NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

     CHÚ GIẢI  

  CHUYỆN NGẠ QỦI

   (Petavatthu-aṭṭhakathā)

                                                               Nguyên Tác:                     PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA

                                                               Tác giả:                              DHAMMAPĀLA
                                                
  Bản Anh Ngữ:                U BA KYAW

                                                                Hiệu đính- Giải thích:  PETER MASEFIELD
                                               
   Bản Việt Ngữ:             Tỳ khưu THIỆN MINH

   PL. 2551 - DL.2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.13 Chú giải chuyện ngạ quỉ HOÀNG HẬU UBBARĪ
[Ubbarīpetavatthuvaṇṇanā]

‘Hỡi trưởng lăo Brahmādatta, có một vị vua kia.’ Đạo sư đă thuật lại chuyện kể Uất Ba Lợi chuyện Ngạ quỉ liên quan đến một thiện nam nọ, khi ngài đang lưu lại tại khu rừng Jeta.

[161] Chuyện kể lại rằng tại thành Sāvatthī có người chồng của một tín nữ kia đă qua đời và ṃn mỏi v́ khổ sở khi phải chia ly với chồng, nàng đă đến khóc lóc thảm thiết ngay tại đài hoả thiêu chàng và khóc lóc thảm thiết. Khi Đức Phật nh́n thấy nàng có duyên lành (tiềm lực) chứng đắc chánh quả Nhập Lưu, ḷng ngài rạo lên niềm từ bi thương xót và ngài đă tới thăm nhà nàng và ngồi ngay nơi đă được chỉ định cho ngài. Thiện nữ tiến lại gần gặp ngài đảnh lễ ngài và rồi ngồi sát ngay một bên với ngài. Đức Phật liền hỏi nàng. ‘Hỡi tín nữ, nhà ngươi đang than khóc chồng ḿnh hay sao đó?’ Khi nàng trả lời, ‘Vâng thưa Đức Thế Tôn, con đang than khóc v́ phải xa ĺa người con thương mến vô cùng. Ngài đă kể lại một biến cố xảy ra đă từ lâu, ước muốn đẩy lùi nỗi sầu khổ cho nàng.

Cách đây lâu lắm rồi, trong thành Kapila tại vương quốc Pancala[460] có một vị vua tên là Culani-brahmadatta.[461] Ngài đă từ bỏ cách sống lầm lạc[462] và chuyên tâm làm việc v́ hạnh phúc cho chúng sanh trong vương quốc của ngài; bằng cách cai trị vương quốc mà không vi phạm Thập Giới của một vị vua.[463] Vào một dịp nọ v́ muốn lắng nghe điều ǵ chúng sanh nói về vương quốc của ḿnh, nhà vua đă giả dạng thành một người thợ may, rời khỏi thành phố không có một ai theo hầu và ngài đă du hành từ làng này sang làng khác và từ thị trấn này sang thị trấn khác. Khi nhà vua nhận thấy trong toàn cơi vương quốc đă được thoát khỏi cảnh trộm cướp và áp bức[464] và dân chúng sống hoà hợp với nhau. – Quả thật, ngay cả họ vẫn để mở của nhà ḿnh – nhà vua đă quay về kinh vô cùng hoan hỷ. Khi nhà vua đang về tới thành phố, ngài đă vào thăm một người phụ nữ goá bụa đang phải trải qua cảnh khổ cực trong một ngôi làng nọ. Khi nàng nh́n thấy đức vua nàng nói rằng, ‘Thưa ngài, giờ đây ngài là ai vậy? và ngài từ đâu đến đây?’ ‘Ta là một thợ may, thưa bà, và ta đi du hành khắp nơi xem có ai muốn may vá ǵ không để kiếm một chút tiền công. Nếu nàng muốn may vá ǵ xin cho ta một chút vật thực và một chút thù lao[465] ta sẽ làm công việc đó cho nàng,’ ‘Chúng tôi không có việc ǵ cần may vá cả[466] cũng chẳng có thức ăn cũng như tiền thù lao[467]. Xin ngài kiếm người khác mà xin việc thôi, thưa ngài.’ nàng nói. Trong khi lưu lại đó trong vài ngày, ngài nh́n thấy con gái của nàng có tướng may mắn và công đức và hỏi người mẹ, ‘Liệu con gái của bà đă lập gia đ́nh với ai chưa? Hay nàng vẫn c̣n độc thân; nếu như nàng chưa cưới hỏi vơi ai xin bà cho ta được cưới nàng làm vợ. V́ ta có khả năng cung cấp cho nàng phương tiện[468] sống cuộc sống an nhàn thoải mái.’ ‘thưa ngài được lắm, nàng trả lời và đưa con gái cho chàng. Chàng lưu lại với cô ta một vài ngày và rồi đưa cho nàng một ngàn kahapanas nói rằng, ‘Một ít ngày nữa ta sẽ trở lại, người yêu của ta,[162] xin đừng thất vọng[469] và đi ra thành phố làm ǵ. Nhà vua cho san bằng sửa sang lại con đường từ thành phố dẫn đến ngôi làng đó và cho trang hoàng và rồi đến đó với một vẻ hoành tráng hoàng gia lộng lẫy. Vị ấy đặt cô gái trên đống tiền kahapanas. Tắm cho nàng bằng nước đựng trong b́nh vàng và bạc và đặt tên cho nàng là Ubbarī rồi đặt nàng vào địa vị Chánh Hậu. Nhà vua ban ngôi làng đó cho họ hàng của nàng và dẫn nàng về thành phố trong vẻ huy hoàng tráng lệ hoàng cung. Chàng hưởng hạnh phúc yêu đương với nàng chàng cảm nghiệm được trị v́ vương quốc thái an cho đến khi ngài băng hà. Khi kết thúc tuổi thọ tự nhiên. Khi nhà vua băng hà và nghi lễ an táng đă được cử hành long trọng, cơi ḷng Ubbarī như mũi tên sầu khổ xuyên thủng ngay khi phải xa ĺa nhà vua, ngàn liền đi tới dàn thiêu hoả táng tại đó nàng đă đảnh lễ trong nhiều ngày với hương nhang hoa v.v... nàng khen ngời các ân đức của đức vua và sau đó đi ṿng quanh dàn thiêu của ngài từ phía bên phải[470], khóc lóc và than văn như người điên.

