NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 CHÚ GIẢI  

CHUYỆN NGẠ QỦI

(Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                    PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:              Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I.3 Chú giải chuyện ngạ quỉ MIỆNG THỐI
[Pūtimukhapetavatthuvaṇṇani]

‘Nhà ngươi có nước da đẹp như Chư Thiên”. Vị Đạo sư thuật lại chuyện kể này khi ngài đang lưu lại tại nơi cho Sóc ăn trong khu Rừng Trúc liên quan đến một ngạ quỉ có miệng thối.

Người ta kể lại rằng cách đây đă lâu, vào thời Đức Thế Tôn Kassapa có hai thanh niên thuộc gia đ́nh danh giá, đă xuất gia theo Giáo Pháp của Đức Thế Tôn, tu luyện được đầy đủ phẩm hạnh tốt, sống cuộc đời khổ hạnh và trú ngụ chung với nhau rất ḥa nhă trong một ngôi làng kia. Thế rồi một tỳ khưu, có xu hướng theo ác nghiệp và thích đâm thọc, đă tới nơi cư trú của hai vị. Hai trưởng lăo đă tiếp đón vị tỳ khưu hết sức thân thiện và lo liệu cho tỳ khưu nơi ăn chốn ở. Ngày hôm sau họ vào ngôi làng với tỳ khưu đó để kiếm vật thực. Khi họ nh́n thấy ba chúng sanh trong làng tỏ ḷng kính lễ với ba vị trưởng lăo và thiết đăi họ một bữa tiệc có cơm dẻo v.v... Khi vị tỳ khưu quay trở lại thiền viện nghĩ rằng, ‘Ngôi làng này là nguồn cung cấp vật thực thật hấp dẫn, v́ cư dân trong làng có niềm tin mạnh mẽ và đang bố thí cho họ vật thực tuyệt nhất. C̣n thiền viện là nơi mát mẻ và có đầy đủ nước. Ta có thể ngụ tại đây rất hạnh phúc; nhưng chừng nào hai vị tỳ khưu c̣n tiếp tục cư ngụ tại đây th́ thiền viện này sẽ không là nơi cư trú thoải mái. - Ta sẽ sống cuộc đời một đồ đệ thường trú trong thiền viện thôi. Thôi được rồi, ta phải làm cho họ xa ĺa nhau và hành động thế nào để hai người không muốn cư trú tại đây nữa.’

