NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

  CHÚ GIẢI  

CHUYỆN NGẠ QỦI

(Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:              Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I.10 Chú giải chuyện ngạ quỉ NỮ HÓI ĐẦU
[Khallāṭiyapetavatthuvaṇṇā]

“Ngươi là ai mà dám lưu lại bên trong thiên cung đó?’

Đức Phật đă thuật lại chuyện kể này khi ngài đang lưu lại tại thành Sāvatthi liên quan đến một nữ ngạ quỉ hói đầu [217].

Người ta kể lại rằng cách đây đă lâu trong thành Benares có một cô gái điếm rất xinh đẹp, diễm lệ và duyên dáng. Nàng có nước da hấp dẫn tuyệt vời và những bím tóc quyến rũ lạ thường. Nàng có làn tóc đen mềm mại, mịn mượt và xoắn cong ở đuôi tóc; nàng buộc tóc thành hai chùm và khi nàng thả tóc xuống, những bím tóc tḥng xuống đến tận thắt lưng. Khi nh́n thấy bộ tóc duyên dáng của nàng th́ hầu hết các chàng trai đều say đắm yêu thương nàng. V́ không thể chịu đựng nổi mái tóc tuyệt đẹp của nàng, một số phụ nữ, đầy ḷng ganh tỵ, đă bàn tán với nhau[218] và rồi mua chuộc tên đầy tớ gái cho nàng một liều thuốc độc khiến cho mái tóc của nàng rụng hết. Người ta kể lại rằng người tớ gái đă trộn chung thuốc rụng tóc với bột tắm và đưa cho nàng dùng vào lúc nàng đến tắm tại sông Hằng. Nàng tẩm ướt tóc kỹ càng đến tận chân tóc và nhúng tóc vào trong nước. [47] Ngay khi nàng nhúng tóc xuống nước th́ toàn bộ tóc rụng hết từ chân tóc và đầu nàng trông giống như một trái bầu đắng.[219] Rồi toàn bộ tóc trên đầu đă rụng hết trông xấu xí như con chim bồ câu có đầu nhổ sạch lông,[220] do xấu hổ nàng không thể vào thành phố được, nàng phải trùm một chiếc khăn quanh đầu và t́m một nơi cư trú đâu đó trong thành. Sau một thời gian khoảng vài ngày nàng hết thấy xấu hổ[221] nàng ép một số hạt mè và kiếm sống bằng cách buôn dầu và bán rượu. Một ngay kia có hai ba tên say rượu đă ngủ mê, nàng đă đánh cắp quần áo của họ đang treo trên móc. Thế rồi một hôm nàng gặp một trưởng lăo người đă triệt phá hết lậu hoặc đang du hành khất thực và với ḷng kính trọng trong ḷng nàng đă mời ngài vào nhà ḿnh, mời ngài ngồi trên chỗ đă được dọn sẵn và rồi dâng lên ngài một chiếc bánh nướng được làm bằng mè xay[222] và nhúng trong dầu, do ḷng bi mẫn đối với nàng trưởng lăo đă chấp nhận chiếc bánh và ăn trong khi đó nàng đứng với ḷng đầy kính cẩn cầm chiếc lọng che cho vị trưởng lăo. Trưởng lăo bày tỏ ḷng hoan hỷ[223] với nàng khiến cho tâm trí nàng hoan hỉ sung sướng. Và rồi ngài ra đi, ngay lúc ngài tỏ ḷng tuỳ hỷ th́ người phụ nữ đă làm một lời nguyền nói rằng, ‘Mong rằng mái tóc của con mọc dài trở lại, mềm mại mịn mượt và xoắn cong một đầu!’ Đến đúng thời điểm nàng đă qua đời và do hậu quả của những phước báu cũng như ác nghiệp, nàng đă tái sanh một ḿnh trong một ngôi nhà bằng vàng ở giữa đại dương. Tóc nàng trải dài ra y như lời nàng ước nguyện[224] nhưng nàng lại phải lỏa lồ v́ nàng đă đánh cắp quần áo của những người đàn ông say rượu. Nàng đă tái sanh nhiều lần trong điện bằng vàng đó, và phải loả lồ trong suốt một Phật kỷ. Thế rồi khi Đức Phật xuất hiện trên thế gian này và Ngài đă chuyển pháp luân và đến đúng thời kỳ ngài đă lưu lại trong thành Sāvatthi, có hàng trăm thương nhân[225], là cư dân trong thành Sāvatthī đă khởi sự lên tàu vượt đại dương[226] đầy sóng gió nhắm hướng tới Suvannabhūmi[227]. Chiếc tàu họ đă tṛng trành do gió thổi mạnh, rồi trôi dạt bồng bềnh khắp nơi và rồi đến được một điểm đó. Do đó thiên cung quỉ nữ đă xuất hiện nguyên h́nh và căn nhà của nàng trước mặt họ. Khi nh́n thấy nàng một thương nhân lớn tuổi nhất đă thốt lên câu kệ như sau:

