NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

 CHÚ GIẢI  

CHUYỆN NGẠ QỦI

(Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.2 Chú giải chuyện ngạ quỉ MẸ XÁ LỢI PHẤT
[Sāriputtattheramātupetivatthuvaṇṇanā]
[67]

‘‘Nhà ngươi loả lồ và có diện mạo kinh dị.’ Đạo sư thuật lại chuyện kể này khi ngài c̣n đang lưu lại trong Khu Rừng Trúc liên quan đến một nữ ngạ quỉ đă từng làm mẹ Trưởng lăo Sāriputta bốn kiếp trước.

Một hôm Trưởng lăo Sāriputta, trưởng lăo Mahāmoggallāna, trưởng lăo Anuruddha và trưởng lăo Kappina c̣n đang lưu lại trong một cánh rừng hoang không xa thành Rājagaha là bao. Lúc bấy giờ trong hành Bernares có một vị Bà la môn rất giàu, có rất nhiều của cải, vàng bạc chất đầy kho. Ông ta hay bố thí vật thực, thức uống, y phục và giường chiếu v.v... cho các vị sa môn, các vị Bà la môn, những người nghèo khổ, những kẻ lang thang[68], những người đi đường xa, và những kẻ ăn xin, giống như một cái giếng lúc nào cũng sẵn nước. Ông ta bố thí cho các đạo giới A-la-hán theo đúng nhu cầu[69] của các ngài, dự trữ một số lượng vật thí bao gồm đủ mọi thứ cần thiết để bố thí chẳng hạn như nước rửa chân, dầu xức để thoa chân v.v... [70]cũng như để phục vụ và hộ độ các tỳ khưu hết mức với đồ ăn thức uống v.v... trong bữa ăn sáng. Khi phải đi đến các vùng xa, ông thường bảo vợ rằng, “Em yêu, hăy tiếp tục thực hiện chăm sóc chu đáo dưới dạng bố thí này như ta đă sắp xếp, không được để công việc đ́nh trệ.’ ‘Vâng ạ’ nàng đồng ư[71] nhưng khi ông đă ra khỏi nhà nàng chấm dứt công việc bố thí ông đă dàn xếp cho các tỳ khưu. Nàng đă chỉ cho những kẻ đi đường xa đến để xin nơi tạm trú một cái láng cũ kỹ đă bị bỏ[72] hoang lâu ngày ở đàng sau nhà, nói rằng, ‘Các ngài có thể lưu lại ở đây’, trong khi những khách bộ hành đến gặp bà để xin đồ ăn thức uống v.v... bà nói với họ, ‘hăy ăn phẩn, uống nước đái và máu; hăy lấy óc năo mẹ các ngươi mà ăn!’ và nguyền rủa họ bằng bất kỳ những lời nhơ nhuốc và ghê tởm.

Đến đúng thời gian đă ấn định, bà ta qua đời và sức mạnh những hành vi bà đă thực hiện đă kéo bà đi và tái sanh nơi cơi ngạ quỉ. chịu những thống khổ khốn nạn tương ứng với những ác hạnh bà đă làm qua khẩu. [79] Khi nhớ lại những tương quan nơi kiếp trước và ước ao đến trước sự hiện diện của trưởng lăo Sāriputta, ngạ quỉ đă đến một thiền viện[73] nhưng vị thần chư thiên canh cổng đă từ chối không cho nàng vào thiền viện. Người ta kể lại rằng nữ ngạ quỉ là mẹ của trưởng lăo Sāriputta bốn kiếp trước. Chính v́ thế bà ta nói rằng, ‘Trong bốn kiếp trước ta đă làm mẹ của ngài trưởng lăo Sāriputta, làm ơn cho ta đi qua cổng để đến gặp vị trưởng lăo.’ Khi họ nghe điều này, các chư thiên canh gác liền chấp nhận cho bà vào. Khi bà vào được bên trong, bà dừng lại ngay cuối lối đi[74] và hiện nguyên h́nh cho vị trưởng lăo. Khi vị trưởng lăo nh́n thấy bà, tâm can trưởng lăo rộ lên ḷng bi mẫn và đă chất vấn bà bằng đoạn kệ sau:

1.      ‘Nhà ngươi loả lồ và có diện mạo gướm giếc, gầy g̣ với những đường gân hiện rơ, bà là người gầy g̣ ốm yếu, xương sườn hiện ra, giờ đây, bà là ai mà đứng trân người ra như vậy.

