NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

  CHÚ GIẢI  

CHUYỆN NGẠ QỦI

(Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG II

PHẨM UBBARĪ
[Ubbarīvagga]

 

II.1 Chú giải chuyện ngạ quỉ LƯ LUÂN HỒI
[Samsāramocakapetavatthuvaṇṇanā]

[67] "Nhà ngươi lỏa lồ và có diện mạo kinh dị" Vị Đạo sư thuật lại chuyện kể này khi ngài đang lưu lại trong Khu Rừng Trúc liên quan đến một ngạ quỉ đang cư trú trong ngôi làng có tên là Iṭṭhakāvatī nằm trong vương quốc Magadha.

Người ta kể lại rằng trong vương quốc Magadha có hai ngôi làng, tên là Iṭṭhakāvatī và Dīgharāji, trong đó có rất nhiều các Đạo sĩ[1] Saṃsāramocaka đang cư trú. Trong một thời gian dài, khoảng năm trăm năm qua, có một phụ nữ nọ tái sanh trong một gia đ́nh Saṃsāramocaka nằm ngay trong ngôi làng Dīgharāji và do có tà kiến nên nàng giết hại nhiều loại sâu bọ và châu chấu và rồi phải tái sanh nơi cơi Ngạ Quỉ trong đó nàng phải trải qua đói khát trong suốt năm trăm năm. Thế rồi khi Đức Thế Tôn giáng lâm xuống cơi trần gian và khởi động Chuyển Pháp Luân và đến đúng thời gian qui định ngài đă đến trú xứ trong khu Rừng Trúc, gần thành Rājagaha, rồi nàng lại tái sanh trong gia đ́nh Saṃsāramocaka và cũng trong chính ngôi làng Dīgharāji. Rồi một ngày kia khi nàng lên bảy tám tuổi trong lúc đang chơi đùa với các bạn gái trên đường lộ chính, có trưởng lăo Sāriputta, đang trụ tŕ thiền viện Aruṇavatī cũng đi trên con đường chính, gần tới cổng làng, đi theo ngài có mười hai vị tỳ khưu. Trong lúc đó có rất nhiều thiếu nữ trong làng đang rời khỏi làng ra chơi bên ngoài gần cổng làng, theo thói quen cha mẹ đă dạy, các thiếu nữ đă vội vă đến gặp các ngài với tâm đạo nhiệt thành và lễ bái theo năm tư thế phủ phục.[2] Tuy nhiên có một cô gái thuộc gia đ́nh ngoại đạo[3] đă tỏ ra thất lễ và thiếu phong cách sử sự tốt của những người đức hạnh, do nàng không tích lũy được nhiều phước báu trong một thời gian dài, thế nên nàng đă đứng bất động giống như những kẻ thiếu văn hoá.[4] Trưởng lăo thấu tỏ phẩm hạnh quá khứ của nàng và cả hoàn cảnh tái sanh hiện nay trong gia đ́nh Saṃsāramocaka và t́nh trạng nàng chỉ đáng tái sanh nơi hoả ngục trong tương lai. Ngài nhận ra rằng nếu cô ta đến chào ngài ắt hẳn cô không phải tái sanh nơi hoả ngục và cho dù cô có phải tái sanh nơi cơi ngạ quỉ th́ cô vẫn đạt được thù thắng qua ngài trưởng lăo.[5] Với tấm ḷng từ bi quảng đại dâng trào [68] ngài trưởng lăo đă nói với các cô gái rằng, ‘Các cô đă đảnh lễ các tỳ khưu [6] nhưng cô gái này lại đứng yên như kẻ thất học.’ Thế rồi các thiếu nữ đă nắm lấy tay cô ta, kéo cô ta tiến về phía trước và dùng sức mạnh ép cô phải đảnh lễ phủ phục dưới chân vị trưởng lăo. Đến thời điểm đă ấn định nàng đă kết hôn với một chàng trai trong một gia đ́nh Saṃsāramocaka trong thành Dīgharāji[7]. Khi sắp đến ngày sanh con th́ nàng qua đời và tái sanh nơi cơi Ngạ quỉ, lỏa lồ, với gương mặt kinh dị, trông thật dễ sợ; đi lang thang khắp nơi và nàng đă hiện nguyên h́nh với vị trưởng lăo Sāriputta vào ban đêm và rồi đứng sang một bên. Khi ngài vừa nh́n thấy nàng, vị trưởng lăo đă hỏi nàng với đoạn kệ sau:

1.      ‘Nhà ngươi loả lồ và có diện mạo gướm ghiếc, gầy g̣ với những đường gân[8] hiện rơ, nàng là người gầy g̣ ốm yếu, xương sườn lộ ra, giờ đây, ngươi là ai mà đứng trân người ra như vậy.

1. Ở đây với những đường gân hiện rơ (dhamanisanthatā): với tấm thân h́nh để lộ rơ cả một mạng lưới đường gân lộ rơ do thiếu thịt và máu. Với xương sườn lộ rơ (upphāsulike): với những chiếc xương sườn lộ ra. Nàng gầy c̣m ốm yếu (kisike): nàng có thân h́nh gầy g̣ ốm yếu; như đă đề cập đến ở trên là “gầy ṃn[9]” các từ ‘nhà ngươi có thần h́nh gầy c̣m ốm yếu’[10] được nhắc lại nhằm mục đích cho thấy hiện trạng ‘vô cùng ốm yếu gầy c̣m[11]’ của nàng nơi thân xác chỉ gồm toàn da bọc xương và gân guốc nổi lên.

Khi nghe được như vậy, nữ Ngạ Quỉ đă thốt lên đoạn kệ sau đây để tỏ lộ chính ḿnh:

2.      Thưa ngài, ta chỉ là một nữ ngạ quỉ đă tái sanh nơi hiện hữu khốn cùng nơi cơi Diêm Vương; sau khi đă thực hiện ác nghiệp ta đă phải tái sanh từ cơi chúng sanh sang cơi ngạ quỉ.’