1.  [48] Nàng là ai mà cứ ở ĺ trong cung điện, lại không ra ngoài? Hỡi nàng thân yêu, hăy ra ngoài để chúng ta ngắm nh́n nàng.’[228]

1. Ở đây, giờ đây nàng là ai mà cứ ở trong cung điện của nàng? (kā nu anto vimānasmiṃ tiṭṭhantī): ngài hỏi, ‘Giờ đây nàng là ai mà cứ ở trong ngôi nhà của nàng vậy? liệu nàng có phải là con người hay là nữ yêu quái?’ không ra ngoài (na upanikkhami): không rời khỏi cung điện của nàng. Hăy ra ngoài đi, để chúng ta trông thấy nàng đang khi chúng ta c̣n đang đứng ở bên ngoài.(upanikkhamassu bhadde tvaṃ passāma taṃ bahiṭṭhitaṃ):12 hỡi nàng thân yêu hăy để chúng ta trông thấy nàng, đang khi c̣n đứng ở bên ngoài12 chính v́ vậy hăy ra khỏi nhà đi!’ (upanikkamasu bhaddan te), có nghĩa là ơn phước xuống trên con.

Thế rồi nàng thốt lên đoạn kệ này để giải thích nàng không có khả năng ra khỏi cung điện đó như sau:

2.      Phải loả lồ ta cũng rất khổ tâm và lúng túng[229] ta không thể ra ngoài được. Ta chỉ lấy làn tóc che thân – là kết quả một số phước báu ta đă thực hiện được.

2. Ở đây, ta cũng rất khổ tâm (attiyāmi): bị loả lồ, ta cũng rất khổ tâm và khốn khổ không thể ra ngoài được. lúng túng (harāyāmi): phải xấu hổ. Ta chỉ che thân ḿnh bằng lọn tóc của ta mà thôi (keseh’amhi paṭicchannā): ta đang che thân ḿnh, thân ḿnh chỉ được che bằng mái tóc mà thôi. Một số ít hành vi công đức mà ta đă thực hiện (puññaṃ me appakaṃ kataṃ) : những phước báu tôi đă thực hiện thật quá ít và quá nhỏ nhặt, của bố thí chỉ có một chiếc bánh làm bằng mè xay[230] đây là ư nghĩa.

Thế rồi thương nhân, ước nguyện tặng cho nàng chiếc áo khoác ngoài, thốt lên bài kệ sau:

3.      Đây này, ta sẽ tặng[231] cho nàng chiếc áo khoác, hăy mặc tấm áo này vào. Khi nhà ngươi mặc chiếc áo này, rồi ra ngoài, hỡi người phụ nữ xinh đẹp của ta, nàng yêu, hăy ra ngoài để chúng ta nh́n thấy nàng v́ chúng ta đang đứng ở bên ngoài này[232].

3. [49] Ở đây, đây này, (handa): hăy cầm lấy (chiếc áo) này. Chiếc áo khoác (uttarīyaṃ): một chiếc áo khoác ngoài. Mặc ở ngoài, có nghĩa là chiếc áo khoác bên ngoài. Ta sẽ tặng cho nàng: dadāmi te = tuyhaṃ dadāmi [233] (một dạng ngữ pháp khác). Hăy mặc chiếc áo này vào (imaṃ dussaṃ nivāsaya): hăy mặc chiếc áo khoác của ta vào[234]. Hỡi người đẹp của ta ơi (sobhane): người đẹp của ta ơi.