Một ngày kia, khi vị trưởng lăo cao niên hơn đă huấn giáo cho hai vị kia,[59] vị tỳ khưu hay đâm thọc liền đi đến nơi cư trú của ḿnh và lưu lại đó một thời gian ngắn và rồi đi lại gặp vị trưởng lăo cao niên và hỏi ngài, “Hỡi chư huynh kính mến, sau ngài lại đến đây vào thời điểm không thích hợp thế?’ ‘Dạ thưa ngài tôi có đôi điều cần tŕnh bày với ngài’ (tỳ khưu đáp lại’) và khi vị trưởng lăo đă đồng ư cho phép tỳ khưu tŕnh bày, vị đó nói, ‘Thưa ngài, trưởng lăo [13] bạn của ngài chỉ khoe ḿnh là bạn của ngài truớc mặt ngài mà thôi, c̣n sau lưng ngài vị ấy nói xấu ngài như kẻ thù vậy. Khi hỏi làm sao có chuyện đó xẩy ra, vị tỳ khưu đáp lại nói rằng, “ Thưa ngài, xin nghe đây, vị ấy nói tới điều tai tiếng của ngài rằng, ‘trưởng lăo là người không chân thật, gian dối và xảo quyệt, ngài đă kiếm sống một cách bất chính” ‘Hỡi chư huynh, xin đừng nói kiểu đó, tỳ khưu này đâu có bịa chuyện về tôi như vậy, chúng tôi biết tính nhau ngay khi c̣n là người đời. - Tôi luôn tỏ ra khả ái và dễ thương.’ ‘ Nếu ngài có suy nghĩ như vậy do ḷng tốt và thanh tịnh của ngài th́ tùy ngài thôi, nhưng tôi đâu có ác cảm với ngài, v́ lư ǵ tôi phải nói như vậy nếu như tỳ khưu đó không nói điều đó’. Nhưng trưởng lăo sẽ nhận thấy điều đó sau một thời gian.’ Tỳ khưu đó nói. Nhưng vị trưởng lăo đó, do vẫn c̣n là một thiện nam[60], đă bị xúc động nói rằng, “Liệu có đúng như lời ngài nói chăng?’ và nghi ngờ đă nổi lên trong tâm trưởng lăo cao niên, niền tin của ngài nơi người bạn đă lung lay đôi chút. Sau khi đă ly gián vị trưởng lăo cao niên, kẻ điên rồ kia cũng đă biến vị trưởng lăo c̣n lại rơi vào t́nh huống tương tự như đă nói ở trên. Vào ngày hôm sau, chẳng có vị nào nói với nhau một lời khi họ lấy áo cà sa, bát khất thực và đi vào ngôi làng khất thực. Khi họ đem vật thí trở về nhà, mỗi người dùng bữa trong pḥng riêng của ḿnh, không tỏ ra mảy may một lời xă giao với nhau, cho dù chỉ một lời nhỏ nhất và họ đă trải qua cả ngày trong pḥng riêng, trong khi đó vào ngày hôm sau khi vừa sáng tinh sương mỗi người đều ra đi đến bất kỳ nơi đâu họ cảm thấy thuận tiện mà không thông báo ǵ cho nhau. Khi họ nh́n thấy tỳ khưu không chân thật cũng đi vào ngôi làng đó do đă được toại nguyện trong khi đi khất thực. Dân chúng liền hỏi,‘ Thưa ngài, hai vị trưởng lăo kia đâu?’ ‘Họ đă căi nhau suốt đêm, ta đă bảo họ đừng có căi nhau và sống ḥa thuận với nhau v́ căi cọ sẽ dẫn đến bất hạnh, sẽ đem lại buồn khổ trong tương lai và tạo ra ác nghiệp, hơn nữa rất nhiều lợi ích, rất nhiều công ích đă thực hiện được sẽ trở thành vô ích[61] do căi cọ nhau mà ra.- v.v... nhưng họ đă ra đi mà không nghe lời ta.’ Nghe thấy vậy dân chúng cầu khẩn, ‘Cứ để cho hai vị trưởng lăo đó ra đi nếu họ muốn làm thế’ nhưng ngài phải lưu lại tại đây v́ thương xót chúng tôi. Ngài sẽ không phải hối tiếc ǵ cả!’ ‘Tốt lắm, vị tỳ khưu đó đồng ư.[62] Khi vị tỳ khưu lưu lại đó trong ṿng vài ba ngày, vị đó suy nghĩ, “Ta đă khiến cho các tỳ khưu đó bất hoà với nhau, họ là những người có giới đức và dễ thương do ḷng tham lam của ta muốn lưu lại đây, chắc hẳn ta đă làm một điều xấu xa!’ [14] do phải chịu đựng lương tâm dầy ṿ với sầu khổ cùng cực, vị tỳ khưu đó đă chết không lâu sau đó và đă tái sanh trong hỏa ngục Avici[63]

C̣n hai vị trưởng lăo là bạn với nhau, đi lang thang trong vương quốc đó, khi đă gặp nhau tại một trú xứ nào đó và trao đổi lời chào hỏi chân t́nh với nhau, họ thông báo cho nhau những lời ly gián vị tỳ khưu kia đă nói và khi họ nhận ra rằng không có sự thật trong đó và họ lại trở nên hoà nhă trở lại và quay trở lại nơi trú xứ trước kia. Khi dân chúng nhận ra hai vị trưởng lăo họ quá vui mừng và tràn đầy sung sướng, đă thiết đăi hai vị với đủ mọi thứ thiết yếu. Hai vị lưu lại đó và được cung cấp đủ thực phẩm cần thiết và đă tu luyện và phát triển tuệ quán do tập trung chú tâm nhập định; không lâu sau họ đă chứng đắc A-la-hán.