Một lần nữa vị Trưởng lăo đă hỏi nàng về ác nghiệp nàng đă thực hiện:

3.      ‘Giờ đây nhà ngươi đă thực hiện ác nghiệp nào vậy bằng thân, khẩu hay ư? Do kết quả ác nghiệp đó nhà ngươi đă phải tái sanh từ cơi chúng sanh xuống cơi ngạ quỉ?’

Nàng lại thốt lên ba đoạn kệ chứng tỏ cho thấy sau khi đă quá bủn xỉn, ích kỷ và thiếu giới đức trong bố thí nàng đă phải đầu thai[12] nơi cơi Ngạ quỉ và phải trải qua nhiều khổ sở đến như vậy:

4.      [69] Thưa ngài, ta chẳng c̣n cha mẹ lẫn anh em họ hàng nào, ngay cả chẳng c̣n ai thương xót đến ta, đă động viên ta nói rằng, “Hăy bố thí với tấm ḷng thành kính cho các vị sa môn lẫn các vị bà la môn.”

5.      Từ nay trở đi trong suốt năm trăm năm ta phải lang thang khắp nơi với thân h́nh loả lồ như vậy, lại bị đói khát và thèm muốn làm hao ṃn tiều tụy tấm thân – đây chính là hậu quả do ác nghiệp đem lại.

6.      Ta đảnh lễ ngài, đấng xứng được đảnh lễ với cả tấm ḷng thành kính; xin hăy tỏ ḷng thương xót đến ta, ôi đấng vĩ đại và giàu ḷng cương quyết. Xin ngài bố thí cho ta đôi điều ǵ đó [13] và hồi hướng phước thí đó cho ta; hăy giải thoát ta khỏi hiện trạng khốn khổ này, thưa ngài.’

4. Về điểm này đấng giàu ḷng thương xót (anukampakā): có lợi đối với hạnh phúc của nàng nơi cơi đời sau, bạch ngài (bhante): nàng đang thưa chuyện với ngài trưởng lăo. Là kẻ cổ vũ động viên ta. (ye naṃ niyojeyyuṃ): ta chẳng c̣n mẹ cha hay những họ hàng thân thuộc thuộc loai này nọ là người hay dủ ḷng thương xót đến ta, có thể động viên cổ vũ[14] ta nói rằng, ‘Với tấm ḷng thành kính hăy thực hiện bố thí cho các vị sa mônvà các vị bà la môn – đây là cách chúng ta nên phân tích.

5. Kể từ này trong suốt năm trăm năm ta phải đi lang thang khắp nơi với thân h́nh lơa lồ như thế này (ito ahaṃ vassatāni pañcā yaṃ evarūpā vicarāmi naggā): sau khi nhớ lại kiếp tái sanh làm nữ ngạ quỉ nơi hai kiếp trước. Nữ ngạ quỉ nói lời này để xác định rằng giờ đây nàng đang phải lang thang khắp nơi trong t́nh trạng đó đă kéo dài trong năm trăm năm qua. Yaṃ (không được dịch) = yasmā (một dạng ngữ pháp hối chuyển); v́ ta đă không thực hiện bất kỳ phước báu bố thí nào v.v... ta đă trở thành nữ ngạ quỉ, loă lồ như thế này, chính v́ thế ta phải lang thang khắp nơi trong suốt năm trăm năm qua, đây là cách ta phải phân tích. Do tham lam thèm khát (taṇhāya): do khát nước. Đă bị hao ṃn tiều tuỵ : khajjamānā[15] = khādiyamānā (một dạng ngữ pháp hồi chuyển), có nghĩa là phải buồn phiền khổ sở.

6. Với tấm ḷng thành kính, ta đảnh lễ ngài, là bậc ứng cúng (vandāmi taṃ ayya pasannacittā): với tấm ḷng thành kính ta đảnh lễ ngài, là bậc ứng cúng. Điều này chứng tỏ đến giờ phút này ta chỉ có thể thực hiện[16] được rất ít phước báu. Xin ngài hăy tỏ ḷng xót thương ta (anukampa maṃ): [70] xin giúp đỡ ta, xin đối xử tốt lành với ta. Xin hăy bố thí chút vật thực và hồi hướng thí nghiệp đó cho ta (datvā ca me ādissa yaṃ hi kiñci): nàng nói lời khẳng định này đó là khi ngài thực hiện một số cúng dường và hồi hướng nghiệp thí đó cho nàng, từ đó nàng có thể được giải thoát khỏi cơi tái sanh ngạ quỉ. V́ lư do đó nàng nói, “thưa ngài, xin giải thoát ta khỏi hiện trạng khốn cùng này.’

Ba đoạn kệ này đă được các vị kiết tập Tam Tạng nhằm chứng tỏ cho thấy phương cách vị trưởng lăo tiến hành hành động khi nữ ngạ quỉ nói như sau:

7.      ‘Tốt lắm’, trưởng lăo Sāriputta đă đồng ư tỏ ḷng thương xót, và đă đưa cho các tỳ khưu một vật thực, một miếng vải khoảng độ một gang tay và một tô nước và đă hồi hướng thí nghiệp này cho nàng.

8.      Ngay lập tức tỳ khưu này đă hồi hướng kết quả này cho chúng sanh, vật thực, vải vóc và thức uống là kết quả của phước thí này.

9.      Nhờ đó nàng trở nên thanh tịnh, mặc y phục sạch sẽ và tươi sáng hơn cả loại lụa Kasi và được trang điểm bằng nhiều y phục và trang sức lộng lẫy đa dạng, nàng đă tiến lại gặp Trưởng Lăo Sāriputta.’