Nói vậy rồi ngài trao cho nàng chiếc áo khoác ngoài. Nàng thốt lên hai đoạn kệ này cho thấy rằng điều ǵ được bố thí theo cách này không đem lại lợi ích cho nàng và cách thức những ǵ được bố thí cho nàng phải đem lại lợi ích cho nàng.

4.      “Điều ǵ do chính tay ngài đưa vào tay em, chẳng đem lại lợi lộc ǵ cho em cả. Nhưng thiện nam này ở đây lại có niềm tin và là một đồ đệ của Đức Phật toàn giác.

5.      Sau khi đă mặc vào cho vị ấy, hăy hồi hướng phước thí đó cho em. Thế rồi em sẽ được hạnh phúc sung sướng và được phú cho đầy đủ những ǵ mong ước.’

4. Ở đây những ǵ nhà ngươi bố thí ngay vào tay em sẽ không đem lại lợi ích ǵ cho em cả. (hatthena hatthe te dinnaṃ na mayhaṃ upakappati): cái ǵ ngài cho em từ tay ngài, thưa ngài, từ tay ngài đặt vào tay em chẳng đem lại lợi ích ǵ cho em đâu, không dồn lại cho em, có nghĩa là không thích hợp để cho em sử dụng.[235] Nhưng thiện nam ở đây có niềm tin (es’ etth’ upāsako saddho): nhưng trong đám đông chúng sanh này th́ thiện nam là người có niềm tin đă qui y Tam Bảo và lại có niềm tin v́ ngài tin tưởng vào nhân quả của các hành vi đó.

5. Sau khi đă mặc áo cho ngài, hăy hồi hướng phước thí đó cho em (etaṃ acchādayitvāna mama dikkhiṇam ādisa): hăy để cho thiện nam mặc chiếc áo khoác này đă được bố thí cho em và hồi hướng của thí đó cho em, hăy ban tặng cho em của thí đă được hồi hướng. Thế rồi em sẽ được sung sướng hạnh phúc (tadāhaṃ sukhitā hessaṃ): khi thực hiện điều đó em sẽ đạt được hạnh phúc và sẽ được mặc chiếc áo thiên cung đó.

Khi nghe được như vậy các thương nhân liền tắm rửa cho thiện nam đó, xức dầu cho ông ta rồi mặc cho ông một cặp áo. Các vị kiết tập Tam Tạng thốt lên ba đoạn kệ làm rơ điểm này như sau:

6.      Những thương nhân tắm và xức dầu cho thiện nam đó rồi mặc cho ngài cặp áo và hồi hướng của thí đó cho nàng.

7.      [50] Ngay sau khi họ bố thí điều này[236] th́ kết quả tức th́ xẩy ra: của ăn, quần áo và đồ uống trở thành kết quả của vật thí đó.

8.      Nhân đó nàng trở nên thanh tịnh, được mặc y phục sạch sẽ, những y phục đó c̣n mịn hơn cả những thứ làm bằng vải Kasi và nàng đă rời khỏi cung điện mỉm cười (để cho thấy) “Đây chính là kết quả do vật thí đem lại.

6. Ở đây, vị ấy (taṃ): thiện nam đó; từ ca (không được dịch) chỉ là một tiểu từ. Những kẻ ấy (te) phải được phân tích với “những thương nhân”. Được xức dầu (vilimpitvāna): được xức với hương thơm tuyệt hảo nhất. Mặc cho vị ấy những y phục (vattheh’ acchādayitvāna): sau khi đă cho ăn những thứ có cà ri đủ loại có mùi thơm và hương vị tốt, họ đă mặc vào cho ngài hai chiếc áo. – có nghĩa là họ mặc cho vị ấy cả đồ lót và áo khoác ngoài – có nghĩa là họ mặc cho vị ấy hai món đồ. Hồi hướng phươc thí đến cho nàng (tassā dakkhiṇaṃ ādisuṃ): bố thí phước thí đó nhằm đem lại lợi ích cho nàng.

