NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

     CHÚ GIẢI  

  CHUYỆN NGẠ QỦI

   (Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.10 Chú giải chuyện ngạ quỉ MẸ UTTARA
[Uttaramātupetavatthuvaṇṇanā]

“ Một tỳ khưu đă đi nghỉ trưa’ Đây là chuyện kể về Uất Đa La Chuyện Ngạ quỉ. Đây là phần giải thích[364] ư nghĩa chuyện kể này.

Khi Đại hội Kiết Tập Tam Tạng đă được tổ chức ngay tại nơi Đức Phật nhập vô dư níp bàn, trưởng lăo Maha-kaccayana [141] đang lưu lại cùng với mười hai tỳ khưu trong một khu rừng nọ không xa thành Kosambi là bao. Bấy giờ vào thời đó có một vị cố vấn đặc biệt cho nhà vua Udena đă qua đời, vị này trước đó đă coi việc trong thành phố. Chính v́ thế nhà vua đă sai hoàng tử của ḿnh, một thanh niên tên là Uttara và cắt cử hoàng tử vào chức vụ điều hành nói rằng, ‘Giờ đây con phải trông coi công việc trước kia cha đă phải thực hiện.’ ‘Tốt lắm,’ hoàng tử đồng ư.[365] Một ngày kia hoàng tử đă vào rừng mang theo một số thợ mộc để kiếm cây đem về chỉnh trang lại thành phố. Ngay tại khu rừng đó[366] hoàng tử đă tới nơi cư trú của trưởng lăo Maha-Kaccayana và nh́n thấy trưởng lăo đang ngồi thiền một ḿnh tại đó, chỉ mặc áo cà sa làm bằng giẻ rách lấy từ đống rác gần đó. Đầy ḷng tịnh tín khi nh́n thấy vị trưởng lăo trầm tư một ḿnh, hoàng tử đă đảnh lễ ngài và nói lời chào thân thiện và rồi ngồi xuống bên cạnh ngài. Trưởng lăo giải thích Phật Pháp cho hoàng tử nghe. Khi hoàng tử nghe diễn giải Phật Pháp cậu đă đầy tịnh tín với Tam Bảo[367] và sau khi đă an trú Qui Y Tam Bảo,[368] hoàng tử đă mời Trưởng lăo nói rằng, ‘Thưa ngài, xin dủ ḷng từ bi nhân hậu xin trưởng lăo và các tỳ khưu hăy nhận lời mời của con đến dùng bữa với hoàng gia vào ngày hôm sau.’ Vị trưởng lăo nhận lời trong thinh lặng. Thế rồi hoàng tử rời chỗ đó trở về thành và thông báo cho dân chúng biết, nói rằng, ‘Ta đă mời trưởng lăo đến đây vào ngày mai. Các ngươi cũng nên tới chỗ ta ở, tại đó ta sẽ tổ chức một cuộc bố thí.’ Sáng sớm hôm sau ngài đă cho sửa soạn những đồ ăn chọn lựa nhất gồm đồ ăn cứng và mềm rồi thông báo rằng, “Đă đến giờ” rồi ngài ra ngoài để đón trưởng lăo đang đi đến hoàng cung cùng với mười hai tỳ khưu đồng thời mời họ vào trong nhà trước mặt ngài. Khi trưởng lăo và các tỳ khưu đă an toạ trên chỗ ngồi được bọc bằng vải che thích hợp và đắt tiền nhất, hoàng tử đă kính lễ trưởng lăo với hương, hoa, nhang đèn, rồi ngài cúng dường họ với những vật thực tuyệt nhất. Đầy ḷng tịnh tín với hai tay xếp lại theo kiểu chào anjali[369] hoàng tử đă lắng nghe những lời khen ngợi của họ. Khi trưởng lăo đă ra về ngài đă ngỏ lời khen ngợi v́ bữa ăn quá thịnh soạn dành cho ngài[370] hoàng tử đă lấy bát khất thực và tiễn trưởng lăo rời khỏi thành phố. Sau khi bảo ngài quay trở lại hoàng tử khẩn khoản xin, ‘Thưa ngài, xin hăy thường xuyên đến thăm chúng tôi trong hoàng cung,’ và hoàng tử quay trở lại hoàng cung sau khi được biết trưởng lăo đă nhận lời. Như vậy hoàng tử đă chăm sóc trưởng lăo và đă được an tịnh với những lời động viên khích lệ nơi trưởng lăo.[142] và rồi sau khi đă chứng đắc thánh quả Nhập Lưu, hoàng tử đă cho xây thiền viện và khiến cho toàn thể bà con họ hàng của ngài được an tịnh nơi niềm tin vào giáo lư của Đức Phật. Tuy nhiên mẹ ngài lại có ḷng bị bợn nhơ keo kiệt chiếm lănh, bà đă chửi mắng hoàng tử rằng, ‘Mong rằng những đồ ăn thức uống con đă bố thí cho vị sa môn ngoài ư của mẹ sẽ trở thành máu nơi kiếp sau cho con!’ Tuy nhiên bà cũng đồng ư bỏ ra một cành hoa bằng lông chim công vào ngày đại lễ khánh thành thiền viện. Khi bà qua đời bà đă phải đầu thai vào cơi ngạ quỉ và do quả phước vật thí bằng cái hoa làm bằng lông chim công nên tóc bà trở nên đen và mượt xoắn ở một đầu và mịn và dài. Khi bà xuống tắm trong sông Hằng nghĩ rằng, ‘ Ta sẽ uống’ thế là nước sông trở thành đầy máu. Trong suốt năm mươi lăm năm bà đi lang thang khắp nơi bị đói khát hành hạ. Thế rồi một ngày kia bà nh́n thấy trưởng lăo Kankharevata[371] đang ngồi bên bờ sông Hằng nghỉ trưa nàng tiến lại gặp ngài sau khi đă lấy tóc che thân và cầu khẩn ngài [372] một chút nước. Liên quan đến điều này có mấy đoạn kệ sau đây được thốt lên, hai đoạn kệ này đă được các vị kiết tập Kinh Tạng chèn vào bản kinh như sau:

1.      Nữ ngạ quỉ đó trông thật ghê tởm và khủng khiếp đă tiến lại gặp tỳ khưu đang nghỉ trưa bên bờ sông Hằng.

2.      Tóc nàng dài rất dài và xoă xuống chạm đất, nàng lấy tóc che thân đến nói với vị sa môn như sau’

1. Về điểm này trông thật khủng khiếp (bhīudassanā): trông thật kinh dị, ra vẻ rất giận dữ. Một cách giải thích khác ‘trông giống như Rudra’ (ruddadassanā[373]) có nghĩa là trong thật khủng khiếp và thê thảm.

2. Chạm xuống tới đất: yāva bhummāvalambare = yāva bhūmi tāva olambanti (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài bằng một dạng ngữ pháp hoán chuyển), trước tiên là ‘vị tỳ khưu’ và sau đó là ‘ẩn sĩ’ cả hai cách được nói tới liên quan đến vị trưởng lăo Kandharevata.

Nữ ngạ quỉ tiến lại gặp Trưởng lăo và xin ngài cho nước uống. Thốt lên đoạn kệ sau:

3. ‘Kể từ năm mươi lăm năm từ khi ta qua đời [143] ta chưa bao giờ biết ḿnh đă ăn uống một thứ đồ ăn thức uống nào. Làm ơn ban cho ta chút nước, thưa ngài – ta đă bị khát khô cổ v́ thiếu nước.’

3. Về điểm này Ta chưa bao giờ được biết ḿnh đă ăn (nābhijānāmi bhuttaṃ vā): suốt quăng thời gian dài đến như vậy ta chưa hề biết tới ăn và đă uống thứ ǵ, có nghĩa là ta chưa được ăn uống thứ ǵ vào bụng. Phải khát khô cổ (tasitā): khát nước. V́ thiếu nước (pāniyāya): ‘Thưa ngài, làm ơn cho ta một chút nước, v́ ta đă đi lang thang khắp nơi t́m kiếm nước uống.’ – đây là cách ta phải phân tích.