Khi trưởng lăo hỏi như vậy, bà liền trả lời bằng cách thốt lên năm đoạn kệ như sau:

2.      ‘Ta đă là mẹ nhà ngươi nơi các kiếp trước nhưng giờ đây ta đă phải tái sanh nơi cơi Ngạ Quỉ. Phải chịu đói chịu khát.

3.      Những thứ bỏ đi, nhữug đồ nôn nhổ ra, nước miếng nước mũi, đờm, mỡ nơi những xác chết bị thiêu và máu những người đàn bà đẻ.

4.      Và máu mủ từ những vết thương và những thứ chảy ra từ mũi và đầu những bẻ bị xử trảm - do bị đói ta đă phải ăn cả những ǵ dính dấp đến đàn ông hay đàn bà nữa.

5.      Ta ăn cả máu mủ của đoàn gia súc[75] và thân ḿnh chẳng có ǵ che thân và không có nhà cửa[76]và phải nằm trên chiếc giường than đen thui thủi.

6.      Này con yêu, hăy bố thí cho mẹ một vật thí và khi con đă bố thí vật đó xin hồi hướng thí phước đó cho mẹ - chắc chắn mẹ sẽ được giải thoát khỏi cảnh phải uống máu ăn mủ nữa.

2. Về điểm này Ta chính là mẹ của nhà ngươi (ahan te sakiyā mātā): ta chính là mẹ của ngươi đă sanh con ra trên cơi đời này. Nơi các kiếp trước (pubbe aññasu jātisu): cho dù là mẹ của ngươi, ta không phải thuộc kiếp này nhưng ở những kiếp trước, trong kiếp trước cách đây bốn kiếp. – đây là cách ta nên hiểu. Nhưng hiện nay ta phải đầu thai nơi cơi Ngạ quỉ (uppannā pettivisayaṃ): nhưng hiện nay ta đă xuất hiện nơi cơi ngạ quỉ thông qua tái sanh. [80] Chịu đói chịu khát (khuppipāsāmappitā): bị hành hạ do đói khát, có nghĩa là bị đói khát hành hạ do ước muốn được ăn uống khôn nguôi.

3. Đồ bị vứt bỏ (chaḍḍitaṃ): thứ bị thải ra, có nghĩa là những thứ được nôn mửa ra.[77] Đồ khác nhổ ra (khipitaṃ): những thứ ô uế từ miệng thoát ra bằng khạc nhổ. Nước miếng (khelaṃ): nước miếng. Nước mũi (siṅghāṇikaṃ): những thứ ô uế từ mũi thải ra sau khi đă chảy từ năo xuống. Đờm: silesumaṃ=semhaṃ (dạng ngữ pháp chuyển đổi)[78]. Mỡ những xác chết bị thiêu trên dàn thiêu (vasañ ca dayhamānānām) những mỡ và dầu của những xác chết được thiêu trên giàn thiêu hoả táng. Và máu mủ từ những phụ nữ chuyển dạ. (vijātānañ c lohitaṃ): và máu của các phụ nữ chuyển dạ sanh con; những thứ ô uế từ tử cung gồm cả từ ‘và’.

4. Từ những vết thương (vaṇitānaṃ): từ những vết thương toát ra. Thứ đó (yaṃ): máu – đây là từ có liên quan đến máu. Từ những chiếc đầu và mũi bị cắt. (ghānasīsacchinnā,) ta phải uống máu từ những chiếc đầu và mũi bị chặt, đây là điều phải phân tích ra sao. ‘Từ những chiếc đầu và mũi bị cắt’ chính là một tiêu đề để giải thích thêm nữa. V́ ta cũng phải uống máu từ những tay chân v.v... máu[79] từ những chỗ này cũng có thể được coi như gồm trong cách diễn tả “từ những vết thương”. Phải giày ṿ v́ đói khát (khudāparetā): bị giày ṿ do ước muốn được ăn. Những điều gắn với đàn ông và đàn bà (itthipurisanissitaṃ): điều này cho thấy bà phải ăn cả những ǵ gắn kết với thân xác của đàn ông và đàn bà. Như đă nói đến ở trên và nhiều điều khác[80] nữa như thể da, thịt, gân và mủ v.v...