7. Ngay sau khi họ đă hồi hướng phước thí này (samanatarānuddiṭṭhe): anu không được dịch chỉ là một tiểu từ; ngay sau khi họ hồi hướng phước thí đó cho nàng. Lập tức kết quả xuất hiện (vitāko uppajjatha): kết quả dành cho nữ ngạ quỉ, có nghĩa là kết quả phước thí này đă xuất hiện. Loại kết quả nào vậy? Nữ ngạ quỉ nói [237] của ăn, y phục và thức uống(bhojanacchādanapānī-yaṃ) : nhiều loại thức ăn đa dạng giống như vật thực thiên cung.[238] Nhiều loại y phục nhuộm rất nhiều màu sắc đa dạng tỏa sáng giống như y phục thiên cung và vô số loại nước uống. Như thế kết quả phước thí đó xuất hiện – đây là cách ta nên phân tích.

8. Nhân đó (tato): sau khi đă nhận đồ ăn nói trên[239]v.v... nàng đă trở nên thanh tịnh (suddhā): thân xác nàng trở nên thanh tịnh nhờ tắm rửa sạch sẽ. Mặc vào những y phục tươi sáng và sạch sẽ (sucivasanā) : mặc những thứ y phục sạch sẽ, rực rỡ . Khi mặc những thứ ấy c̣n mịn hơn cả vải vóc của Kasi (kāsikuttamadhārinī): mặc những thứ y phục c̣n mịn hơn cả loại y phục làm bằng vải Kasi. Mỉm cười (hasantī): nàng rời khỏi thiên cung mỉm cười để làm rơ, “Nh́n ḱa, hỡi chư huynh, kết quả tuyệt diệu vật thí của các bạn đem lại.’

Khi các thương nhân chính mắt chứng kiến kết quả của phước báu đem lại, tâm trí họ tràn ngập kinh ngạc và họ tỏ ḷng kính trọng và tôn kính thiện nam đó và kính lễ ngài bằng những cách chào chấp tay tác lễ. Vị ấy c̣n làm cho họ tịnh tín nhiều hơn với bài diễn giải Phật Pháp và thọ tŕ Tam Qui và Ngũ Giới.[240] Họ đă hỏi thiên cung ngạ quỉ về những ǵ nàng đă làm trong quá khứ với đoạn kệ sau:

9.      [51] “Cung điện nguy nga rực rỡ của nàng đang chiếu sáng[241], này tiên nữ chúng ta yêu cầu nàng thông báo cho chúng ta biết phước báu nào đă đem lại kết quả như vậy?’

9. Ở đây được sơn phết xinh đẹp (sucittarūpam): được trang hoàng cực kỳ lộng lẫy bằng những bức tranh gồm có voi, ngựa, thiện nam, tín nữ v.v... [242] cũng như những tràng hoa và cây leo. Lấp lánh (rucitaṃ) : trông rất dễ thương và khả ái. Đây là kết quả của phước báu nào vậy? (kissa kammass ’idaṃ phalaṃ): thuộc loại phước báu nào, nghĩa là có phải đó là kết qủa của phước thí được thấy trong hỏa ngục chăng:[243]

10.  Với một vị hành giả, là tỳ khưu chánh trực, với tâm kính mến, em đă dâng cho ngài một chiếc bánh chiên bằng dầu.[244]

11.  Do kết quả của phước báu đă thực hiện, em được hưởng khoái lạc trong một thời gian dài trong cung điện này nhưng giờ đây chỉ c̣n lại chút ít.

12.  Bốn tháng sau em sẽ phải chết và sẽ phải rơi xuống hoả ngục vô cùng khủng khiếp và đau đớn.

13.  Hoả ngục đó có bốn góc với bốn cổng được chia thành nhiều phần bằng nhau vây quanh là tường rào sắt có mái che cũng bằng sắt ở phía trên.

14.  Nền hoả ngục sáng nóng làm bằng sắt cháy đỏ - trải rộng khắp một trăm do tuần (yojanas) và tồn tại vĩnh viễn.[245]

15.  Em đă phải trải qua trong một thời gian dài những cảm thọ đau đớn chính là kết quả của ác nghiệp em đă làm. V́ lư do đó em vô cùng sầu khổ.[246]

10. Ở đây đối với một vị tỳ khưu du hành (bhikkhuno caramānassa): đối với một vị tỳ khưu đă đoạn tận hết các lậu hoặc[247] và là vị đang du hành đây đó để khất thực. Một chiếc bánh chiên (doṇinimmajjataṃ): bột mè xay chiên với dầu[248]. Chánh trực (ujubhūtassa): là người đă đạt đến chánh trực nhờ đă đoạn tận các lậu hoặc là pháp tạo ra tánh không thật thà, bất lương và thất tính trong tâm. [52] Với tâm đạo nhiệt thành (vippasannena cetasā): với tâm đạo nhiệt thành do có niềm tin[249] nơi nhân quả của phước báu đó.