Từ đây trở đi là những đoạn kệ về cuộc đối thoại giữa trưởng lăo và nữ ngạ quỉ:

4.      ‘Nước lạnh chảy từ Himalaya xuống – nhà ngươi cứ lấy mà uống. Tại sao lại phải xin ta?’

5.      ‘Thưa ngài, nếu ta tự lấy nước từ Sông Hằng th́ nước sẽ biến thành máu. Chính v́ thế ta cầu xin ngài cho ta một chút nước.’

6.      Thế th́ nhà ngươi đă làm ác nghiệp ǵ xấu xa[374]qua thân khẩu hay ư nào? Do kết quả ác nghiệp đó, nước sông Hằng đă biến thành máu đối với nhà ngươi?’

7.      ‘Thưa ngài, Uttara, là con trai ta đă có niềm tin và là chủ gia nhân; nó đă bố thí cho các vị sa mônnào là áo cà sa và vật thực, những nhu cầu thiết yếu và nơi cư trú trái ư ta.

8.      Nhưng, do ḷng bủn xỉn ích kỷ khởi lên ta đă la mắng con ta nói rằng, ‘Mong rằng y cà sa và đồ khất thực, đồ thiết yếu và nơi cư trú con đă tặng cho các sa môn trái ư mẹ.

9.      Kiếp sau sẽ biến thành máu đối với con, hỡi Uttara!’ Chính do kết quả ác nghiệp đó mà nước sông hằng đă biến thành máu đối với ta.’

4. Về điểm này Từ núi Himalaya chảy xuống (Himavantato): Từ vua các dăy núi có tên là “Himalaya’[375] do ngọn núi có quá nhiều tuyết che phủ (himassa). Chảy xuống (sandati): từ đó chảy xuống. Từ đây (etto): từ đây, từ sông Hằng vĩ đại này. Tại sao? (kim): ngài chỉ ra, “V́ lư do ǵ nhà ngươi lại cầu cạnh ta cho nhà ngươi nước uống?’[376] Hăy xuống sông Hằng mà uống bao nhiêu tuỳ hỷ.’

5. [144] Đối với ta nước sông biến thành máu (lohitaṃ me parivattati): V́[377] ác nghiệp ta đă làm mà nước đang chảy đă biến thành máu đối với ta, biến thành, thay đổi thành máu. Nước biến thành máu ngay khi nàng múc nước.

7. Chống lại ư ta (mayhaṃ akāmāya): ngược lại với ư ta, trái ư ta. Ban tặng cho (pavecchati): cho. Những đồ dùng thiết yếu (paccayaṃ): những thứ thiết yếu cho người bệnh.

9. Những thứ này (etaṃ): ‘Mong rằng những đồ dùng thiết yếu này, như y cà sa, v.v... con đă ban tặng cho, con đă cúng dường cho các sa môn- mong rằng những thứ đó sẽ biến thành máu đối với con nơi kiếp sau, hỡi Uttara!’ Đó chính là kết quả của điều này, là hành vi bất thiện ta đă làm bằng lời nguyền rủa này[378] - Ta nên phân tích theo cách này.

Thế rồi Trưởng lăo Revata đă ban một chút nước cho Tăng đoàn các tỳ khưu nhân danh nữ ngạ quỉ, họ đang đi khất thực và cũng ban vật thực ngài đă gôm được cho các vị tỳ khưu. Ngài cũng gôm lại những miếng giẻ rách nơi đống rác v.v... giặt sạch và làm thành nệm thiền và thảm trải nền nhà[379] - ta nên phân tích theo cách này.

Thế rồi vị Trưởng lăo Revata đă ban cho Tăng đoàn một chút nước nhân danh nữ Ngạ Quỉ , họ đang đi khất thực và ngài cũng ban vật thực cho các vị tỳ khưu. Ngài đă gom những miếng giẻ rách v.v... giặt giũ sạch sẽ và làm thành những tấm nệm và thảm trái nền nhà[380]

Và dâng cúng cho các vị tỳ khưu. Và theo cách như vậy nữ ngạ quỉ đă tái sanh nơi Chư Thiên. Nàng đă hiện nguyên h́nh trước mặt trưởng lăo và cho trưởng lăo thấy h́nh tướng chư thiên nàng đă được. C̣n trưởng lăo giải thích vấn đề cho bốn đám đông tụ họp lại quanh ngài, và diễn giảng Phật Pháp cho họ. Tràn ngập xúc động, từ đó chúng sanh đă được giải thoát khỏi vết nhơ bủn xỉn ích kỷ, và chỉ biết hoan hỷ làm việc thiện theo đúng giới đức như thực hiện bố thí chẳng hạn.