5. Của cả súc vật (pasūnam): như dê, ḅ, trâu v.v... [81] Không có nơi trú thân (alenā): không có nơi nương tựa. Không có nhà (anagārā). Không có một nơi ở. Nằm nghỉ trên đống than (nīlamañcapārayanā): nằm trên giường đầy những ô uế. Đă bị vứt bỏ[82] nơi nghĩa trang. Với tro và than hồng. Hay nói cách khác ‘đen’ (nīla) ám chỉ băi tha ma với tro và than, có nghĩa là nằm trên những thứ đó mà lại cho là giường.

6. Hăy hồi hướng đến cho mẹ (anvādisāhi me): xin cho của thí và rồi hồi hướng cho mẹ làm như vậy th́ phứơc thí đă được bố thí sẽ đem lại lợi ích cho mẹ[83] Chắc chắn rằng mẹ sẽ được giải thoát khỏi phải ăn máu mủ (app’eva nāmā munceyyaṃ pubbalohitabbojanā): chắc chắn mẹ sẽ được giải thoát khỏi cuộc sống này như là một ngạ quỉ phải uống máu mủ nhờ vào của thí con đă thực hiện.

Khi Trưởng lăo nghe điều này, ngay ngày hôm sau trưởng lăo Sāriputta liền bàn bạc với ba truởng lăo khác, có nghĩa là trưởng lăo Mục Kiền Liên (Mahāmoggallana) v.v... và cùng đi với họ [81] đến thành Rajahala để khất thực, và vào nơi ở của nhà vua Bimbisara. Khi nhà vua nh́n thấy vị trưởng lăo, nhà vua đă đảnh lễ ngài và hỏi xem v́ lư do ǵ ngài đến thăm, nói rằng, ‘Ngài đến thăm trẫm nhằm mục đích ǵ, thưa trưởng lăo?’ Trưỏng lăo Mahāmoggallāna thông báo cho nhà vua biết biến cố vừa xảy ra, nhà vua bảo,“Trẫm cho phép các ngài đó.’ Rồi tiễn các ngài trưởng lăo. Nhà vua cho điều vị thừa tướng phụ trách mọi việc và ra lệnh, ‘ Hăy cho dựng bốn cái cốc gần thành phố trong khu rừng có bóng mát và nước.’ Nhà vua phân đám thợ nội thành[84] làm ba nhóm theo đúng ngành nghề chuyên môn của họ truyền cho lợp mái bốn cốc[85] và chính ḿnh lại nơi đó thực hiện nốt những ǵ cần làm. Khi các cốc đă hoàn tất, nhà vua truyền thu gom vật thực[86] sửa soạn toàn bộ những đồ thiết yếu[87] như vật thực, đồ ăn thức uống và y phục v.v... sẵn sàng dành để bố thí cho các tăng đoàn các tỳ khưu với Đức Phật dẫn đầu và rồi chuyển toàn bộ những thứ đó đến tay vị trưởng lăo Sāriputta vị trưởng lăo đă bố thí tất cả những thứ đó nhân danh nữ ngạ quỉ cho tăng đoàn các tỳ khưu từ khắp tứ phương[88] tới có Đức Phật đứng đầu. Vị nữ ngạ quỉ tỏ ḷng ngưỡng mộ đối với vị ấy và được tái sanh nơi Cơi Phạm Thiên, có đầy đủ những ǵ nàng khao khát. Vào ngày hôm sau nàng đến gặp vị trưởng lăo cao niên là Mục Kiền Liên (Mahāmoggallana), đảnh lễ ngài và rồi lưu lại một lúc, Trưởng lăo hỏi nàng và nàng đă trả lời ngài chi tiết làm thế nào nàng đă phải tái sanh thành ngạ quỉ và trở thành devi như thế nào. V́ lư do đó có lời nói rằng:

7.      Khi ngài đă nghe được điều mẹ ḿnh nói, Upatissa[89] đầy ḷng thương xót, liền tham khảo với Moggallana, Anuruddha và Kappina.

8.      Nhà vua đă truyền cho xây bốn cốc[90] và đă giao cốc đó cùng với vật thực và đồ uống cho Tăng Đoàn từ khắp tứ phương. Và rồi hồi hướng của thí đó cho mẹ ngài.

9.      Ngay sau khi hồi hướng của thí đó th́ kết quả đă xuất hiện gồm vật thực, thức uống và y phục từ kết quả việc bố thí đó mà ra.