11. Trong Một thời gian dài (dīghaṃ antaraṃ): từ dīghaṃ và antaraṃ chỉ mang tính chất êm tai liên quan đến nguyên âm ma[250], có nghĩa là trong một thời gian lâu dài. Nhưng giờ đây chỉ c̣n tồn lại một ít mà thôi (tañ ca dāni parittakaṃ): nhưng giờ đây chỉ c̣n lại một ít nghiệp đó - kết quả của phước báu đó đă chín mùi và đạt đến trưởng thành,[251] có nghĩa là không bao lâu nữa em sẽ rời khỏi nơi đây, v́ lư do đó nàng nói rằng:

12. Sau bốn tháng nữa em sẽ phải chết (udhañ catūhi māsehi kālakiriyā bhavissati): nàng chỉ ra cho thấy sau bốn tháng nữa, bốn tháng sau, vào tháng thứ năm (kể từ đây) cái chết sẽ đến với nàng. Thật đau đớn dữ dội (ekantaṃ kaṭukaṃ): khó chịu cùng cực, có nghĩa là đau khổ vô cùng do bản chất thuộc tác động[252] nơi lục căn giác quan. Khủng khiếp (gloraṃ): tàn nhẫn. Hoả ngục (nirayaṃ): hoả ngục được gọi là nir-ayaṃ v́ chẳng có ǵ ở đó (nir -tiếp đầu ngữ phủ định) có thể tạo ra sung sướng dễ chịu. Sẽ rơi xuống: papatiss ’āhaṃ =papatissāmi ahaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài)[253]. Và v́ ở đây hoả ngục nên được hiểu là đại hoả ngục Avici nàng đă thốt lên những đoạn kệ bắt đầu vơi “có bốn góc” cho thấy hỏa ngục có h́nh dạng giống như (Avici).

13. Ở đây có bốn góc (catukkaṇṇaṃ): với bốn góc. Có bốn cổng (catudvānaṃ): được trang bị với bốn cổng (với một cổng) ở mỗi hướng. Được chia thành (vibhattaṃ): chia đều thành. Những phần: bhāgaso=bhāgato (một dạng ngữ pháp khác). Bằng nhau (mitaṃ): tương hợp với. Bao quanh là bức tường sắt (ayopākārariyantaṃ): vây quanh là một bức tường làm bằng sắt. Có mái sắt ở trên (ayasā paṭikujjitaṃ): có mái sắt che ở trên.

14. Sáng nóng (tejasāyutā)[254] có những ngọn lửa liên tục nối tiếp nổi lên khắp xung quanh. Khắp quanh độ một trăm yojana (do tuần) (samantā yojanasataṃ): trong khi đó[255] vây quanh bên ngoài từ mọi phía cách độ một trăm do tuần. Măi măi (sabbadā)[256] luôn luôn lúc nào cũng vậy. Trải rộng ra (pharitvā): trải rộng ra măi măi.

15 Ở đó (tattha): Trong đại địa ngục đó. Em sẽ phải trải qua: vedissaṃ = vedissāmi (một dạng ngữ pháp chuyển đổi); em phải trải qua. Do kết quả của ác nghiệp xấu xa (phalañ ca pāpakammassa) có nghĩa là việc chịu đựng những cảm thọ đau đớn tầm cỡ như vậy là do kết quả của những ác nghiệp xấu xa chính em đă thực hiện một ḿnh[257].

