|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
II. 4 Chú giải chuyện ngạ quỉ NỮ KEO
KIỆT NANDĀ ‘Ngươi có diện mạo đen đủi và xấu xa kinh dị” Chính Đức Phật đă thuật lại chuyện kể này khi ngài đang lưu lại trong cánh rừng Jeta liên quan đến một nữ Ngạ Quỉ tên là Nanda. Người ta kể lại rằng trong một ngôi làng nọ không cách xa thành Sāvatthī là bao, có một thiện nam tên là Nandasena có đức tin và có ḷng tịnh tín. Tuy nhiên vợ của ông tên là Nanda, lại chẳng có đức tin cũng như ḷng tịnh tín chút nào và là hạng người keo kiệt, nóng tánh và ăn nói thô lỗ; nàng thiếu ḷng kính trọng và không tôn trọng chồng ḿnh và c̣n lăng mạ và chửi mắng mẹ chồng oang oang như cái trống chầu. Đến kỳ hạn đă định nàng qua đời và tái sanh nơi cơi Ngạ Quỉ không cách xa ngôi làng đó là bao [90] Một hôm nàng đă xuất hiện nguyên h́nh không cách xa vị thiện nam Nandasena là mấy khi ông đang ĺa khỏi ngôi làng. Khi nh́n thấy nàng ông liền nói với nàng bằng đoạn kệ sau: 1. Ngươi có diện mạo đen đủi và xấu xa kinh dị, trông xấu xí và dữ dằn khủng khiếp. Có mắt đỏ lừ và răng dài hô dài ra. Ta không nghĩ rằng nàng là một con người được nữa. 1. Về điểm này đen đủi (kālī): có nước da đen đủi; nước da nàng giống như những cục than cháy dở. Thô xấu (pharusā): thô kệch. Trông thật dữ dằn (bhārudassanā): trông thật khủng khiếp, dễ sợ. Một cách giải thích khác là bhārudassanā,[119]trông đen đủi[120], nghĩa là khó coi[121] do nàng quá xấu xí đen đủi v.v... Đỏ (piṅgalā): mắt đỏ lừ. Dài, hô ch́a ra (kalārā): có răng dài và hô lồi ra. Ta không thể tưởng tưởng tượng đây lại là một con người (na taṃ maññāmi mānusiṃ): ta không nghĩ nàng là con người, ta nghĩ nàng chỉ là một nữ Ngạ Quỉ [122]. – đây chính là ư nghĩa. Khi nàng nghe thấy những lời này, nữ ngạ quỉ đă thốt lên đoạn kệ sau giải thích nàng là ai: 2. Ta chính là Nanda, hỡi Nandasena. Ta là vợ của ngươi trong quá khứ. Sau khi đă thực hiện ác nghiệp ta đă phải di chuyển hết nơi này đến nơi khác trong cơi ngạ quỉ. 2. Về điểm này ta chính là Nanda, hỡi Nandasena (ahaṃ Nandā Nandasena): Thưa đức lang quân [123] Nandasena, ta tên là Nandā. Ta đă là[124] vợ của ngươi trong quá khứ (bhariyā te pure ahuṃ): nơi kiếp trước ta đă là vợ của nhà ngươi. Sau đó là câu hỏi của vị thiện nam: 3. Giờ đây nàng đă thực hiện ác nghiệp nào bằng thân khẩu hay ư? Do kết quả của ác nghiệp nào nàng lại phải lang thang khắp nơi này nơi kia trong cơi ngạ quỉ thế?’ Thế rồi nàng trả lời, nói rằng: 4. “Tánh t́nh ta quá[125] nóng nẩy và lỗ măng và ta cũng thiếu kính trọng nhà ngươi. Sau khi đă nói những lời ác ư ta đă phải đi lang thang từ nơi này đến nơi khác trong cơi Ngạ quỉ.’ Ông ta lại nói thêm một lần nữa: 5. ‘Đây, ta sẽ ban cho ngươi áo khoác ngoài của ta: hăy mặc vào đi. khi nhà ngươi mặc chiếc áo này vào th́ hăy đến và ta sẽ đưa nhà ngươi về nhà. 6. [91] Nhà ngươi sẽ được quần áo đó ăn và nước uống khi nào nhà ngươi về đến nhà. Và nhà ngươi sẽ nh́n thấy các con trai của nhà ngươi và cả các con dâu[126] nữa. Thế rồi nàng liền thốt lên hai đoạn kệ này cho chàng: 7-8. ‘những ǵ được bố thí từ tay chàng sang tay ta th́ chẳng lợi lộc ǵ cho ta đâu. Nhưng hăy lấy đồ ăn thức uống mà làm thoả măn các tỳ khưu là những người có giới đức, thoát khỏi mọi tham dục và là những người đă lắng nghe nhiều[127] và rồi hồi hướng phước thí đó cho ta - thời ta sẽ được sung sướng hạnh phúc và có được toàn bộ những ǵ ta ước ao.’ Ba đoạn kệ đă được các vị kiết tập Tam Tạng công bố: 9. “Tốt lắm”, vị ấy đồng ư và sẽ phân phát rất nhiều của bố thí – vật thực, đồ uống, vật thực cứng, y phục[128] và chỗ ở dù, lọng che nắng và hương nhang và ṿng hoa và nhiều loại sandals khác nhau. – cho các tỳ khưu là những người có giới đức, thoát khỏi mọi tham dục và là người đă lắng nghe rất nhiều. Sau khi đă thoả măn cho các vị tỳ khưu với vật thực và thức uống vị ấy đă hồi hướng nghiệp thí đó cho nàng. 10. Ngay khi vị ấy hồi hướng phước thí này th́ kết quả đă xuất hiện ngay lập tức, vật thực, thức uống và y phục trở thành kết quả của cuộc bố thí này. 11. Từ đó trở đi nàng trở nên thanh tịnh, được mặc những y phục sạch sẽ và tươi sáng, mang những loại y phục c̣n tốt hơn cả những thứ lụa là Kasi và được trang điểm bằng những loại y phục và những đồ trang sức đa dạng, và nàng đă tiến lại gặp chồng nàng. Từ đây trở đi là những đoạn kệ về việc trao đổi đàm thoại giữa thiện nam và nữ ngạ quỉ. 12. Hỡi Devata, nàng là người đang đứng đó với vẻ kiều diễm tuyệt trần, toả sáng khắp tứ phương thiên hạ giống như Dược Vương Tinh vậy. 13. Do đâu mà nàng có được vẻ đẹp kiều diễm đến như vậy? Do đâu nàng đă đạt đến được những thành tựu như vậy và làm sao nàng đă đạt được những cảm khoái như ḷng nàng hằng mơ ước? 14. Hỡi devi đầy uy lực, ta hỏi ngươi do phước báu nào nhà ngươi đă thực hiện khi c̣n đang lưu lại tại kiếp người. Do đâu mà oai lực của nàng toả sáng như vậy[129] và vẻ kiều diễm của nàng chiếu toả khắp tứ phương thiên hạ? 15. Hỡi Nandasena, chính ta là Nanda, ta là vợ của ngươi trong kiếp trước. Sau khi đă thực hiện một ác nghiệp ta đă phải đi lang thang từ nơi này sang nơi khác trong cơi ngạ quỉ; nhưng giờ đây, nhờ vào của thí nhà ngươi đă thực hiện, ta có thể thưởng thức, chẳng c̣n phải sợ hăi điều ǵ từ bất kỳ cơi nào nữa. 16. Mong rằng nhà ngươi được sống lâu hỡi thiện nam. Với toàn bộ bà con thân thuộc ruột thịt [92] và mong rằng nhà ngươi đạt được trú xứ Vasavattis. Là nơi được thoát khỏi mọi sầu khổ và ô nhiễm 17. Hăy hành động phù hợp với Phật Pháp và thực hiện bố thí, hỡi gia chủ, hăy đoạn tuyệt với bợn nhơ ích kỷ, cùng với những cội nguồn của nó. Và tiến về thiên giới mà không mang theo bắt kỳ lỗi lầm nào.’ 9. Về điểm này hăy phân phát bố thí dồi dào (dānaṃ vipulam ākiri): hăy mở những cuộc bố thí to lớn như thể nhà ngươi gieo hạt giống phước thí trên thửa ruộng của những kẻ nào xứng nhận phước thí. Những ǵ c̣n lại giống như trong chuyện kể tiếp theo ngay sau đây. Khi nàng đă giải thích như vậy cho Nandasena về vinh quang thần tiên và lư do tại sao nàng đă đi tới trú xứ đó. Thiện nam lại nêu vấn đề với các tỳ khưu và các tỳ khưu lại nêu vấn đề này với Đức Phật. Đức Thế Tôn coi vấn đề này như là nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho đoàn người tụ tập ở đó. Việc diễn giải Phật Pháp đó đă đem lại ích lợi cho chúng sanh.
