|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu - aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
III. 4 Chú giải chuyện ngạ quỉ RƠM
TRẤU “Một người cầm trấu trong tay trong khi c̣n người khác nữa[143].’ Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngai đang lưu lại trong thành Sāvatthī liên quan đến bốn ngạ quỉ. Người ta kể lại rằng trong ngôi làng nọ cách thành Sāvatthī không xa lắm có một thương nhân bất lương đă kiếm sống bằng cách cân đo đong đếm gian dối v.v... người đó có thể lấy vỏ trấu[144] trộn thêm một ít đất xét nâu để làm tăng sức nặng và rồi trộn hỗn hợp này với lúa mạch đỏ rồi đem đi bán. Con trai thương gia này rất bất b́nh nghĩ rằng, ‘Cha đă không tốt với bạn bè của con và những người tốt bụng khi họ đến nhà ta mua đồ’ và cậu ta lấy một miếng da đệm ách[145] ḅ đánh một cái vào đầu mẹ của ḿnh. [192] Đứa con dâu của ông th́ ăn vụng món thịt dành cho mọi người trong nhà và có một lần cô phải gọi lên để giải thích sự việc đó, chính nàng đă thề rằng, ‘Nếu con ăn vụng món thịt đó, mong rằng con phải ăn thịt cắt từ lưng của ḿnh hết kiếp này sang kiếp khác’. Vợ ông ta nói với những người đến xin vật thực sống qua ngày rằng, ‘Nhà chẳng c̣n ǵ để bố thí cho ai cả và do họ quá thúc ép bà đă thề rằng, ‘Nếu trong nhà c̣n điều ǵ mà tôi lại nói chẳng c̣n ǵ, mong rằng tôi phải ăn phẩn cho người ta từ kiếp này sang kiếp khác!’ Đến thời gian qui định cả bốn người này đă qua đời và tái sanh thành ngạ quỉ trong khu rừng[146] Vinjha. Tại đó người thương nhân bất chính do quả ác nghiệp ông đă làm, thường lấy hai tay cầm vỏ trấu đang cháy đỏ và rắc lên đầu ḿnh và từ đó trải qua đau khổ khôn lường. Người con trai thường tự lấy búa sắt đập vào đầu ḿnh và cũng phải chịu đau khổ khôn xiết. Nàng con dâu do kết quả của hành vi nàng đă thực hiện, đă trải qua nỗi đau khổ vô tận bằng cách liên tục ăn ngấu nghiến thịt từ chính lưng ḿnh được móc ra bằng móng tay nhọn và sắc ; trong khi đó ngay sau khi bữa cơm sạch và thơm phức bằng gạo đen được dâng cho vợ thương nhân th́ lập tức biến thành phẩn có mùi hôi thối bẩn thỉu kinh dị, lỗ chỗ những ḍi bọ đục khoét, người vợ phải lấy hai tay bóc lấy thứ phẩn đó mà ăn, nên đă phải trải qua đau khổ ghê gớm. Bấy giờ khi bốn người này đă tái sanh nơi cơi ngạ quỉ và đang phải chịu đau khổ lớn lao như vậy th́ trưởng lăo Mục Kiền Liên (Mahāmoggallana) đang du hành trên núi, một ngày kia ngài đă đến điểm đó và nh́n thấy họ. Ngài đă t́m hiểu về ác nghiệp họ đă làm với đoạn kệ như sau: 1. ‘Một người th́ bốc trấu bằng hai tay và c̣n người kia nữa; và người phụ nữ này đă ăn chính thịt máu ḿnh; trong khi đó nàng ăn thứ phẩn dơ dáy và kinh dị – đó là kết quả ác nghiệp nào vậy?’ 1. Về điểm này trấu (bhusāni): vỏ trấu.[147] Một người (eko): một ḿnh[148]. Thuộc cánh đồng: sāliṃ = salino; đây là đối cách hiểu theo nghĩa sở hữu cách: [193] Người đó rắc trấu cháy đỏ rưc nơi ruộng lúa lên đầu, đây là ư nghĩa. Lại một người khác: punāparo = puna aparo (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); Kẻ đă đánh vào đầu mẹ ḿnh phải kết thúc bằng chính đầu ḿnh bị đập bể, sau khi đă tự ḿnh lấy búa sắt đập vào đầu. Chính v́ liên quan đến vấn đề này chàng đă nói[149] đến. Chính thịt và máu ḿnh (sakamaṃsalohitaṃ): nàng đă ăn thịt và máu móc ra từ lưng của ḿnh, đây là cách ta nên phân tích. Ghê tởm (akantikaṃ): khó chịu, khó ưa, ghê tởm. Đây là do kết quả nghiệp ǵ vậy? (kissa ayaṃ vipāko) có nghĩa là ác nghiệp nào đă tạo ra kết quả giờ đây các ngươi đă phải chịu đau khổ đến như vậy? Khi trưởng lăo đă ḍ hỏi như vậy về những ác nghiệp họ đă làm, th́ người vợ của thương nhân bất chính kia liền thốt lên những đoạn kệ này giải thích những ác nghiệp cả bốn người đă làm: 2. Người này trong quá khứ đă làm hại mẹ ḿnh, trong khi đó người này lại là một thương nhân bất lương, người này đă ăn thịt và dối gạt bằng cách thề thốt. 3. Khi ta c̣n ở kiếp người, nơi cơi chúng sanh[150] ta đă là chủ gia nhân và là chủ toàn bộ gia đ́nh; mặc dầu việc bố thí ta có trong tầm tay song ta đă giấu đi và không bố thí cho ai lấy một tí, ta đă che dấu bằng cách nói dối rằng, “Trong nhà chẳng c̣n sự ǵ ăn được; nếu c̣n mà ta lại dấu đi th́ mong rằng vật thực của ta trở thành phẩn!” 4. Do kết quả của cả hai ác nghiệp đó và do thực chất ta đă nói dối th́ bữa ăn thơm tho này đă biến thành phẩn dành cho ta ăn. 5. Các nghiệp không phải là không có quả, và chẳng có nghiệp nào triệt tiêu nghiệp nào. Chính v́ thế ta phải ăn và uống phẩn có ḍi lúc nhúc và thối tha khủng khiếp.’ 