Khi nàng đă cho thấy kết quả nghiệp nàng đă thực hiện và kiếp tương lai nàng phải chịu trong hoa ngục [53] th́ tâm trí thiện nam đó đă nổi lên ḷng từ mẫn bao la và nghĩ rằng chàng có thể là điều kiện hỗ trợ cho nàng, nói rằng, ‘ Chỉ bằng cách bố thí cho em một vật thí duy nhất, ôi Devata, th́ nàng đă được đủ mọi điều mơ ước và có thể tiếp xúc với thù thắng cao cả này. Giờ đây nếu ngài thực hiện bố thí cho những thiện nam này và tưởng nhớ tới những giới đức của Đức Phật th́ ngài sẽ được giải thoát khỏi tái sanh trong hoả ngục. Nữ ngạ quỉ vui mừng quá độ và nói. “Tốt lắm” và họ thoả măn bằng đồ ăn thức uống chư thiên và ban cho họ quần áo cho họ những trang phục và đủ loại châu báu chư thiên. Nàng c̣n trao tận tay họ một bộ y phục chư thiên đặc biệt dành cho Đức Phật và gửi lời chào ngài: ‘Khi ngài tới thành Sāvatthī, xin thay em chào vị Đạo sư kèm theo lời nhắc nhở em gởi ngài: ‘Thưa Đức Thế Tôn, một kẻ ngạ quỉ thiên cung (vimanapeti) xin kính lễ ngài lấy đầu phủ phục dưới chân ngài.’ Nàng đă đưa tầu của họ cập bến mong muốn trong cùng ngày hôm đó, bằng sức mạnh thần thông và oai lực của nàng. Giờ các thương nhân tới được thành Sāvatthī từ cảng đó vào đúng thời gian qui định, và đi vào khu rừng Jeta. Họ dâng lên Đức Phật bộ y phục và khi họ đă chuyển lời chào của nàng họ đă nói toàn bộ vấn đề ngay từ lúc bắt đầu cho vị đạo sư được rơ. Đức Phật coi sự việc đó là nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Phap đến từng chi tiết cho đám đông tụ tập tại đó. Vào ngày hôm sau các thiện nam đó đă tổ chức một cuộc bố thí rất lớn cho tăng đoàn các tỳ khưu có Đức Phật dẫn đầu, và hồi hướng của thí đó cho nàng. Khi nàng rời khỏi cơi ngạ quỉ nàng tái sanh trong một thiên cung làm bằng vàng nơi cơi Tam Thập Tam, rực rỡ với nhiều loại châu báu và một đoàn tỳ tùng gồm một ngàn tiên nữ.

 

-ooOoo-

 

[217] Chú giải Se Be cũng giải thích như vậy, c̣n bản văn ghi là Khalatiya-

[218]. Chú giải Se Be giải thích là sammantetvā c̣n bản văn ghi là samantetvā; Be giải thích là mantetvā.

[219]. Chú giải Be giải thích là tittakalābu (Be –lapu) c̣n bản văn ghi là tintakalābu; xin đọc chú giải PED sv tintaka.

[220]. Chú giải Se Be giải thích là luñcitamatthaka c̣n bản văn ghi là luñcitapamaṭṭā xin đọc chú giải PED sv pamaṭṭa trong đó có một cách giải thích gợi ư là từ luñcitapakkhikā

[221]. Chú giải Be thêm vào tato nivattetvā, nàng từ cơi đó trở lại cơi chúng sanh.

[222]. Chú giải Se giải thích là doṇinimmajjanaṃ piññakaṃ (Be doṇinimmajjaniṃ) c̣n bản văn ghi là doṇinimmajjanaṃ miñjakaṃ; xin đọc chú giải v 2 dưới đây.

[223]. Sampahaṃ santo, nghĩa đen là vui sướng trong ḷng.

[224]. Chú giải Se Be giải thích là patthitākārāyeva c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là patthitā kārāyeva.

[225]. Chú giải giải thích là sattasatā, ở đây có nghĩa là bảy trăm ngàn.

[226]. Xin đọc chú thích PvA 137; sức mạnh đại dương là điều thứ bảy xuất phát từ núi Meru và bốn đại lục toạ lạc trong đại dương này một trong bốn đại lục này là Ấn độ.

[227]. Theo nghĩa đen là vùng đất vàng và thường được xác định là miền nam Miến Điện; xin đọc DPPN ii 1262tt.