Bấy giờ vào thời Đức Phật của chúng ta là vị Bồ Tát và đă xuất gia trong cuộc sống vị sa môn và đă chứng đắc các thiền chứng và các thắng trí. Trong khi c̣n lưu lại trong một cánh rừng kia trong vùng núi Himālaya ngài đă nh́n thấy bằng thiên nhăn nàng Ubbarī như đang bị xuyên thủng bằng mũi tên sầu khổ. Ngài đă di chuyển trên không và rồi, hiện nguyên h́nh và dừng lại trên không và hỏi dân chúng xem kẻ đang đứng kia là ai. “Dàn thiêu hoả táng của ai vậy?’ và v́ lợi ích cho ai[471] mà người đàn bà kia lại khóc lóc[472] và than văn thảm thương ‘Ôi Brahmadatta, ôi Brahmadatta thế?’ khi họ nghe hỏi như vậy dân chúng nói, ‘Thưa ngài đó chính là bà Ubbarī, vợ của Brahmadatta, là người vừa mới qua đời và nàng đă đi tới dàn thiêu hoả táng của ngài mà khóc lóc than văn thảm thiết đến như vậy. Cứ gọi tên chàng là ‘Brahmadatta’.

Các bậc kiết tập Kinh Tạng đă chèn sáu đoạn kệ này nhằm giải thích vấn đề như sau;

1.      Có một vị vua tên là Brahmadatta, là chúa các vị đánh xe Pancalas; thế rồi sau nhiều ngày, nhiều đêm vị vua đó đă băng hà.

2.      Người vợ Ubbarī của ông ta đă đi tới giàn thiêu hoả táng và khóc lóc thảm thiết; nh́n thấy Brhamadatta không c̣n nữa nàng khóc rằng, ‘Hỡi Brhamadatta”

3.      [163] bấy giờ một vị sa môn đă tới đó, là vị hiền trí[473] có giới hạnh vẹn toàn và ngài đă hỏi những nguời ngài gặp tại đó nói rằng,

4.      Giàn thiêu hoả tảng của ai đó, mà toả ra đủ thứ hương thơm thế kia? Người đàn bà đang khóc lóc thảm thiết kia là vợ của ai vậy? Lại đang khóc người chồng đă đi xa như thế? Là người không c̣n nh́n thấy chồng nữa sao lại khóc ‘Ôi hỡi Brahmadatta?”