Chuyện kể về Chuyện Ngạ quỉ này coi như đă được gôm lại trong bản sưu tập ngay tại Đại Hội lần thứ hai.

 

-ooOoo-

 

[364] Chú giải Se Be giải thích là –vibhāvanā c̣n bản văn ghi là –vibhavanā; xin đọc chú giải PED sv.

[365]. Chú giải Se Be giải thích là so ca sādhū sampaṭicchitvā; c̣n bản văn ghi là lại bỏ qua.

[366]. Chú giải Se Be giải thích là tattha c̣n bản văn ghi là tattho.

[367]. Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng Già.

[368]. Chú giải Se Be giải thích là sāṇesu patiṭṭhāya c̣n bản văn ghi là saraṇe supatiṭṭhāya.

[369]. Chú giải Se Be giải thích là katañjalī c̣n bản văn ghi là katañjali.

[370]. Chú giải Se Be giải thích là katabhattānumodane c̣n bản văn ghi là ānumodanena.

[371]. Xin đọc chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) I 24; Thag 3.

[372]. Chú giải Se Be giải thích là yāci taṃ c̣n bản văn ghi là yācitaṃ.

[373]. Cách giải thích có khác biệt đáng kể về điểm này, tôi chọn theo Se; bhayākadassanā ruṭṭhadassanā. Ruddadassanā ti v pāṭho c̣n bản văn ghi là bhayānakadassanā rudassanā. Bhīru-dassanā ti v pāṭho. chú giải Be giải thích là bhayānakadassanā. Đây là một vị thần Phệ đà tên là Rudra. Có liên quan với một trong những khía cạnh khủng khiếp của thần Siva.

[374]. Chú giải Se Be giải thích là bībhacchabhāriyadassanā c̣n bản văn ghi là bībhacchāa bhīrudassanā; xin đọc chú giải PvA 90.

[375]. Chú giải Se Be giải thích là dukkataṃ c̣n bản văn ghi là dukkhaṭaṃ.

[376]. Himavant – theo nghĩa đen có nghĩa là có đầy tuyết.

[377]. Chú giải Se Be giải thích là pāniyaṃ cbb pāniyan ti.

[378]. Chú giải Se giải thích là pāpakammavasena c̣n bản văn Be ghi là pāpakammaphalena.

[379]. Chú giải Se Be giải thích là abhisapanavasena c̣n bản văn ghi là abhisampannavasena; xin đọc chú giải PED sv. bản văn đă chèn một dấu chấn sai chỗ vào trước từ Uttara.

[380]. Chú giải Se Be giải thích là dhovitvā bhisiñ ca cimilikañ ca katvā c̣n bản văn ghi là dhovitvāabhisiñci cimilikañ ca katvāa và được sửa lại trong PED thành abhisiñcati. Rất có thể tốt hơn ta nên giải thích là bhisiñ ca, là nệm thiền, trải nệm (xin đọc chú giải Vin ii 210 n. 2; Be hay Disc ii 47 n 4) hơn là bhisiñ ca , thời bất định của động từ abhisiñcati, có nghĩa là rẩy, rưới nước (và hiểu rộng ra có nghĩa là nhuộm – xin đọc chú giải B of Disc. V 211 n 6 liên quan đến phosituṃ) Cimilka, theo PED h́nh như có nghĩa là một loại thảm. Xin đọc B of Disc. Ii 241 n 8 v 210 n 4 và các bản văn Vin iii 167 n 2 Theo tự điển Anh-Pāli của ngài Buddhaghosa th́ từ này được giải thích là  "bao gối"