C̣n tỳ khưu không chân thật kia đă bị nướng trong hoa ngục trong suốt một Phật kỳ và tái sanh trong Phật kỳ đó không cách xa thành Rājagala là bao, trở thành một ngạ quỉ với miệng thối khủng khiếp. Thân xác ngạ quỉ có màu sắc vàng óng nhưng ḍi bọ lại ḅ ra từ miệng và đă huỷ hoại bộ mặt của ngài. Ngài c̣n toát ra mùi hôi thối toả khắp nơi trong không khí. Giờ đây khi trưởng lăo Nārada đi từ núi Kền Kền xuống ngài đă nh́n thấy tỳ khưu và hỏi về ác nghiệp vị này đă làm với đoạn kệ sau.

1.      “Nhà ngươi có nước da đẹp và láng bóng như chư Thiên, nhưng khi ngài lưu lại trên không trung, ḍi bọ đang rửa lỗ miệng hôi thối của ngươi. Ngài đă thực hiện ác nghiệp ǵ trong quá khứ vậy?’[64]

1. Về điểm này thiên giới (dibbaṃ) (thường có nghĩa là): có bản chất thiên giới. Sau khi đă đạt đến hiện trạng thiên giới; Tuy nhiên ở đây “thiên giới” (có nghĩa là) giống như chư Thiên.’[65] Mỹ miều (subbaṃ): toả sáng hay trong điều kiện tuyệt hảo. Làn da (vaṇṇadhātuṃ): là màu của làn da. Ngài có được (dhāresi): ngài mang (làn da). Khi ngài lưu lại trên không trung, trên trời (vehāyasan tiṭṭhasi antalikkhe): nhà ngươi lưu lại trên không, có thể nói là lưu lại trên trời. Tuy nhiên một số người cho rằng, cách giải thích phải là vihāyan riṭṭhasi antalikkhe và cho rằng đây chính là ư nghĩa là những lời lẽ c̣n lại của ngài là: nhà ngươi đang lưu lại trên không trung toả sáng[66] cả một vùng bầu trời. [15] hôi thối (pūrigandhaṃ): có mùi hôi thối của xác chết đang thối rữa, ư nghĩa ở đây là hôi thối khủng khiếp. Ngài là làm ác nghiệp ǵ trong quá khứ? (kiṃ kammaṃ akāsi pubbe): ngài hỏi. “Ḍi bọ đang rỉa rói miệng hôi thối của ngài tuy vậy thân xác ngài có màu vàng óng. Ngài đă thực hiện loại ác nghiệp nào trong quá khứ, là nguyên nhân cho h́nh dạng này vậy?”

Khi vị trưởng lăo đă gạn hỏi về hành vi ngài đă thực hiện trong quá khứ, ngạ quỉ đó đă thốt lên đoạn kệ để giải thích vấn đề như sau:

2. “Ta đă là một người bất lương là một sa môn có miệng lưỡi xấu xa; tuy nhiên lại giả vờ là một sa môn. Ta đă không kiềm chế miệng lưỡi. Thông qua việc tu luyện khổ hạnh ta đă nhận được làn da này và do tính t́nh không chân thật ta phải nhận miệng lưỡi hôi thối thế đó.

2. Về điểm này ta đă là một sa môn bất lương (samaṇo ahaṃ pāpo): ta đă là một sa mônti tiện, một tỳ khưu bất lương. Miệng lưỡi hôi thối (duṭṭhavaco): lời nói bẩn thỉu; ta đă xát phạt kẻ khác. Ta đă đi quá trớn với miệng của ta, nghĩa là ta người đă dùng lời nói mà hạ thấp giới đức của kẻ khác. Một cách giải thích khác đó là miệng lưới hết sức thối tha (atiduṭṭhavāco) : nói những lời rất thô kệch, rất thích ác hạnh bằng lời nói như thể nói dối và không chân thật v.v... giả dạng là một sa môn(tapassīrūpo): giả dạng là một ẩn sĩ. Trong miệng (mukhasā=mukhena (một dạng ngữ pháp khác). Đă nhận được (laddhā): chiếm được; từ ‘và’ (cā) có nghĩa là một liên quan đến. [67] ta: me=mayā (một dạng ngữ pháp khác). Nhờ tu luyện khổ hạnh (tapasā): bằng những việc tu luyện khổ hạnh. Do lời nói độc địa (pesuniyena): qua lời nói ma rănh. Hôi thối (puti): mùi hôi thối.