5.      Và những người đứng đó giải thích, những người ngài gặp đó giải thích nói rằng, Brahmadatta, ôi người có phước,[474] đó là vợ của Brahmadatta. Thưa ngài.”

6.      Đây chính là giàn hoả thiêu hoả táng của nhà vua đang lan toả với đủ mọi hương thơm đủ loại và vợ của người này đang khóc người chồng đi xa, người vợ không c̣n được nh́n thấy Brahmadatta không c̣n nữa, “Ôi Brhamadatta!”

1. Về điểm này Có một người: ahu = ahosi (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Những người Pañcālas’ (Pañcālānaṃ): là cư dân của vương quốc Pancala; hay chỉ là vương quốc Pancala, v́ dù [475] chỉ là một quốc gia[476] lại được giải thích là số nhiều ‘những người Pancalas’ điều này xẩy ra do (do là tên) của những hoàng tử thuộc về người đánh xe, có nghĩa là người đánh xe oai lực.

2. Đến hoả táng đài thiêu (tassa ālāhanaṃ): Với nơi thân xác của nhà vua được hoả táng.

3. Vị sa môn(isi): ngài là một sa môn v́ lư do ngài đă hoàn tất sau khi đă chu tất được mười lăm pháp chứng này v.v... [477] Tại đó (tattha): đến vị trí Ubbarī đang đứng,[478] có nghĩa là tại nghĩa trang. Đă tới: āgacchi = agamāsi (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Có giới đức vẹn toàn (sampannacaraṇo) nghĩa là có phẩm hạnh giới đức hoàn hảo, vị ấy có và hoàn hảo nơi mười lăm chứng pháp hoàn hảo này được phân loại thành giới hạnh[479] vị ấy đă hoàn tất được thành tựu giới đức, đă thu thúc được các giác quan, biết điều độ trong ăn uống, chuyên cần nơi pháp tinh tiến có bảy phép thù thắng[480] có thể chứng đắc bốn tầng thiền sắc giới. Một vị hiền trí (muni): hiền trí là người thông minh (munāti) biết được những ǵ có lợi cho chính ḿnh và những ǵ có lợi cho người khác. Và ngài đă hỏi những kẻ tại đó (te ca tattha apucchittha): ngài hỏi những người đang ở chỗ đó. Những người ngài gặp tại đó (ye tattha su samāgatā): những người ngài gặp đây kia trong băi tha ma. Su (không được dịch) chỉ là một tiểu từ mà thôi, một cách giải thích khác có thể là “những ngươi ta gặp ở đó là ai vậy?’(ye tatthāsuṃ samāgatā), là nơi (āsuṃ = ahesuṃ ( một dạng ngữ pháp hoán chuyển).

4. [164] Lan toả khắp các vị hương thơm[481] (nānāgandhasameritaṃ): được lan toả và tràn ngập khắp nơi với đủ loại hương thơm. Từ đó (ito) từ cơi con người. Đi xa (dūragataṃ): ngài muốn ám chỉ một sự kiện cho là ngài đă đi tới cơi đời sau[482]. Khóc lóc, “Ôi Brahmadatta” (Brahmadattā ti kandati): nàng đă cầu khấn ngài bằng cách than văn và gọi tên ngài là: Ôi Brahmadatta”.

5. Là vợ của ngài Brahmadatta. Ôi người có phước, Vợ của Brahmadatta, thưa ngài tốt lành (Brahmadatta bhaddante Brahmadatta māirisa): hỡi ngài đại hiền trí có thân và trí hoàn hảo, đây là giàn thiêu hoả táng của nhà vua Brahmadatta và đây là vợ của cùng vị vua Brahmadatta đó. Mong rằng Brahmadatta nhận được ơn phước của ngài, Ôi vị phước đức.[483] V́ chính liên quan đến hạnh phúc của các đại ẩn sĩ[484] giống như ngài, chính là hạnh phúc, niềm sung sướng cho chính những kẻ nào lưu lại tại cơi mai hậu – đây à ư nghĩa.

Khi vị sa môn nghe những lời như vậy ngài tỏ ḷng thương xót từ tâm trứơc sự hiện diện cảu Ubbarī và thốt lên đoạn kệ này với mục đích xua tan nỗi sầu khổ cho nàng.

