế nên nơi kiếp sau nhà ngươi đă trở thành ngạ quỉ phải trải qua biết bao đau khổ.’ và khi ngài yêu cầu trưởng lăo kể lại câu chuyện sợi chỉ[111] và diễn giải Phật Pháp cho đám đông tụ tập lại ở đó. Khi nghe điều này chúng sanh đầy xúc động đă thực hiện những phước báu hồi hướng khi thực hiện giới đức bố thí vậy.
-ooOoo-
[54] Chuyện kể này có thế so sánh với phiên bản xuất hiện trong J ii 194tt. [55]. Chú giải Se Be giải thích là caritvā nagarato c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là caritvāna gharato. [56]. Se karuṇāvipphārasommasomanassanayananipātitapasannacittaṃ bản văn Kinh Tạng ghi karuṇāvipphārasomanassanipātitapasannacittaṃ (Be –nipāta-) [57]. Tādibhāvappattiyā. [58]. Xin đọc Chú giải IV 78 [59]. Chú giải Se Be giải thích là anubhūtapubbaṃ c̣n bản văn ghi là anurūpaṃ bhūtaṃ. [60]. Chú giải Be giải thích là gato c̣n bản văn Se ghi là tato. [61]. Chú giải Se Be giải thích là jīvante vā c̣n bản văn Kinh Tạng hi là Jīvante. [62]. Chú giải Se Be giải thích là arocantā c̣n bản văn ghi là nikkaḍḍito. [63]. Hiểu theo nghĩa đen, Satum’s (Sānu) là trú xứ của Sanu. [64]. Xin đọc chú giải PvA 196. [65]. Chú giải Se Be giải thích là nikkaḍḍhito c̣n bản văn ghi là nikkaḍḍito. [66]. Chú giải Se Be giải thích là patiṭṭhāpetvā c̣n bản văn Kinh Tạng patiṭṭhapetvā. [67]. Chú giải Se Be giải thích là sūkik’ aṭṭā c̣n bản văn kinh tạng ghi là sūcikaṭṭhā. [68]. Không giống như Gheman đă đề nghị. ‘chúng đă không tỏ ra sỗ sàng’ như tập chú giải đă giải thích làm rơ. [69]. Không giống như ‘Gehman đă đề xuất ‘giống như một b́nh đựng nước.” [70]. Chú giải Se Be giải thích là dassayī c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dassayi. [71]. Chú giải Se giải thích hoàn toàn ngược lại ở đây – thero ca manasīkatvā - cho rằng vị trưởng lăo không tập trung chú ư đến. [72]. Một cách thiết kể từ nguyên samaṇa, là vị ẩn sĩ; xin cũng đọc thêm Dhp 265. và DhpA iii 84. [73]. Tất cả những cách giải thích xuyên suốt đoạn văn này đều khác biệt rất nhiều và có điều không chắc chắn. Tôi chỉ chọn những cách giải thích nào có ư nghĩa nhất mà thôi. [74]. Chú giải là aṭṭitā theo như PED yêu cầu. sv c̣n bản văn ghi là aṭṭhikā; Cp Be giải thích là aṭṭakā và Se giải thích là aṭṭikā [75]. Ptin, bản văn và chú giải Be cũng giải thích giống như vậy; chú giải Se giải thích là sūcinā. [76]. Chú giải Be giải thích là lūkhagattā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là lūkhavantādinā; cp Se giải thích là lukhavatthāadinā, rất có thể với thứ y phục thô nháp v.v…tuy nhiên trước đó th́ lại cho là họ loả lồ. Thực chất này đă được xác định trước đó. [77]. Chú giải Se giải thích là sūciggatā, Cp Be bỏ qua, ư nghĩa lại không rơ ràng. [78]. Chú giải Be giải thích là aṭṭā pīḷitā c̣n bản văn ghi là ajjhāpīḷitā; Se giải thích là aṭṭitā pīḷitā. [79]. Vijjhanatthena. Be bỏ qua. [80]. Toàn bộ bản văn đều giống nhau. [81]. Ottappena; về cuộc thảo luận về từ này xin đọc cuốn Tâm lư và Đạo đức Phật Giáo tr. 20 n 1 [82]. Chú giải Se Be giải thích là vituritvā ti vāa