Khi ngạ quỉ đó đă tường tŕnh hành vi xấu xa đă thực hiện, thế rồi thốt lên đoạn kệ cổ vũ trưởng lăo kết thúc như sau.

3. Hỡi Nārada, chính mắt ngài đă chứng kiến điều này. Những kẻ nào có ḷng thương xót và có tâm địa thiện sẽ phải thốt lên, “Chẳng phải do không chân thật cũng như nói dối – thế rồi nhà ngươi sẽ trở thành một dạ xoa mà toại nguyện được toàn bộ ước muốn của ngươi.”

3. [16] Về điểm này đây là (tayidaṃ): bộ mặt của ta. những kẻ nào có ḷng từ bi thương xót và những kẻ nào có tâm địa thiện có thể thốt lên lời (anukampakā ye kusalā vadeyyum): những kẻ nào với bản chất từ tâm hay thương xót và hành động giỏi giang nhằm đem lại lợi ích cho tha nhân, tương tự như Đức Phật v.v... sẽ chỉ nói như điều ta đang nói đây - đây là ư nghĩa cho thấy lời động viên ngạ quỉ nói ra, ‘Chẳng phải với tâm địa không chân thật và nói lời dối trá – thế rồi nhà ngươi sẽ trở thành một yêu tinh dạ xoa với toàn bộ ước nguyện đă được toại nguyện’. Đó chính là ư nghĩa: chẳng phải với lời nói phỉ báng hay nói dối hay thốt lên lời nói dối trá: nếu nhà người từ bỏ không nói dối và những lời nói xảo quyệt và rồi sẽ nhà ngươi sẽ kiềm chế được lời nói, th́ nhà ngươi sẽ trở thành dạ xoa hay chư thiên hay một trong số đoàn tuỳ tùng của chư thiên[68]. Sau khi đă đoạt đến được dung nhân thần tiên và bất luận ước muốn nào nhà ngươi mong muốn[69]nhà ngươi có thể lui tới đây kia (tuỳ thích) và có bản chất được tự hưởng bằng cách thỏa măn cảm thọ như ư muốn.

Khi ngài trưởng lăo nghe được những điều này, ngài đă tiến về thành Rājagaha để kiếm vật thực. Khi quay trở về nhà sau cuộc khất thực và sau bữa ăn ngài đă nêu vấn đề với Đức Phật. Vị Đạo sư coi đó là nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp, giáo lư đó đă đem lại lợi ích cho các nhóm người đang tụ tập tại đó.

 

-ooOoo-

 

[59]  Chú giải Se Be giải thích là dvinnaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dinnaṃ.

[60]. Người nào chưa chứng đắc bất kỳ tứ chánh đạo siêu thế nào nơi bậc Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán, và chính v́ thế, không giống như người đồ đệ thánh không chứng đắc quán tuệ nơi tứ diệu đế do Nhăn Pháp đem lại.

[61]. Chú giải Se Be giải thích là paribhaṭṭhā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là parihaṭṭhā. Ngài Gehman ở đây giải thích là đă được ‘vui sướng’ nhưng ư nghĩa h́nh như là nhiều hiện trạng thiện thích hợp ta đă vun sới, tu luyện, kể cả an tịnh, đă nhanh chóng biến mất.

[62]. Chú giải Se Be giải thích là paṭissuṇitvā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paṭisuṇitvā.

[63]. Có nghĩa là, nơi đại địa ngục có cùng tên.

[64]. Xin đọc chú giải III 101 .

[65]. Xin đọc chú giải PvA 110.

[66]. Chú giải Se Be giải thích là obhāsento c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là abhāsento; vehāyasaṃ ở thể đối cách nhưng h́nh như có nghĩa tặng cách và như vậy cách giải thích khác này gợi ư là đối cách ở dạng biến cách nơi một danh tự v́ phù hợp với động tự bị bỏ qua hay hiểu ngầm.

[67]. Xin đọc chú giải Thanh Tịnh Đạo tr. 165 n. 42.

[68] Yakkho vā devññataro vā; cách phân biệt chính xác từ này là deva, devaputta và devaññatara vẫn c̣n cần thiết để phân tích ở đây.

[69]. Chú giải Be giải thích là kāmitabbaṃ (Se kamitabbaṃ) c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là kāmi kaññaṃ.