7.      Tám mươi sáu ngàn người với cùng tên là Brahmadatta đă bị hoả thiêu trên giàn hoả táng. Nhà ngươi đang than van khóc lóc kẻ nào trong số những người đó.

7. Về điểm này tám mươi sáu ngàn người (chaḷāsītisahassāni): trong số tám mươi ngàn cộng với sáu trăm người thêm nữa. Có tên là Brahmadatta (Brahmadatta nāmakā): có tên là Brahmadatta. Khóc lóc người nào đó trong số họ (tesaṃ kaṃ anusocasi): ngài hỏi rằng, ‘họ khóc lóc vị Brahmadatta nào trong số tám mươi ngàn sáu vị Brahmadatta đó? Do đó mà nỗi buồn khổ của nhà ngươi phát sanh ra?’

Khi sa mônhỏi nàng như vậy, Ubbarī thốt lên đoạn kệ này cho thấy nàng muốn ám chỉ vị Brahmadatta nào:

8.      Nhà vua là con trai của Cūḷani, là thủ lănh những người đánh xe Pancalas; chính ta đang than văn vị vua đó, thưa ngài, là người chồng đă thỏa măn mọi ước nguyện của ta.’

8. Về điểm này là con trai Cūḷani (Cūḷaniputto): là con trai của vị vua có cùng tên[485] như vậy. [165] Người đă thoả măn mọi ước mơ cho ta. (sabbakāmadaṃ) ngài là người đă cho ta đủ thứ bất kỳ điều ǵ ta muốn; hay nói cách khác, ngài có thể đáp ứng cho chúng sanh những ǵ họ mong muốn.

Khi Ubbarī đă nói như vậy sa môn một lần nữa lại thốt lên hai đoạn kệ:

9.      Tất cả các vị vua đó đều có tên là Brahmadatta; tất cả đều là con trai của một vị Cūḷani và chúa những tên đánh xe Pancalas.

10.  Là chánh hậu nhà ngươi lần lượt cho tất cả họ sau; Tại sao nhà ngươi lại quên mất những người trước đó và chỉ than văn chỉ một người cuối cùng này mà thôi.?”

9. Về điểm này Tất cả đều là (sabbe ’va hesuṃ): toàn bộ những người đó lên tới tám mươi sáu ngàn người đều là vua cả với tên là Brahmadatta. Đều là con trai của vị Cūḷani và cũng là chúa những người đánh xe Pancalas; những điều kiện được làm một vị vua trong số họ đâu có ǵ phân biệt rơ ràng đâu. Ngay cả chỉ ở một điểm duy nhất mà thôi.

10. Nhà ngươi có hành động như là chánh hậu (mahesittam akārayi): và đối với tất cả họ theo thứ tự nhà ngươi đă hành động[486] trong tư thế một chánh hậu. Có nghĩa là nhà ngươi đă đạt đến địa vị đó. Tại sao vậy? (kasmā): ngài hỏi, “trong số toàn bộ những con người đó, không có ai được phân biệt[487] cho dù có mặc áo giống như người chồng hay trong số những phẩm chất đặc biệt cá nhân của họ. Tại sao, v́ lư do ǵ, nhà người lại bỏ qua những người trước đó và chỉ than văn một người cuối cùng mà thôi?’

Khi nàng nghe được vị Ubbarī này ḷng tràn đầy cảm động và một lần nữa thốt lên một đoạn kệ với ngài sa mônnhư sau:

11.  ‘Có phải chính ta là một người đàn bà trong ṿng một thời gian dài đến như vậy sao? thưa ngài đáng kính, thế v́ kẻ nào thường đă là một người đàn bà nơi ṿng luân hồi?’