[228]. Chú giải Be giải thích là bahiṭṭitaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng Se ghi là mahiddhikaṃ; từ sau này có nghĩa là họ xin nàng biểu hiện sức mạnh thần thông to lớn của nàng ra.

[229]. Chú giải Se Be giải thích là harāyāmi c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là harāyami.

[230]. Piññaka- ; xin đọc chú giải n. 6

[231]. Chú giải Se Be giải thích là dadāmi và trong II 45 c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dāmi.

[232]. Xin đọc n.12

[233]. Chú giải Be Se cũng giải thích giống như vậy ; c̣n bản văn th́ bỏ qua.

[234]. Chú giải Be giải thích là uttarisāṭakam (Se uttara-) và khớp với đoạn văn trước đó nhưng một trong số các câu tiếp theo cũng như vậy. c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là sātakaṃ.

[235]. Chú giải Se Be giải thích là upabhogayoggaṃ. C̣n bản văn ghi là upabhogayaṃ.

[236]. Chú giải Se Be giải thích là samanantarānuddhiṭṭhe c̣n bản văn ghi là -udiṭṭhe.

[237]. Bản văn đă chấm câu không được tốt ở đây và nên giải thích với Se: Kāadiso ti? Petī āha cũng nên lưu ư là ngài Dhammapāla trước đó đă gán các đoạn kệ này cho các kiết tập Kinh Tạng.

[238]. Chú giải Se Be giải thích là dibbadhojanasadisaṃ c̣n bản văn ghi là dibbhojana-

[239]. Chú giải Se Be giải thích là yathāvuttabhojanādi c̣n bản văn ghi là yathāvuttāa-

[240]. Có nghĩa là Ngũ giới áp dụng cho người đời và Tam Qui, Phật Pháp và Tăng; nắm giữ như vậy họ trở thành Phật tử, nhưng không giống như thiện nam ở đây, lại là đồ đệ của Đức Phật.

[241]. Chú giải Se Be giải thích là pabhāsati c̣n bản văn ghi là sa bhāsati.

[242]. Chú giải Se Be giải thích là hatthi-assa-itthipurisadivasena c̣n bản văn ghi là atthi assa itthi-

[243]. Trước đó chúng ta coi như việc nàng lấy y phục được chuộc bằng t́nh trạng nàng phải loả lồ.

[244]. Chú giải Se Be giải thích là doṇinimmajjanaṃ (Be –jjaniṃ) c̣n bản văn ghi là doṇinimmiñjanaṃ.

[245]. Xin đọc chú giải Trung Bộ Kinh (M) iii 167; Tăng Chi Bộ Kinh (A) I 141tt; J v 266.

[246]. Chú giải Se Be giải thích là socām’ahaṃ bhusaṃ và IV 340 c̣n bản văn ghi là socāmīdaṃ bhūtaṃ; II 715 giải thích là soccām’ ahabbhusaṃ trong Pv.

[247]. Bhinnakilesassa.

[248]. Chú giải Se Be giải thích là vissandamānatetlaṃ c̣n bản văn ghi là visandamānatelamiñjakaṃ.

[249]. Chú giải Se Be giải thích là kammaphalasaddhāya c̣n bản văn ghi là –sandhāya.

[250]. Bản văn nên được sửa lai đề giải thích là dīgha-m-antaraṃ.

[251]. Chú giải Se Be giải thích là vipakkavipākattā c̣n bản văn ghi là vipākattā.

[252]. Xin đọc chú giải S iv 126 để có bài tường thuật về điểm này.

[253]. Bản văn chấm câu không chính xác ở đây và nên sửa lại để giải thích với Be: Papatissa’ āhaṃ ti papatissāmi ahaṃ, Nirayan ti…

[254]. Đoạn kệ cũng giải thích như vậy. Tuy nhiên bản văn (Se) lại trích sai là tejasāyuttāa (tejasāyutaṃ) ở đây bà chú thích samāyuttāa jālā (samāyuttālaṃ) trong khi đó Be giải thích là tejavāyutā và samāyutajālā tương xứng.

[255]. Chú giải Se Be giải thích là evaṃ pana c̣n bản văn ghi là evaṃ puna.

[256]. Bản văn đă in sai ở đây thành sabbada.

[257]. Chú giải Be giải thích là eva c̣n bản văn ghi là evaṃ.