Về điểm này đến với các tỳ khưu (bhikkhūnaṃ): đến với một tỳ khưu; đây là cách nói bóp méo về con số. Một số người giải thích là ‘đưa cho tỳ khưu một vật thực’ (ālopaṃ bhikkhuno datvā). Một vật thực (ālopaṃ): một miếng[17] đồ ăn, có nghĩa là chỉ một miếng đồ ăn. Một khúc vải đo được khoảng một gang tay (pāṇimattāñ ca coḷakaṃ): có kích thước độ một gang tay, có nghĩa là một chút vải. Và một tô nước (thālakassa ca pānīyṃ) : chỉ độ một tô nước.

Những ǵ c̣n lại đă được đưa ra trong chuyện kể Ngốc Đầu Chuyện Ngạ quỉ [18]

Thế rồi khi Trưởng lăo Sāriputta đă nh́n thấy nữ ngạ quỉ đă xuất hiện trước mặt ngài, đứng đó với các căn đă được tươi sáng, có nước da hoàn toàn thanh tịnh và được trang điểm bằng y phục và đồ trang sức chư thiên và làm toa sáng mọi thứ xung quanh nàng với chính tia sáng toát ra từ cơ thể nàng. Ngài trưởng lăo đă thốt lên ba đoạn kệ, muốn nàng làm rơ kết quả phước báu được nàng giải thích từ chính cảm nghiệm nàng đă có được.

10.  Nàng đứng đó với vẻ kiều diễm vô song, ôi nàng chư thiên, toả sáng khắp tứ phương thiên hạ giống như một Vương Tinh.

11.  Vẻ kiều diễm đó xuất phát từ đâu?’Do đâu nàng đă đạt được những thành tựu này ngay tại nơi đây.[71] và liệu bất kỳ khoái cảm dục vọng nào nàng thường ưa thích có khởi sanh nữa hay chăng?’

12.  Ta hỏi nàng, ôi Devi đầy oai lực phước báu nào nàng đă thực hiện khi c̣n ở kiếp người? Do đâu mà oai lực toả sáng của nhà ngươi được như vậy và vẻ kiều diễm của nhà ngươi toả sáng khắp tứ phương như vậy?’[19]

10. Về điểm này tuyệt trần (abhikkantena): vô cùng khả ái, có nghĩa là rất xinh đẹp. Với vẻ kiều diễm (vaṇṇena) với làn da. Sáng toả khắp tứ phương (obhāsentī disā sabbā): chiếu sáng khắp tứ phương thiên hạ với một luồng sáng duy nhất. Bằng cách nào vậy? Ngài nói “giống như một Vương Tinh” vị sao này có tên gọi là Osadhi do bởi hào quang chói lọi (ussanna-) chứa đựng (dhīyati) trong đó hay v́ ngôi sao đó đem lại một sức mạnh[20] cho dược liệu (osadhīnaṃ): giống như tinh tú toa ánh sáng khắp nơi. Ngay cả như vậy liệu nhà ngươi có toả sáng khắp mười phương chăng? Đó là ư nghĩa ở đây.

11. Do đâu mà có? (kena): từ ‘điều ǵ’ (kiṃ) là một dạng câu hỏi đây chính là thể nghi vấn hiểu theo nghĩa (hỏi về nguyên nhân) có nghĩa là do đâu hay do nguyên nhân nào? Của nhà ngươi: te=tāva (một dạng ngữ pháp chuyển đổi). Như vậy (etādiso [21]): ngài nói ra điều này có liên quan đến cách nào lại xuất hiện vào thời điểm này. Do điều ǵ nàng đă hoàn thành được ngay tại đây? (kena ta idha-m-ijjhati): do đâu đặc biệt là phước báu lại là kết quả nơi phẩm hạnh tốt giờ đây nàng đă nhận được đă hoàn tất được, tạo ra ở tại nơi đây ngay tại vị trí này? Rất có thể phải khởi sanh (uppajjanti): đă phải tái sanh nơi hiện hữu. Những khoái cảm (bhogā): những tài sản tuyệt trần và những phương tiện như thể y phục và đồ trang sức v.v... đă được đặt tên cho là “những khoái cảm” (bhogā) do rất thích hợp để được thưởng thức (paribhañjitabbattena): Bất kỳ điều ǵ (ye keci) có nghĩa là toàn bộ những khoái cảm được ấp ủ, được bao gồm không bỏ qua bất kỳ điều ǵ như trong từ bất kỳ điều ǵ (ye keci saṅkhārā). Ḷng ngươi coi trọng (manaso piyā): khiến cho ḷng ngươi thêm quí mến, có nghĩa là ḷng ngươi hằng yêu mến.

12. Ta hỏi ngươi (pucchāni): ta đặt một câu hỏi. Có nghĩa là ta muốn biết. Nhà ngươi: taṃ=tvaṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Devi (devi) vị chư Thiên: nàng là vị chư thiên do nàng đă được trang vị với vẻ kiều diễm đầy oai lực’ khi nàng c̣n là chúng sanh (manussabhūtā): khi nàng được sanh ra với hiện trạng chúng sanh. Ngài nói điều này phù hợp với một qui luật chung là chúng sanh thực hiện phước báu đang khi họ c̣n hiện hữu nơi kiếp người. Đây là ư nghĩa của các đoạn kệ này chỉ hiểu theo nghĩa ngắn gọn mà thôi. Tuy nhiên nên hiểu giống như đă được đưa ra chi tiết trong chú giải về Chú Giải Đại chức vật quỉ sự (một đoạn) trong phần giải thích ư nghĩa nội tại đích thực.

[72] Ngài Trưởng lăo đă hỏi nữ ngạ quỉ, nàng liền thốt lên những đoạn kệ c̣n lại, làm rơ lư do tại sao nàng đă nhận được thù thắng của nàng:

13.  Vị Hiền triết đầy ḷng thương xót cơi trần gian này đă nh́n thấy[22] ta phải tái sanh ơi hiện hữu khốn cực – vàng vọt[23]hao ṃn tiều tụy, gầy ốm, đói khát, loả lồ, với làn da nhăn nheo.[24]

14.  Vị ấy đă cho tỳ khưu một miếng vật thực, một khúc vải đo được một gang tay và một bát nước và hồi hướng phước thí này cho ta.