11. Về điểm này, chính ta: ātume = attani (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Phải chăng ta là một người phụ nữ? (itthibhūtāya): phải chăng ta đă làm kiếp một người phụ nữ? Trong một khoảng thời gian dài như vậy? Dīgharattāya = dīgharattaṃ (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Đây chính là ư nghĩa: phải chăng chính ta là người phụ nữ, phải chăng ta chỉ là một phụ nữ trong suốt thời gian đó hay ta cũng đă làm kiếp đàn ông? Chính ta mà ngài đă nói đến làm kiếp phụ nữ: yassā me intthibhūtāya = yassā mayhaṃ itthibhūtāya (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Ta mà ngài đă nói đến có nghĩa là, ngài đă kể lại, thưa ngài đại hiền trí. Là người đă là kiếp phụ nữ như vậy, đă là kiếp chánh hậu thường xuyên nơi ṿng luân hồi. Một cách giải thích khác đó là “Ôi, chính ta nhớ lại rằng ta là một người phụ nữ,’ (ātumo[488]itthibhūtāya)[489]. Về điểm này, Ôi! chính ta đă nhớ lại (a) là một tiểu từ ám chỉ tập thể.[490]Chính ta (tumo): do chính bản thân ta (sayaṃ); đây là điều ta đă nhớ lại, ta đă biết. Đó là chính ta đă là một phụ nữ. (itthibhūtāya): đó là chính ta đă xuất hiện làm kiếp phụ nữ [166]luôn luôn xuất hiện tái sanh[491] liên tục như vậy đối với ta trong một thời gian dài. Tại sao? V́[492]chính ta là người mà ngài đă nói tới, thưa vị đại hiền trí, đă được làm kiếp phụ nữ thường xuyên nơi ṿng luân hồi (chẳng hạn) ‘đối với tất cả các vị vua nhà ngươi đă chẳng hành động như là chánh hậu sao[493] - đây là cách ta nên phân tích [494].

Khi nghe qua những lời này đạo sĩ liền thốt lên đoạn kệ cho thấy trong ṿng luân hồi chẳng có quy luật nào là một người đàn bà chỉ là đàn bà mà thôi và một người đàn ông chỉ là đàn ông mà thôi.[495]

12.  Nàng đă là một người đàn bà, nàng đă là một người đàn ông, nàng cũng đă tái sanh nơi kiếp súc sanh, giới hạn nơi quá khứ lâu dài này sẽ không được nhận ra rơ rằng như vậy.

12. Về điểm này nhà ngươi đă sanh làm kiếp phụ nữ, nhà ngươi đă sanh làm kiếp đàn ông (ahu itthi ahu puriso): đă có thời nhà ngươi là một phụ nữ, và có thời nhà ngươi là người đàn ông. Những đây không phải tuyệt đối là vấn đề làm phụ nữ hay là đàn ông, v́ dầu sao, nhà ngươi cũng đă tái sanh làm kiếp súc sanh đă có thời nhà ngươi cũng đă tái sanh[496] làm loài vật như trâu ḅ và nhà ngươi cũng đă tái sanh làm kiếp súc sanh khác.[497] Giới hạn của quá khứ lâu dài này đă không được xem thấy rơ ràng (evam etaṃ atītānaṃ pariyanto na dissati): Giới hạn ranh giới của hiện hữu trong quá khứ lâu dài này – kiếp làm phụ nữ như đă nói ở trên, là đàn ông và làm súc sanh v.v... mà nhà ngươi đă phải trải qua – như vậy không được thấy rơ ràng, ngay cả đối với những kẻ nào xem ra có vẻ cố gắng hết sức bằng con mắt trí tuệ. Nhưng điều này không thể áp dụng vào cho nhà ngươi mà thôi : tuy nhiên giới hạn tái sanh của toàn thể chúng sanh đang phải du hành trong ṿng luân hồi phải được thấy rơ, phải được tỏ lộ. V́ lư do này Đức Phật có nói. ‘Hỡi các tỳ khưu, ta không thể nhận ra đâu là khởi điểm của ṿng luân hồi này, khởi điểm của ṿng luân hồi này không được vén mở trong ṿng luân hồi; và chúng sanh lại bị vô minh cản trở và ái dục trói buộc.’[498]

Khi nàng đă nghe được Phật Pháp do các sa môn diễn giải như vậy trong đó ngài đă làm rơ ảnh hưởng của các hành vi[499]và ṿng luân hồi th́ vô giới hạn, với ḷng đầy súc động liên quan đến ṿng luân hồi và với tịnh tín trong ḷng đối với Phật Pháp mũi tên sầu khổ của nàng đă biến mất và thốt lên ba đoạn kệ cho biết ḷng tịnh tín của nàng và sầu khổ nơi nàng tan biến như thế nào:

13.  Quả thật ta đă bị thiêu rụi, giống như một ngọn lửa được châm thêm thục; nhưng giờ đây toàn bộ nỗi sầu khổ của ta đă bị dập tắt như thể ta đă được rẩy nước.