II.5 Chú giải
chuyện ngạ quỉ ĐEO BÔNG TAI
“Được trang điểm và đeo bông tai sáng loáng.’ Đức Phật đă thuật lại chuyện kể này khi ngài lưu lại trong khu rừng Jeta liên quan đến Devaputta Mattākundalin[130] Về điểm này những ǵ được thuật lại giống như phần chú giải Mattākundalin Thiên Cung Sự trong phần chú giải các chuyện kể[131] về Thiên Cung Sự trích trong đoạn Giải Thích Ư Nghĩa Nội Tại và chính v́ thế ta nên hiểu theo những ǵ đă tŕnh bày trong đó. Trong trường hợp này đây chính là chuyện kể về Devaputta Mattākundalin từ khi nàng trở thành một Devata Thiên Cung trở đi[132]. Cha nàng là vị Bà La môn Adinnapubbaka do quá sầu khổ v́ mất người con trai đă đi đến băi tha ma và đi lang thang quanh các dàn thiêu hoả táng khóc lóc than văn khi con trai của ông cũng là devaputta, nhằm xua tan[133] nỗi sầu khổ trong ḷng, ông đă loại bỏ lốt devaputta của ḿnh và hiện h́nh thành một Ngạ Quỉ đầy khổ sở và với hai cánh tay chắp lại trong nỗi sầu khổ khắc khoải ông đă than khóc thảm thiết rằng, “Ôi mặt trăng, ôi mặt trời của ta ơi!”[134] Cho dù chuyện kể này đă được ghi lại trong bản Kinh Thiên Cung Sự nhưng cũng được ghi lại cả trong bản Kinh Chuyện Ngạ quỉ nữa v́ lư do bất kỳ kẻ nào trút bỏ kiếp sống làm người rất có thể cũng được đề cập đến với tên gọi là “Ngạ Quỉ[135]” vậy.
-ooOoo-
[119] Chú giải Be cũng giải thích giống như vậy. Bản văn chỉ nhắc lại bhīrudassamā; chú giải Se giải thích là bhīrudassakā. Xin đọc chú giải PvA 142 dưới đây. [120]. Chú giải Se Be giải thích là bhāriyadassanā c̣n bản văn ghi là bhariya- [121]. Chú giải Se Be giải thích là duddasikā c̣n bản văn ghi là duddassikā. [122]. Chú giải Se Be giải thích là petiṃ eva ca taṃ c̣n bản văn ghi là pitivacanaṃ. [123]. Chú giải Se Be giải thích là sāmi c̣n bản văn ghi là sami. [124]. Chú giải Se Be giải thích là ahosiṃ c̣n bản văn ghi là ahosi. [125]. Chú giải Se Be giải thích là c’ siṃ c̣n bản văn ghi là c’ āsi. [126]. Chú giải Se Be giải thích là suṇisyo c̣n bản văn ghi là sūtisāye. [127]. Bahussute, từ tương đương là ‘giải thích kỹ lưỡng’ trong một cộng đồng giáo lư chỉ được truyền đạt qua miệng mà thôi. [128]. Chú giải Se Be giải thích là vatthasenāsanāni c̣n bản văn ghi là vutthaṃ sen- [129]. Chú giải Se Be giải thích là evañjalitāsenāsanāni c̣n bản văn ghi là –bhavā. [130]. Tên mang ư nghĩa là ‘ṿng trai sáng bóng’ [131]. VvA 322-330. [132]. Xin đọc Thiên Cung Sự tr. 144-147. [133]. Chú giải Be giải thích là sokaharaṇatthaṃ c̣n bản văn ghi là sokāvahar (Se sokāpahar-) [134]. Se Be giải thích là haricandanussado. Với việc gắn vào một miếng gỗ trầm mầu vàng trên da ở đây. cho dù được mô tả như vậy trong Vv 831, ông ta cũng được nói tới trong phần giới thiệu may trước đoạn kệ này đó là đang gào lên ‘Ôi mặt trời! ôi mặt trăng!’ Cách giải thích của chúng ta h́nh như thiên về cách thức chuyện kể được tiến triển. V́ Maṭṭakuṇdaliṃ giả vờ tiền kiếm mặt trời mặt trăng để làm bánh xe cho chiếc xe ngựa của ông. Đang khi than khóc v́ không thể lấy được hai thứ đó ít nhất th́ ông cũng đang t́m kiếm cái có thể nh́n thấy được và Adinnapubbaka v́ thế đă phát hiện ra chính mối nguy xuẩn của ḿnh đang khi t́m kiếm điều ǵ không c̣n nh́n thấy được nữa, đó chính là đứa con trai đă chết của ḿnh, xin cũng đọc thêm chuyện kể chuyện Ngạ quỉ tiếp theo sau đây. [135]. Manussattabhāvato apetattā petapariyāyo pi labbhati eva. H́nh như “ngạ quỉ” đó ở đây có thể chẳng mang ư nghĩa ǵ khác hơn là những người “Quá Cố” ấy vậy việc giải thích như vậy chắc chắn có thể cho phép gộp lại bất kỳ chuyện kể nào liên quan đến người đă chết và đây không phải là ư định của ngài Dhammapāla. Hơn là có thể cho rằng chuyện kể này đă được gộp lại kể tùa khi Maṭṭakuṇḍalin được cho là hiện nguyên h́nh một ngạ quỉ. Kỳ lạ thay điều này không được đề cập đến trong VvA trong đó Maṭṭakuṇḍalin xuất hiện thay vào đó là một thanh niên Bà La môn, được trang điểm, mang bông tai bóng láng v.v…và làm chủ một chiếc xe kéo bằng vàng.
|
|
![]()