15.  Hăy xem kết quả vật thực này. Trong ṿng một ngàn năm ta sẽ được dùng vật thực chữa trị với rất nhiều hương vị. Thưởng thức tất cả những ǵ đem lại cho ta những thoả măn ta hằng mong đợi.

16.  Hăy nh́n xem kết quả nào một miếng vải chỉ bằng một gang tay có thể đem lại; so với biết bao nhiêu y phục trong khắp cơi vương quốc Nanda.

17.  Hơn thế nữa, thưa ngài, so với những y phục và những đồ trải bằng lụa và bằng len vải lanh và vải sợi của ta.

18.  Cho dù có bao nhiêu và đắt tiền đến mấy - cho dù có được treo từ trời cao xuống và ta chỉ chọn mặc những thứ nào ta ưa thích [25].

19.  Hăy nh́n xem loại kết quả nào có được từ một tô nước, so với những hồ[26] sen khéo được bố trí từ ngoài và có bốn góc.

20.  So với loại nước trong tinh khiết và những bờ sông kiều diễm, mát lạnh và toả hương, được phủ đầy hoa sen và hoa súng, phủ đầy những nhụy sen thơm phức.

21.  Và ta đă tiêu khiển, đă thưởng ngoạn. Chẳng c̣n phải sợ nỗi ǵ đến từ khắp bốn phía. Thưa ngài, chính ta đă đến và đảnh lễ vị hiền triết đầy ḷng nhân ái đối với cơi đời này.

13. Về điểm này vàng vọt (tuppaṇḍukiṃ): sau khi đă biến thành vàng vọt [27]. Bị bỏ đói (chātaṃ): muốn ăn, bị cơn đói hành hạ. Với làn da nhăn nheo (sampatitacchaviṃ): với làn da trên cơ thể bị nứt nẻ. Trước mắt thế gian (loke): Điều này chứng tỏ cho thấy phạm vi từ bi quảng đại của một người ở đây được cho là người có “đầy ḷng từ bi nhân ái”. Ta (taṃ maṃ): ta trong điều kiện ấy, ta nơi hiện trạng đó chắc chắn phải kêu gọi đến ḷng từ tâm của mọi người như đă nói đến ở trên. Đă đi tới khổ cảnh (duggataṃ): tiến tới hiện trạng khổ ải (đau khổ).

14. Người đă bố thí cho các tỳ khưu một miếng vật thực. (bhikkhūnaṃ ālopaṃ datvā): v.v... chỉ rơ cách thức trong đó vị Trưởng lăo hành động v́ ḷng từ tâm quảng đại.

15. [73] Về điểm này vật thực (bhataṃ): cơm, có nghĩa là vật thực chư thiên. Hàng ngàn năm (vassataṃ dasa): mười lần một trăm năm được cho là một ngàn năm[28] đây là thể đối cách hiểu theo nghĩa trong một thời gian dài liên tục. Thêm nhiều hương vị, khi thọ hưởng những sảng khoái trước mọi ước muốn. (kāmākaminī anekarasavyañjanaṃ): ta sẽ ăn thứ vật thực tăng thêm nhiều hương vị. Được thêm vào với rất nhiều khoai cảm đáng trông đợi khác, đây là điều cần được phân tích.

16. Một miếng vải (colassa):điều này làm rơ phước báu bao gồm trong việc bố thí[29] với điều này là đối tượng dưới tiêu đề chung là những phước báu cúng dường . Hăy nh́n xem loại kết quả nào (vipākaṃ passa yādisaṃ): Hăy nh́n xem loại kết quả nào, loại kết quả được gọi là, có được từ vịêc bố thí miếng vải đó, thưa ngài, thuộc loại kết quả nào, thuộc dạng kết quả nào; trong trường hợp chúng ta phải đặt câu hỏi “Điều ǵ vậy?’, nữ ngạ quỉ lên tiếng,[30] so với biết bao nhiêu y phục có trong vương quốc nhà vua Nanda v.v...

Giờ đây về vấn đề này vị vua Nanda là ai vậy?