14.  [167] Quả thật mũi tên sầu khổ[500]đă xuyên qua tim ta đă được rút ra. Ngài đă đẩy lùi sầu khổ đó. sầu khổ đối với chồng ta đă tràn ngập tâm ta.

15.  Với mũi tên được rút ra, ta trở nên an tịnh và tươi mát; v́ nghe ngài, thưa vị Đại hiền trí ta không c̣n than văn và khóc lóc làm ǵ nữa.’

Ư nghĩa của những điều trên đă được đưa ra ở trên rồi[501]

Vị Đạo sư nói thêm bốn đoạn kệ cho thấy thái độ của Ubbarī giờ đây đă tràn ngập xúc động.

16.  Khi nàng nghe những lời của ngài, những lời được thốt lên một cách khôn khéo, nàng đă lấy bát khất thực áo cà sa và xuất gia tham gia cuộc sống vô gia cư.

17.  Và nàng, trở thành một người xuất gia đi theo cuộc sống vô gia cư, tu luyện trí tuệ tâm từ ái dẫn đến tái sanh nơi cơi Phạm Thiên.

18.  Du hành từ làng này qua làng khác, từ thị trấn này sang thị trấn khác và đến các kinh đô các vương quốc, Uruvela là tên ngôi làng nàng đă qua đời tại đó.

19.  Sau khi đă trau dồi tâm từ ái nhằm dẫn đến tái sanh nơi cơi Phạm Thiên và sau khi đă bỏ sang một bên những suy nghĩ của một phụ nữ nàng đă đạt đến cơi phạm thiên.[502]

16. Về vấn đề này của ngài (tassa): của vị sa mônđó: lời nói khéo thuyết giảng: subhāsitaṃ [503]= suṭṭhu bhasitaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) có nghĩa là Phật Pháp.

17. Người đă xuất gia (pabbajitā): kẻ đă theo đuổi cuộc sống vô gia cư. Trở thành: santā = samānā (một dạng ngữ pháp hoán chuyển); hay sau khi đă trở thành kẻ xuất gia. nàng đă được an tịnh (santā) nơi thân và khẩu.[504] Từ tâm ái (mettacittaṃ): tâm đi kèm (câu hữu) với từ. Ngài đề cập đến các tầng thiền được chứng đắc do tâm từ xuất hiện dưới tiêu đề tâm. Nhằm được tái sanh nơi cơi Phạm Thiên (brahmaloka) (brahmalokūpapittiyā): và trong việc tu tập từ tâm ái nàng đă làm như vậy nhằm được tái sanh nơi cơi Phạm Thiên, không với mục tiêu thiết lập nền tảng[505] cho trí tuệ (nhập thiền)[506] Tuy nhiên trước khi Đức Phật xuất hiện, th́ các vị sa môn và những kẻ xuất gia đang tu luyện các tứ vô lượng tâm (brahmaviharas)[507] v.v... thực hiện như vậy chỉ nhằm mục đích đạt đến thù thắng cho kiếp sống[508] mà thôi.

18. [168] Du hành từ làng này sang làng kia (gāmā gāmaṃ): đi từ làng này sang làng khác.

19. Sau khi đă trau dồi tu tập (ābhāvetvā): sau khi đă tập luyện, Sau khi đă phát triển, một số lại giải thích là abhāvetvā, tiếp đầu ngữ có từ a chỉ là một tiểu từ dành cho họ. Sau khi đă gạt sang một bên các tư tưởng của nữ nhân (itthicittaṃ virājetvā): sau khi đă đoạn trừ được những tư tưởng, những khuynh hướng, và những ước muốn của phụ nữ [509] của nữ nhân, tâm của nàng đă được tách khỏi phụ nữ tính. Nàng đă đạt đến cuộc sống phạm thiên (brahmalokūpagā): nàng là người đă dạt đến cuộc sống phạm thiên bằng cách tái sanh. Những ǵ c̣n lại đă quá hiển nhiên v́ đă được giải thích ở trên.

Khi Đức Phật đă kể lại việc diễn giải Phật Pháp và xua tan nỗi sầu khổ cho thiện nữ đó. Sau đó ngài đă ban cho nàng giáo lư về Tứ Diệu Đế và cuối cùng tín nữ đă trở nên an trú nơi chánh quả nhập lưu. Giáo lư đó cũng đem lại lợi ích cho đoàn người tụ tập lại ở đó.