2. Về điểm này kẻ này (ayaṃ): nàng nói chỉ vào con trai của ḿnh. Đă làm hại (hiṃsati): đă tấn công bằng sức mạnh, có nghĩa là đập bằng búa.[151] Một thương gia bất lương (kūṭavāṇijo): một tên lái buôn vô lại.[152] có nghĩa là một kẻ buôn bán gian lận. [194] Ăn thịt (maṃsani khāditvā) ăn, một ḿnh ăn vụng hết thịt dành cho cả gia đ́nh sử dụng và đă chối bằng cách nói dối rằng, ‘nàng không hề ăn.’[153] 3. Là người chủ gia đ́nh (agāriṇī): nữ gia chủ trong gia đ́nh. Cho dù có trong tầm tay (santesu): cho dù những phương tiện nuôi sống người khác có bố thí cũng vẫn c̣n’. Ta đă dấu kỹ điều này’ (parigūhāmi): ta đă dấu đi; điều này được diễn tả bằng cách méo mó th́.[154] Và ta đă không bố thí lấy một miếng nhỏ (mā ca kiñci ito adaṃ): đă không bố thí ngay cả chỉ là một miếng nhỏ, tài sản của ta, cho người khác đang cần đến. Tự che dấu (chādemi): bà đă tự che dấu bằng cách nói dối. “Chẳng c̣n thứ ǵ như vậy trong nhà nữa.” 4. Đă trở thành phẩn dành cho tôi (gūthaṃ me parivattati): bữa ăn này có cơm gạo thơm đă đổi thành phẩn do ác nghiệp của ta. 5. Không phải không mang lại kết quả (avañjhāni): không phải vô ích, không phải không đem lại kết quả. Cũng chẳng tiêu diệt bất kỳ nghiệp nào (na kammaṃ vinassati): chẳng triệt tiêu được nghiệp nào song c̣n tích luỹ lại nghiệp khác nữa[155] cũng đem lại quả khác. Có ḍi bọ rúc rỉa. (kimīnaṃ): có ḍi bọ rúc rỉa. Đầy cả bầy ḍi lúc nhúc. Phẩn (mīḷhaṃ): phân. Điều ǵ c̣n lại đă tự rơ ràng như ta đă nêu ra ở trên. Khi trưởng lăo đă nghe được những ǵ ngạ quỉ đă nói, ngài nêu vấn đề này cho Đức Phật. Ngài liền coi đó như là nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho đoàn người tụ tập tại đó, việc diễn giải này đă đem lại lợi ích cho chúng sanh đó.
-ooOoo-
[142] Chú giải Be Se cũng giải thích là bhūsa ở đây và xuyên suốt. [143]. Chú giải Se Be và đoạn kệ v. 1 giải thích là punāparo c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là punpare. [144]. Chú giải Se Be giải thích là sālipalāpe c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là sālipalāre. [145]. Chú giải Se Be giải thích là yugacammaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là yoggacammaṃ; xin đọc chú giải SED sv yuga trong đó người ta cho rằng một miếng da cột vào ách xe ḅ được gọi là yugacaman. [146]. Xin đọc chú giải PvA 244. [147]. Chú giải Se Be giải thích là palāpāni c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là palāsāni cả ở đây và ở dưới nữa; mục từ trong PED sv palasa nên được chỉnh lại cho phù hợp. [148]. Chú giải Se Be giải thích là ekako c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là ekato. [149]. Bản văn đă chấm câu không được cẩn thận ở điểm này và nên giải thích với chú giải Se Be như sau: sisabhedaṃ papuṇāti taṃ sandhāya vadati. Sakamaṃsalohitan ti… [150]. ahaṃ manussesu manussabhūta; xin đọc những nhận xét trong MLS iii 249 n 1. liên quan đến cách diễn tả tương tự manussanaṃ yeva sataṃ manussabhūtānaṃ. Cách diễn tả sau này lại xẩy ra trong S ii 188 h́nh như trong đó chỉ là một lời chú thích rất có thể chỉ nhằm nhấn mạnh như ở đây. [151]. Trong phần giới thiệu chuyện kể này h́nh như người ta đă đề cập đến miếng da cột vào ách xe. [152]. Chú giải Se Be giải thích là khalavāṇijo c̣n bản văn ghi là hāla; ư nghĩa tĩnh từ khala không được liệt kê trong PED nhưng lại thấy trong tự điển Childers. [153]. Ta nên chú ư là chính do ăn trộm (tham lam) đó lại là một hành vi xúc phạm chứ không phải là hành vi chỉ thuần tuư ăn thịt mà thôi. Đức Phật chẳng bao giờ cấm ăn thịt, chỉ trừ một số trường hợp nhất định. [154]. Th́ hiện tại dành để chỉ th́ bất định. [155]. Chú giải Be giải thích là yathūpacitaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng Se ghi là hetupacitaṃ.
|
|
![]()