Người ta kể lại rằng đă lâu lắm rồi, khi thọ mệnh con người ta chỉ kéo dài khoảng mười ngàn năm, có một người đàn ông giàu có kia có một nơi trú xứ trong thành Bernares đă được chứng kiến vị Độc Giác Phật đang trong khu rừng hoang của ông ta, khi ngài đang đi dạo trong khu rừng đó. Vị Độc Giác Phật đang may một chiếc y cà sa tại đó nhưng lại gấp nó lại, và đem cất đi. Do thiếu vải.[31] Khi người đàn ông giàu có kia nh́n thấy điều này, ông ta bảo, “Thưa ngài, ngài đang làm ǵ vậy?” Cho dù chẳng ai nói ǵ về đức tính có yêu cầu rất ít của vị trưởng lăo[32] người đàn ông giàu có cũng nhận ra là ngài đang thiếu một ít vải[33]. Ông ta liền đặt chiếc áo khoác của ḿnh dưới chân Đức Phật Độc Giác và ra đi[34]. Ngài Độc giác phật cầm lấy miếng vải và may thêm vào những miếng vá, và mặc vào. Vào lúc sanh mạng của người đàn ông giàu có đă măn, người đó đă qua đời và tái sanh[35] nơi cơi Trời Đâu Xuất (cơi tam thập tam). Người đó đă được thưởng ngoạn thù thắng chư thiên ở đó trong hết thời thọ mạng của ḿnh sau khi diệt từ cơi đó và tái sanh trong một gia đ́nh người cố vấn đặc biệt cho nhà vua phục vụ trong một ngôi làng nọ cách thành Bernares độ một do tuần (yojana). Vào thời điểm ngài đến tuổi khôn lớn, có một lễ hội tháng mới được công bố tổ chức trong ngôi làng đó. người đó thưa với mẹ ḿnh, “thưa mẹ, xin cho con một chiếc áo khoác để con có thể tham gia vào buổi lễ hội tháng mới.’ Bà liền lấy ra một chiếc áo sạch và đưa cho cậu con. Cậu nói, thưa mẹ chiếc áo này thô quá. Bà ta lại lấy ra một chiếc áo khác và đưa cho cậu nhưng cậu ta cũng lại từ chối không nhận chiếc áo này. Lúc đó mẹ cậu nói với con rằng, ‘Con yêu từ thời cha sanh mẹ đẻ cho đến giờ trong ngôi nhà này chúng ta chưa có được diễm phúc nào có được những y phục tốt hơn những thứ này.’ ‘Thưa mẹ, con sẽ tới đó để lấy y phục đó thưa mẹ.’ ‘Con yêu, thế th́ con cứ đi đi, mẹ cầu sao ngay ngày hôm nay con có thể chiếm được quyền thống trị của thành phố Bernares này.’ [74] ‘Tốt lắm thưa mẹ’ cậu ta trả lời, chào mẹ, đi ṿng quanh mẹ về phía phải[36] và nói ‘Chào mẹ,’ ‘chào con trai yêu của ta.’ Người ta kể lại rằng bà mẹ có suy nghĩ[37] như sau: Con ta có thể đi đâu được? Con ta chỉ biết ngồi chỗ này chỗ nọ trong căn nhà này.’ Nhưng do các hành vi phước báu[38] thôi thúc, cậu ta đă rời khỏi ngôi làng và đi tới thành Bernares ở đó cậu ta nằm ngủ trên một cục đá có điềm may sau khi đă quấn thân ḿnh kín từ đầu trở xuống. Giờ đây chính là ngày thứ bảy tiếp theo sau khi nhà vua thành Bernares băng hà. Khi các vị cố vấn đặc biệt của nhà vua và các vị tư tế chính đă thực hiện nghi lễ chôn cất, họ ngồi lại trong sân triều đ́nh và bàn luận với nhau rằng, ‘Chỉ có một ông cháu nhà vua nhưng lại không có hoàng tử – một vương quốc thiếu vua không thể kéo dài lâu được. Chúng ta phải sai đi một chiếc xe hoa biểu tượng cho nhà vua[39]. Thế là họ thắng yên bốn con ngựa Sindh có màu lông trắng bông sen và rồi để vào trong xe năm biểu tượng[40] của nhà vua đi đầu la một chiếc lọng màu trắng. Thế rồi họ sai chiếc xe hoa đi và có âm nhạc nổi lên hai bên cạnh xe. Chiếc xe hoa rời cổng thành phía đông và hướng về phía công viên. Một số người cho rằng, ‘chiếc xe hoa hướng về công viên theo thói quen. Quay trở lại! nhưng các thầy tư tế lại nói, “Xin đừng quay trở lại làm ǵ. Chiếc xe hoa đi ṿng quanh cậu nhỏ về phía phải và rồi dừng lại sẵn sàng để có người lên xe. Vị trưởng tư tế nâng một góc có tấm che, kiểm tra gót chân[41] của cậu và nói, ‘ mong rằng cậu con trai này là nơi nương tựa cho chúng ta. – vị ấy có thể tạo ra một vương quốc duy nhất thuộc bốn châu lục và hai ngàn ḥn đảo vây quanh’ và rồi truyền lệnh trổi nhạc lên ba lần., nói rằng, ‘Hăy trổi nhạc lên, hăy trổi nhạc lên nữa đi!’[42] Cậu con trai sau đó gỡ tấm che mặt ra, nh́n quanh và nói, “Có việc ǵ vậy mà các ngươi tới đây, hỡi các bạn’ Tâu bệ hạ, vương quốc đă đến tay ngài.’ ‘vua của vương quốc nhà ngươi đâu?’ Ngài đă về chầu trời rồi, thưa ngài.’ ‘ Bao nhiêu ngày rồi?’ ‘Hôm này là ngày thứ bảy.’ ‘Thế nhà vua không có hoàng tử hay công chúa hay sao?’ ‘Tâu bệ hạ có một cô công chúa, nhưng không có hoàng tử.[43]’ ‘Thôi được rồi trong trường hợp này ta sẽ cai trị vương quốc.’ Họ cho xe quay thẳng về phía hoàng cung để xức dầu cho cậu, và trang điểm cô con gái nhà vua với toàn bộ những đồ trang sức, rồi dẫn nàng ra công viên hoàng gia và rồi xức dầu cho cậu ta. Khi cậu đă được xức dầu, họ đưa cho cậu những y phục đáng giá hàng trăm ngàn đồng vàng. ‘Điều ǵ đây, hỡi các bạn.’[44]Cậu hỏi. [75] ‘Thưa đó chính là những xiêm y của bệ hạ, tâu bệ hạ[45].’ Chẳng c̣n bất kỳ loại xiêm y nào quí hóa hơn[46] trong số những y phục người đàn ông đă xử dụng, tâu bệ hạ.’ ‘Thế nhà vua của các khanh cũng ăn mặc như vậy hay sao?’ ‘Vâng, tâu bệ hạ.’ ‘Ta không nghĩ rằng nhà vua của các khanh đă có phước báu để mặc những thứ y phục này, hăy mang đến cho ta b́nh nước bằng vàng và ta sẽ lấy một số y phục’ Họ mang đến một b́nh đựng nước bằng vàng. Cậu con trai đứng lên, rửa tay, rửa miệng và rồi lấy[47] một ít nước vào tay và rẩy về hướng đông, ngay lập tức có tám cây lời ước xuất hiện từ dưới mặt đất cứng mọc lên. Cậu lại lấy thêm một chút nước nữa và rẩy về hướng nam về hướng bắc và hướng tây. Và rẩy như vậy trên mỗi hướng, trong mỗi hướng như vậy cậu đă tạo ra được tám cây như vậy đă có tới ba mươi hai cây lời ban lời ước đă mọc lên. (tất cả) có một số cho rằng cứ mỗi hướng ngài đă tạo ra mười sáu cây, vị trí đă có tới sáu mươi tư cây ước mọc lên. (tất cả) Cậu ta đă mặc vào một bộ xiêm y chư thiên, lấy một chiếc che quanh thân ḿnh, và nói. ‘Hăy để cho mọi người đánh trống lên và loan báo nơi vương quốc nhà vua Nanda không c̣n cần đến phụ nữ phải xe chỉ kéo sợi để dệt vải làm chi nữa.’ Cậu ra lệnh cho họ che một cây lọng. Rồi mặc xiêm y và trang điểm, rồi cỡi lên lưng một con voi vững vàng nhất, đi vào thành phố khi ngài tiến tới toà lâu đài của nhà vua và thưởng thức thắng thù tột đỉnh.