Việc chú giải Uất Ba lợi chuyện Ngạ quỉ kết thúc tại đây – như vậy việc chú giải ư nghĩa phẩm thứ hai về Ubbarī đă được tô điểm với mười ba chuyện kể Chuyện Ngạ quỉ trong tập Chuyện Ngạ quỉ thuộc Tiểu Kinh bộ đă kết thúc[510].

 

-ooOoo-

 

[460] Vương quốc của nhà vua Paṅcāla được chia ra thành vùng bắc (Uttara-Paṅcāla) và vùng miền nam (Dakkhiṇa-Paṅcāla) tọa lạc giữa vương quốc Kuru và vương quốc Kosala. Vương quốc Paṅcāla được định vị ở vùng bắc và đông nam Delhi ngày nay tính từ chân núi Himalaya tới Chambal kể cả vùng Budam, Farukkhabad và các thị trấn phụ cận đó. B.N Chaudhury. Các Trung Tâm Phật giáo nơi ấn độ cổ., Calcutta 1969, tr 33; xin đọc chú giải DPPN ii 108. Đa số các nguồn tư liệu đều đồng ư chọn Kapila (thường ghi là Kampila, Kāmpilya v.v…) lại nằm trong vương quốc Dakkhiṇa-Pañcāla.

[461]. Chuyện kể về ông được t́m thấy trong Kinh Bản Sanh Mahā-Ummagga (no. 546); xin đọc chú giải Uttaradhyayama xiii (SBE xlv 56- 61) là một chuyện kể về jaina.

[462]. agatigamanaṃ. Là bốn điều bất thiện đó là ước muốn bất thiện (chanda) sân hận (dosa) sân si (moha) và sợ hăi (bhaya).

[463]. Dasa rājadhamme: bố thí, tŕ giới, quảng đại, ngay thẳng, hiền lành, tự kiềm chế, không tức giận, không bạo loạn, chịu đựng và không đối nghịch.

[464]. Chú giải Se Be giải thích là anupapīlaṃ c̣n bản văn ghi là anupīlaṃ.

[465]. Chú giải Se Be giải thích là bhattañ ca vetanañ ca c̣n bản văn ghi là vatthañ ca veṭhanañ ca veṭhanañ ca.

[466]. kattabbaṃ; Se Be bỏ qua.

[467]. Chú giải Se Be giải thích là bhattavetanaṃ vā c̣n bản văn ghi là vatthaṃ vā veṭhanañ ca.

[468]. Chú giải Se Be giải thích là jīvanūpāyaṃ c̣n bản văn ghi là jīvanupāyaṃ.

[469]. Chú giải Se Be giải thích là mā ukkaṇthasi c̣n bản văn ghi là mā khuṇḍali; xin đọc chú giải PED sv khuṇḍali khi nào cần đến việc giải thích từ ukkhaṇṭhi.

[470]. Xin đọc chú giải KvA 74.

[471]. Chú giải Se Be giải thích là kassatthāyaṃ cāyaṃ c̣n bản văn ghi là kass’ athāyaṃ

[472]. Chú giải Se Be giải thích là paridevati c̣n bản văn ghi là paridevantī.

[473]. Muni.

[474]. Chú giải Se Be giải thích là bhaddante c̣n bản văn ghi là bhaddan te.

[475]. Chú giải Se Be giải thích là eko pi hi c̣n bản văn ghi là eko pi.

[476]. Chú giải Be giải thích là janapadikānaṃ c̣n bản văn ghi là janapadādhikānaṃ; Se -ādhikatānaṃ.

[477]. Xin đọc chú giải PvA 98, 265. để biết những chi tiết tương tự như nhau.

[478]. Chú giải Se Be giải thích là Ubbarīyā ṭhitaṭṭhane c̣n bản văn ghi là ubbhataṭṭhane.

[479]. chú giải Md I 32, 273. 354tt 471; S ii 218; Tăng Chi Bộ Kinh (A) I 113. ii 40, iv 108.

[480]. Ngài có niềm tin (saddha) tàm (hirima) vô tàm (ottappi) là người nghe nhiều, tinh tấn ngài được khuẩy động lên, thiền định của ngài nổi lên, có được tuệ quán; xin đọc chi tiết trong Trung Bộ Kinh (M) I 356; xin cũng đọc D iii 252, 282; Trung Bộ Kinh (M) I 354, iii 23; Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 108.