pāṭho c̣n bản văn ghi là vitaritvā ti ca. [83]. Chú giải Se Be giải thích là kuṇḍeti c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là kundo ti. [84]. Chú giải Be giải thích là tiṭṭhanto ca (Se tiṭṭhanto ti) c̣n bản văn ghi là ti ca. [85]. Therassa attāanaṃ uddisayi uddisesi; bản văn và chú giải Se cùng giống như vậy. [86]. Giải thích là Anvādisāhī ti ādisa. Chú giải Se Be giải thích là no ti amhāakaṃ c̣n bản văn ghi là Anvādisāhi no ti ādisa no ti amhākaṃ. [87]. Chú giải Se Be giải thích là ythā paṭipajji taṃ dassetuṃ c̣n bản văn ghi là gāathāa paṭipajji. Taṃ dassetuṃ… [88]. Chú giải Se Be giải thích là bhattavissaggakāraṇā c̣n bản văn ghi là –vissatta-; xin đọc chú giải PED sv bhatta. [89]. saṅghabhattaṃ karissāmi; xin đọc Vin I 58 trong đó ta phân biệt được một bữa ăn dành để mời một nhân vật quan trọng, những bữa ăn tận dụng đồ ăn dư thừa và của những ai được mời v.v…; xin đọc chú giải PvA 81 và v 14 dưới đây. h́nh như đây không phải trường hợp bố thí cho tăng đoàn. [90]. Chú giải Be giải thích là uddassayī c̣n bản văn ghi là uddassati; chú giải Se giải thích là uddissayī [91]. Parakkāma. Không khẳng định ước muốn, theo Gehman đề nghị. Nhưng từ para+kram; xin đọc PED sv. [92]. Chú giải Se Be giải thích là khomakappāsikāni c̣n bản văn ghi là-kappāsiyāni. [93] Chú giải Se Be giải thích là p’ākase c̣n bản văn ghi là ākāse. [94]. Chú giải Se Be giải thích là kūṭāgāranivesanā c̣n bản văn ghi là kūṭāgārā nivesanā [95]. Chú giải Se Be giải thích là sunimmitā c̣n bản văn ghi là sanimmitā. [96]. Poa cynosuroides [97]. Chú giải Se Be giải thích là sipākikaṃ c̣n bản văn ghi là sipāatikaṃ; xin đọc PED sv siptika đă trích đoạn sai ở đây và nên sửa lại để giải thích là ekapaṭalaṃ upāhanaṃ. [98]. Chú giải Se và tập chú giải dưới đây giải thích là pānīyadānena c̣n bản văn Se ghi là pānadānena. [99]. Chú giải Se Be giải thích là piṇḍapāta cārikāya caritvā c̣n bản văn ghi là piṇḍapātacārikāya. [100]. Chú giải Anvādisī ti ādisi; tattha… c̣n bản văn ghi là Anvādisī ti tattha… [101]. Chú giải Se Be và PvA 50 cũng giải thích như vậy. c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là uddissa samanantaram eva ca. [102]. Tất cả các bản văn đều ghi là āha. [103]. Chú giải CPD sv āgata và vin I 305, ī 147. 164; K I 93 [104]. Saṅgha. [105]. Xin đọc Chú giải PvA 174. [106]. Chú giải Se Be giải thích là paṭicchādayati atthā ti paṭicchadā c̣n bản văn ghi là Paṭicchadā ti paṭicchādayati; xin đọc chú giải PvA 76. ư nghĩa b́nh thường của các từ này là che phủ giấu kín. [107]. Giống đực giống cái số nhiều cũng như giống dở số nhiều. [108]. Chú giải Se giải thích là dibbesu bhavanesu devalokesū ti attho c̣n bản văn ghi là dibbesi ti etesu devalikesū ti attho; Be giải thích là devalikesū ti attho. [109]. Dhammakarakaṃ; là qui luật về b́nh đựng nước dành cho các tỳ khưu được trang bị một bộ lọc đề ngăn chất độc gây hại cho vật sống; xin đcọ Vin I 209. ii 118. 177 302. [110]. Chú giải Se Be giải thích là uttānaṃ c̣n bản văn ghi là vuttānaṃ [111]. II 11.
|
|
![]()