Thời gian thấm thoát trôi qua, cho đến một hôm hoàng hậu nh́n thấy vẻ vinh quang của nhà vua, liền biểu lộ ḷng từ tâm nói rằng, ‘Chắc chắn bệ hạ cần thực hiện tiết chế nhiều hơn.’[48] Khi được hỏi, ‘Này ái khanh, hậu muốn ám chỉ ǵ vậy?’ Nàng liền nói, ‘Bệ hạ có được vinh quang tột đỉnh, có thời nào đó trong quá khứ, chắc bệ hạ đă thực hiện phứơc nghiệp, nhưng tại sao giờ đây bệ hạ không thực hiện việc thiện dành cho hạnh phúc tương lai của bệ hạ’ ‘Chúng ta phải thực hiện bố thí cho ai đây? Chẳng có những bậc giới đức ở vương quốc ta sao?’ ‘Tâu bệ hạ, “trong nước Ấn độ này”[49] chẳng thiếu ǵ những bậc A-la-hán, bệ hạ hăy cứ sửa soạn những vật thực bố thí và hậu sẽ thỉnh các bậc A-la-hán[50]’ hậu nói. Ngày hôm sau đức vua đă sửa soạn một cuộc bố thí lớn. Hoàng hậu ước ao. ‘Nếu có các vị A-la-hán đến từ hướng này, mong rằng họ sẽ tới đây và nhận của bố thí từ tay chúng ta.’ và hoàng hậu nằm sấp quay mặt về hướng bắc. Ngay khi vị hoàng hậu c̣n đang nằm th́ vị Độc giác phật Paduma, là vị cao niên nhất trong số năm vị Độc giác phật là con trai của hoàng hậu Padumavati và họ đang cư ngụ trong dăy Himalaya, liền nói với các anh em của ngài, nói rằng, ‘Thưa chư tôn giả[51], nhà vua Nanda đang thỉnh các tôn giả – các vị phải nhận lời mời của nhà vua.’ Họ đồng ư và ngay lập tức họ đă lên đường, bay trên không và đáp xuống cổng phía bắc. [76] Dân chúng thông báo cho đức vua, nói rằng, ‘Tâu bệ hạ, đă có năm trăm vị Độc giác phật tới.’ Nhà vua cùng với hoàng hậu ra đón các ngài, nhận lấy bát khất thực và mời các vị Độc giác phật tiến về phía lâu đài hoàng gia. Ngài đă phân phát của bố thí cho họ. Khi bữa ăn đă kết thúc họ liền qú xuống,[52]nhà vua qú dưới chân vị niên trưởng trong đoàn c̣n hoàng hậu qú dưới chân của vị trẻ tuổi nhất trong đoàn,[53] nói rằng, ‘Các vị ứng cúng sẽ không phải thiếu thốn những vật thực thiết yếu; những việc phước của chúng ta sẽ không giảm sút. Xin cho chúng ta biết các ngài sẽ lưu lại đây?’ Sau khi đă khiến cho các vị đồng ư ở lại nhà vua đă cho xây những nơi cư trú trong công viên hoàng gia và hỗ trợ cuộc sống cho các vị Độc giác phật cho đến măn đời. Khi họ chứng đắc vô dư níp bàn, nhà vua lại tổ chức những lễ thiêng[54] và tổ chức những nghi lễ an táng, bằng gỗ chiên đàn và nhiều thứ khác nữa và rồi lấy di cốt của các ngài và đặt trong các bảo tháp. Đầy xúc động khi nghĩ rằng, ‘Nếu cái chết cũng đă xẩy đến cho các ngài sa môn đầy oai lực này, thế điều ǵ có thể nói được đối với những kẻ như ta đây? Nhà vua đă thiết lập người con cả làm vua và chính ngài th́ xuất gia sống cuộc sống vô gia cư của một vị sa môn. C̣n hoàng hậu, kinh ngạc trước những ǵ hoàng hậu có thế làm giờ đây đức vua đă xuất gia, cũng xuất gia theo. Cả hai trú ngụ trong công viên hoàng gia, E cả hai đều luyện thiền jhanas[55] và vào cuối thời thọ mệnh, đă tái sanh nơi cơi Phạm Thiên. Người ta kể lại rằng vị trưởng lăo Mahakassapa[56] một đại đồ đệ của Đức Phật, lại là vị vua Nanda và Bhadda kapillani[57] hoàng hậu nhiếp chính của ngài trong ṿng mười ngàn năm nhà vua Nanda đă mặc các y phục chư thiên ngài đă khiến cho toàn bộ cơi vương quốc của ngài giống như Uttarakuru[58] may và đă phân phát y phục cho tất cả mọi người. Bấy giờ khi đề cập đến sự vinh quang của các y phục chư thiên này một vị nữ ngạ quỉ đă nói, ‘Có quá nhiều y phục như trong nước vị vua Nanda.’

Về điểm này, nơi cơi (vijitasmiṃ): trong vương quốc. Những y phục (paticchadā): những quần áo (vatthāni): những thứ được gọi là ‘y phục’ (paṭicchāda)[59] v́ chính chúng sanh (paṭicchādenti) đă mặc các ư phục đó.