[481]. Xin đọc PvA 156.

[482]. Paraloka

[483]. Chú giải Se giải thích là bhaddante c̣n bản văn Be ghi là bhaddan te.

[484]. Xin đọc Trung Bộ Kinh (M) I 378 trong đó qua nghiệp ác ư nơi các sa môn sống trong rừng Dandaka, Kalinga. Mejjha và Matanga đă trở thành những cánh rừng trở lại cũng như năm mươi thành phố có kích cỡ bằng Nalanda cũng đă bị biến thành tro bụi.

[485]. Chú giải Uttaradyayana xiii 1 tt (SBE slv 57) ở đây chúng ta không biết vận mệnh cảu Brahmadatta nhưng trong chuyện kể Jaina th́ hắn phải kết thúc trong hỏa ngục.

[486]. Akasi – cũng vậy chú giải Be Se giải thích là một lời chú thích vê akarayi ; c̣n bản văn lại bỏ qua.

[487]. Chú giải Se Be giải thích là avisiṭṭhesu.

[488]. Chú giải cả hai ở đây và ở dưới bản văn của chúng ta vll; tất cả các bản văn đều ghi là āhu me.

[489]. Chú giải Be giải thích là itthibhūtāyā ti c̣n bản văn ghi là itthibhūtāya ti ; Se giải thích là itthibhūtā ti.

[490]. Chú giải Se Be giải thích là anussaraṇatthe c̣n bản văn ghi là anusaraṇatthe.

[491]. Với Chú giải Be Giải thích là aparāpar uppatti c̣n bản văn Se ghi là aparā’va (Se ca) anuppatti.

[492]. Chú giải Be giải thích là yasm; Se giải thích là tasm trong khi đó bản văn lại bỏ qua.

[493]. Đây rơ ràng là một trích đoạn từ đoạn kệ trước đó nhưng không bản văn nào thêm vào cả.

[494]. Dhammapāla rơ ràng đă bắt gặp một đoạn kệ hư hỏng không c̣n nguyên vẹn.

[495]. Chú giải Se Be giải thích là ayaṃ niyamo saṃsāre ṅ’ atthi c̣n bản văn ghi là ayaṃ niyamo saṃsāreṅ’atthi; PED sv niyaṃ nên được sửa lại cho phù hợp.

[496]. Chú giải Be giải thích là agamāsi c̣n bản văn Se ghi là āgamā.

[497]. Đó là “đàn ḅ” hiểu theo nghĩa rộng có thể là đàn cừu, đàn ngựa v.v… từ Pāli pasu cũng được định nghĩa tương tự như thế trong PvA 80 ở trên.

[498]. Cho dù được khẳng định trong Trung Bộ Kinh (M) I 483 là Đức Phật có thể nhớ được chín mươi mốt niên đại và cho dù tư liệu đoạn văn này liên quan đến kiến thức của ngài nơi các kiếp truớc điều đó cũng khẳng định ngài nhớ được nhiều niên đại tiền kiếp.

[499]. Kammassa kataṃ. Hiểu theo nghĩa đen là các nghiệp đă được thực hiện.

[500]. Chú giải Se Be giải thích là sokaṃ c̣n bản văn ghi là etaṃ.

[501]. Xin đọc PvA 41

[502]. Xin đọc chú giải ‘Không thể được, không thể nào có thể diễn ra một phụ nữ có thể là một Dạ xoa được.

[503]. Ở đây bản văn đă giải thích sai là subāasitaṃ.

[504]. Xin đọc Dhp 378.

[505]. Chú giải Se Be giải thích là pādakādi c̣n bản văn ghi là pādakāpādakādi.

[506]. Vipassanā; Tứ vô lượng tâm, trong đó ḷng từ tâm này là một có thể dẫn đến thiền tầng jhanas khác nhau. và như vậy tiếp theo sau là tái sanh nơi cơi Phạm thiên đó là bản đối chiếu khổng lồ của họ vậy. xin dọc eg Trung Bộ Kinh (M) ii 78, 207, Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 128tt. 184, iii 224tt.

[507]. Xin đọc D I 1235 –253.

[508]. Yāava-d-eva bhavasampatti-attham eva – Be cũng giải thích giống như vậy.

[509]. Itthibhāve. Theo nghĩa đen là một người phụ nữ.

[510]. Chú giải Be cũng giải thích như vậy.