10.  Ngay sau đó nàng đă trở nên thanh tịnh, mặc những y phục sáng láng, c̣n sạch sẽ hơn cả vải lựa dành cho Kasi và c̣n được trang sức với nhiều y phục khác nhau và đồ trang sức, nàng tiến lại gặp trương lăo Kolita.’[91]

Về điểm này vị ấy đă cho các tăng đoàn khắp tứ phương qui tụ lại (saṅghe cātuddhise adā=cātuddissa saṅghassa adāsi (thể ngữ pháp hồi chuyển), có nghĩa là ngài chuyển xuống cho họ.

[82] Điều c̣n lại giống như ư nghĩa đă được khẳng định ở trên. Thế rồi vị trưởng lăo Mục Kiền Liên (Mahāmoggallana) liền hỏi nữ ngạ quỉ;

11.  Hỡi devata, ngươi là ai lại đang đứng đó với sắc đẹp tuyệt trần đến vậy, chiếu sáng khắp tứ phương giống như Dược Vương tinh vậy,

12.  Do đâu nàng có được sắc đẹp kiều diễm đến thế? Do đâu nàng đă đạt đến được những thành tựu như vậy và làm sao nàng đă đạt được những cảm khoái như ḷng nàng hằng mơ ước.

13.  Hỡi devi đầy uy lực, ta hỏi ngươi do phước báu nào nhà ngươi đă thực hiện khi c̣n đang lưu lại tại kiếp người? Do đâu mà oai lực của nàng toả sáng như vậy và vẻ kiều diễm của nàng chiếu toả khắp tứ phương thiên hạ?

Thế rồi nàng trả lời, nói rằng, ‘ Ta chính là mẹ của Trưởng lăo Sāriputta[92] v.v...

Những điều c̣n lại cũng có ư nghĩa như đă được khẳng định ở trên.

Thế rồi vị trưởng lăo Mahāmoggallāna đă nêu vấn đề này với Đức Phật, ngài liền coi vấn đề này như là nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho đám đông đang tụ tập tại đó. Việc giảng giải Phật Pháp đă đem lại lợi ích cho toàn thể những người đó.

 

-ooOoo-

 

[67] Chú giải Be cũng giải thích như vậy c̣n bản văn Se ghi là Sāriputtattherassa Matu-

[68]. Chú giải Se Be giải thích là –kapaṇaddhika- c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là –kapaniddhika-

[69]. Chú giải Se Be giải thích là yathārahaṃ c̣n bản văn ghi là yathā rahaṃ.

[70]. Be giải thích là pādodakapādabbhañjanādidānānupubbakaṃ sabbābhideyyaṃ (= Se) c̣n bản văn giải thích là pānadakapādabbhañjanādidānaṃ anupubbakaṃ sabbapātheyyaṃ.

[71]. Chú giải Se Be giải thích là paṭissuṇitvā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là paṭisuṇitvā.

[72]. Chú giải Se Be giải thích là chaḍḍitaṃ c̣n bản văn ghi là paṭisuṇitvā.

[73]. Thiền viện này rất có thể nằm trong khu rừng vắng vẻ mà trước đó ngài đă trụ tŕ trong đó.

[74]. caṅkamanakoṭiyaṃ, một khoảng đất trống trên đó ta có thể bước tới bước lui khi hành thiền định; xin cũng đọc GS iii 21 n.2

[75]. Chú giải Se Be giải thích là pasūnaṃ c̣n bản văn ghi là pasunaṃ.

[76]. Chú giải Se Be giải thích là anagārā c̣n bản văn ghi là anagara

[77]. Chú giải Se Be giải thích là vantan ti c̣n bản văn ghi là vantan īi

[78]. silesuma là một dạng bỏ dấu nơi các từ tái nghịch với nhau semha; xin đọc PED sv silesuma.

[79]. Bản văn đă bắt đầu sai với một câu mới ở đây.

[80]. Chú giải Se Be giải thích là aññañ ca c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là aññañ.

[81]. Xin đoc chú giải II 1312, PvA 166 và AV XI 2 9.

[82]. Chú giải Se Be giải thích là chaḍḍitamalamañcasayanā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là chaḍḍitamalā mañcasayanā.

[83]. Chú giải Se Be giải thích là mayhaṃ upakappati tathā uddhisa pattidānaṃ dehi c̣n bản văn ghi là mayhaṃ uddissa paṭidānaṃ dehi.

[84]. Antepure, có đôi khi harem nhưng ở đây h́nh như có rất nhiều những người thợ thủ công nơi hoàng cung hay là trong thành phố.