Giờ đây để cho thấy vinh quang của nàng c̣n lớn hơn cả vinh quang của nhà vua Nanda[60] nàng peti nói “Thưa ngài c̣n nhiều hơn thế nữa nhưng y phục và vải trải giường của con.”v.v...

17. Về điểm này Hơn thế nữa (tato): c̣n hơn thế nữa những y phục thuộc nhà vua Nanda so với y phục của ta, có nghĩa là, những y phục của ta. Y phục và những vải trải giường (vatthāni ‘cchādanāni): những áo khoác ngoài và những áo lót. [77] Làm bằng lụa và bằng len: koseyyakambalīyāni = koseyyāni c’eva kambalāni ca ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) Vải lanh và vải sợi (khomakappāsikāsikāsi) những y phục bằng vải lanh và bằng vải sợi bông.

18. Rất nhiều (vipula): nhiều và số lượng lớn theo chiều dài và chiều rộng. Đắt tiền (mahagghā): có giá trị lớn do rất đắt tiền. Rủ từ trời xuống (ākāse) treo từ trời xuống. bất cứ thứ ǵ con thích (yaṃ yaṃ hi manaso piyaṃ): và ta chỉ mặc những y phục nào hợp với trí tưởng tượng của ta mặc vào và quấn quanh ḿnh. – đây là điều ta nên phân tích.

19. Hăy nh́n xem loại kết quả nào có được từ một tô nước (thālakassa ca pāniyaṃ vipākaṃ passa yādisaṃ) hăy nh́n xem loại kết quả và kết quả đó to lớn đến nhường nào, chỉ có một tô nước được bố thí đă được khen ngợi đến như vậy. Làm rơ điều nàng nói “sâu thẳm, bốn góc v.v... ở đây sâu (gambhīrā): có nghĩa là khó ḍ. Có Bốn Góc (caturassā): có h́nh chữ nhật. Những đầm sen: pokkharañño = pokkharaṇiyo (một dạng ngữ pháp hóan chuyển) Khéo hiện ra (sunimmitā): khéo hiện ra theo đúng nghiệp của nàng.

20. Có nước trong: setodakā=seta-udakā [61](thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài): và[62] đă được trải bằng cát trắng. Với những bờ hồ xinh đẹp (supatitthā): với những băi tắm xinh đẹp. Mát (sita):với nước mát. Thơm ngát (appaṭi-gandhiyā): với hương thơm làm mê mẩn[63] không có mùi hôi khó chịu nào. Mặt nước đầy những nhụy sen (vārikiñjakkhapūritā): nước được phủ bằng những nhụy sen lăn tăn và những bông súng màu xanh v.v...

21. ta : sāham=sā ahaṃ ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Vui chơi tiêu khiển (ramāmi): thấy cảm khoái. Chơi (kīlāmi): làm thỏa măn[64] các căn. Cảm khoái (modāmi): vui thích với vinh quang ái lạc của ḿnh. Chẳng có ǵ phải sợ đến từ bất kỳ nơi nào (akutobhayā) ta sống thoải mái và thoả thích theo ư ḿnh[65] chẳng có ǵ phải sợ đến từ bất kỳ nơi nào. Bạch ngài con đến để đảnh lễ ngài (bhante vanditum āgatā) Thưa ngài con đến có nghĩa là: con tiến đến gặp ngài để chào ngài v́ ngài chính là những phương cách giúp con đạt đến những thù thắng chư thiên.

Những ǵ không được phân tích kỹ về ư nghĩa ở đây cũng đă được nêu lên ở nơi khác. Khi nữ peti đă nói ra những điều này, vị trưởng lăo Sāriputta đă kể lại chi tiết chuyện kể cho chúng sanh nghe – những cư dân thuộc hai ngôi làng Itthakavati và Digharaji, là những người đă hiện diện trước mặt ngài khiến cho họ xúc động và đă giải thoát họ khỏi những tà kiến Saṃsāramocaka của họ[66] và rồi tế độ họ thành những thiện tín. [78] Vấn đề này đă được các vị tỳ khưu biết đến và họ đă nêu lên cho Đức Phật nghe, Đức Phật đă coi vấn đề này là nhu cầu nổi lên và diễn giải Phật Pháp cho đoàn người tụ họp lại tại đó. Việc diễn giải Phật Pháp này đă đem lại lợi ích cho toàn bộ chúng sanh.

 

-ooOoo-


[1]. Có điều không rơ ràng là các vị này là ai cũng như tà kiến của họ bao gồm những ǵ. Trong Kinh Bản Sanh vi 117 ta thấy Vua Angati có nói rằng, ‘Chẳng có lối vào thiên giới mà chỉ trông cậy vào định mệnh mà thôi: cho dù số phận của ngươi có hạnh phúc hay bất hạnh, ngươi chỉ đạt được thiên giới qua định mệnh đă đặt trước: mỗi người chúng ta ít nhất cũng đạt đến giải thoát qua kiếp luân hồi (saṃsārasaddhi); xin đừng nôn nóng về tương lai của ḿnh làm chi.’ Rất có thể họ là những thần dân Ajivikas v́ trong D I 54 học thuyết này được gán cho Makkhali-Gila cũng được gọi là saṃsārasaddhi – có nghĩa là tinh luyện thông qua ṿng luân hồi (Dial I 73).

[2]. Một kiểu chào qú gối anjali trong đó trán, hai tay và 2 đầu gối phải phủ phục chạm đất.

[3]. Chú giải Se Be giải thích là assaddhakulassa c̣n bản văn ghi là assadhā kulassa.

[4]. Chú giải Se giải thích là asikkhitā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là āsikkhitā (Be alakkhikā)

[5]. Chú giải Se Be giải thích là mamaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là namaṃ.

[6]. Chú giải Se Be giải thích là bhikkhū c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là bhikkhuṃ.

[7]. PED sv rīji gợi ư là dīgharājīyaṃ ở đây có nghĩa là “thuộc ḍng tộc lâu đời’ nhưng chắc chắn đây là điều có liên quan đến ngôi làng vừa nói đến ở trên và trong bản văn Kinh Tạng nên ghi ở chữ hoa mới đúng.

[8]. Chú giải Se Be giải thích là dhamanisanthatā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dhamanisaṇṭhitā cả trong câu này lẫn nơi khác.

[9]. Chú giải Se Be và đoạn kệ này giải thích là kisā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là kise.

[10]. Chú giải Se Be và đoạn kệ này giải thích là kisike c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là kisīkā.

[11]. Chú giải Se Be giải thích là kisabhāvadassanatthaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là kisabhāva dassanatthaṃ.

[12]. Chú giải Se Be giải thích là nibbattitvā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là nibbattetvā.

[13]. Chú giải Se Be giải thích là yaṃ hi c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là yāhi.

[14]. Chú giải Se Be và đoạn kệ này giải thích là niyojeyyuṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là yojeyyuṃ.

[15]. Chú giải Se Be và đoạn kệ này cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là khajjamān.

[16]. Theo truyền thống th́ cho dù ngạ quỉ không c̣n khả năng thực hiện thiện nghiệp nữa – chính v́ thế chúng cần đến họ hàng thân thuộc của ḿnh để thực hiện nhân danh họ. Tuy nhiên xin đọc những nhận xét trong PvA 26 ở trên

[17]. Được viên thành những cục nhỏ và dùng tay để ăn.

[18]. Xin đọc chuyện kể I. 10 ở trên

[19]. Những đoạn kệ này lại xảy ra trong Vv 91.2.4.

[20]. Chú giải Se Be và VvA giải thích là anubalappadāyikā ti katvā c̣n bản văn ghi là anubalappadānā hutvā: anubalappadāyika không thấy liệt kê trong PED nhưng chú giải CPD có đưa ra mục từ này. theo PED đó là sv osadhī, Childers gọi đó là Venus nhưng không đưa ra chứng cứ rơ ràng, một số dịch giả khác lại giải thích đó là “sao mai”. Theo truyền thuyết Ấn độ thần phụ trách về thuốc men (Thần dược) chính là mặt trăng (oṭadhīsa) chớ không phải bất kỳ tinh tú đặc biệt nào.’ không c̣n nghi ngờ ǵ nữa chính mặt trăng là điều ta nên hiểu ở đây, chúng ta không nên lẫn lộn với từ ‘ngôi sao’ (star = tārakā) v́ từ này rất dễ dàng được dùng để chỉ mặt trăng – xin đọc Sn 687 trong đó mặt trăng được gọi là thống lănh các v́ sao (bull of stars). Hơn thế nữa sao mai tuy rất sáng, không thể nói rằng có thể chiếu sáng khắp mọi nơi như yêu cầu ở đây. xin đọc S I 65; Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 62; It 20.

[21]. Chú giải Se Be giải thích là Etādiso; bản văn đă bỏ qua đoạn kệ 10 nên sửa lại để giải thích là Kena te ‘tādiso…’

[22]. Chú giải Se Be giải thích là addakkhi c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dakkhasi.

[23]. Chú giải Se Be giải thích là uppamdukiṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là upakaṇḍakiṃ cả ở đây và trong tập chú giải dưới đây trong đó lại được định nghĩa là unppaṇḍukhajātaṃ.

[24]. Chú giải Be giải thích là samptitacchaviṃ c̣n bản văn kinh tạng ghi là appaṭicchaviṃ; xin cũng đọc PED sv appaṭicchaviṃ theo yêu cầu cần được giải thích nhưng lại không đưa ra một mục từ nào vào đúng vị trí; Chú giải Se giải thích là āpatitacchaviṃ.

[25]. Theo nghĩa đen đó là bất kỳ điều ǵ ḷng ta cho là thân thương, như ở trên.

[26]. Chú giải Se Be và III 212 dưới đây giải thích là pokkharañño c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là pokkārañño.

[27].Chú giải Se Be giải thích là uppaṇḍukajātaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là upakaṇḍakajātaṃ

[28]. Chú giải Se Be giải thích là vassahassan ti vuttaṃ c̣n bản văn ghi là vassasāhassan nivuttaṃ; PED có từ mục sv là nivuttaṃ là dư nên loại bỏ.

[29]. Chú giải Se Be giải thích là dānamāyaṃ puññaṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là dānapuññaṃ.

[30]. Bản văn kinh tạng giải thích là yathāarūpan ti petī āha cũng như chú giải Se cho dù h́nh như đây là yêu cầu của ngài Hardy v́ ngài khẳng định rằng toàn bộ MSS đều giải thích là ce ti hay ve ti với từ petī (ngạ quỉ). Chú giải Be giải thích là yathārūpaṃ Kin ti ce āha. Tôi sửa lại để giải thích là yathārūpaṃ. Kin ti ce petī āha.

[31]. Chú giải Se Be giải thích là appahonte c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là appabhonte.

[32]. Chú giải Se Be giải thích là appicchatāya c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là apicchatāya.

[33]. Chú giải Se Be giải thích là nappahoti c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là tassa hoti.

[34]. Chú giải Se Be giải thích là agamāsi c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là āgamāsi.

[35]. Chú giải Se Be giải thích là nibbattitvā c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là nibbattetvā.

[36]. padakkhinaṃ katvā, có nghĩa là, đi ṿng quanh người nào đó trong khi giữ phía bên phải quay về người đó, thường được thực hiện ba ṿng. (eg VvA 173. 219) như là cách để chào tạm biệt, như ở đây hay là cách để chào người mới tới. Cách này cũng thấy phổ biến ở Scotland và được gọi là ‘đi theo chiều kim đồng hồ.’ quanh người nào đó. để có quán triệt chi tiết xin đọc W. Simpton, The Buddhist praying Wheel. London 1896.

[37]. Chú giải Se Be giải thích là cittaṃ c̣n bản văn kinh tạng ghi là pi taṃ.