[85]. Chấp nhận bản văn vl paṭicchāadesi (c̣n tất cả các bản văn khác đều ghi là paṭicchāpesi.

[86]. Barikaraṇaṃ; đây là lễ cúng dường gồm năm loại cả thẩy dành cho những bà con thân thuộc, khách, ngạ quỉ, vua chúa và các devatas có thể t́m thấy được trong Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 68 (xin đọc Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 45)

[87]. Parikkhāre; có nhiều loại cúng dường thoạt tiên gồm bốn loại. Tức là, y phục, vật thực, giường và ghế ngồi., và thuốc chữa bệnh th́ thường gặp thấy xuyên suốt bản văn này. xin đọc Chú giải PED sv.

[88]. Những vật thí có thể cúng cho các tỳ khưu theo một trong hai cách, hoặc là cho chính cá nhân vị tỳ khưu dành cho cá nhân ngài sử dụng hay cho một tỳ khưu hay các tỳ khưu nhân danh Tăng Đoàn. Trong trường hợp thứ hai th́ vật thí đó trở thành sanghika hay là tái sản của tăng đoàn và không thể cá nhân tỳ khưu nào được định đoạn sử dụng. Khi một tỳ khưu muốn tặng một vật ǵ đó khi đến thăm một đạo hữu th́ ngài cũng khẳng định là như thế đây không phải tài sản của tăng đoàn ám chỉ đây là tài sản riêng của người đó và được tài phán theo ư ngài muốn. Xin đọc Vin I 250 trong đó hai phương pháp này được phân biệt rành rơi cũng chú giải II 325. III 2 10, 14.xin cũng đọc S Dutt, Early Buddhist Manachism. 1960. tr 57 tt. Phước thí có được thông qua vật thí cho Tăng đoàn nơi khắp tứ phương thiên hạ có thể được hy vọng vượt quá chiếm được vật thí cho cá nhân ngay cả bố thí cho các vị A-la-hán. Tuy nhiên, trên cơ sở nguyên tắc được đưa ra trong Trung Bộ Kinh (M) I 236tt. h́nh như phước thí Bimbisāra có được h́nh như là một của thí cho cá nhân Saruputta mà thôi trong khi phứơc thí đó do Sāriputta mang lại đă được hồi hướng cho ngạ quỉ lại là của thí dành cho tăng đoàn và như vậy được coi trọng hơn nhiều.

[89]. Tên cá nhân của Sāriputta ( Trung Bộ Kinh (M) I 150) và theo một số bài tường tŕnh cũng là tên của ngôi làng đó.

[90]. Catasso kuṭiyo katvā. h́nh như đă thuyết phục nhà vua thực hiện điều này nhân danh chính ngài theo như chuyện kể trên gợi ư, tập chú giải dưới đây không có ư kiến.

[91]. Tên cá nhân của trưởng lăo Mục Kiền Liên (Mahāmoggallana) theo tên của một ngôi làng của ngài, đoạn kệ này được t́m thấy trong Se và Be cũng như bản văn của chúng ta cũng gợi ư.

[92]. Cách tŕnh bày văn từ ở đây cho thấy nguyên thuỷ có rất nhiều đoạn kệ nhằm để trả lời cho những câu hỏi được nêu lên trong các đoạn kệ vv 12-13 trong khi đó cả bản văn của ta hay Chú giải Be Se có những đoạn kệ đó. Hardy đă tra thêm hai MSS và lại thêm một đoạn kệ nữa.

Qua phước thí của vị Sāriputta ta được hưởng, chẳng c̣n điều ǵ phải sợ nơi khắp tứ phương thiên hạ. Thưa ngài ta đến đảnh lễ vị Đại Hiền tro giàu ḷng từ bi quảng đại dành cho cơi trần gian này. (Sāriputtassa dānena modāmi akutobhayā muniṃ kāruṇikaṃ loke taṃ bhaddante vanditum āgatā ti).

và một trong số những MSS này, h́nh như được chèn vào sau đoạn v 13 và trước đoạn kệ thêm vào này, là đoạn nhắc lại các đoạn vv 2-5 ở trên nhưng chỉ trừ “ta đă là mẹ của ngươi trong tiền kiếp” (ahan ta sakiyā mātā) rất giống với đoạn “ta là mẹ của Sāriputta” (Sāriputta sā mātā) h́nh như chính ngài Dhammapāla đă trích tại đây. (xin đọc JPTS 1904- 5 tr 149 và Pv)