|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
1.2. Chú giải chuyện ngạ quỉ HEO RỪNG ‘Thân xác nhà ngươi toàn một mầu vàng.’ Vị Đạo sư đă thuật lại chuyện kể này khi ngài c̣n đang lưu lại trong “Khu đất Cho Sóc Ăn” ngay trong Khu Rừng Trúc gần thành Rājagaha liên quan đến một ngạ quỉ có mặt lợn ḷi. Người ta kể lại rằng cách đây đă lâu dưới thời Đức Thế Tôn Kassapa1, có một vị tỳ khưu thực hiện kiềm chế thân xác rất nghiêm ngặt nhưng lại không kiềm chế lời nói và vị tỳ khưu đó có thể dễ dàng súc phạm và lăng mạ các tỳ khưu khác. Khi tỳ khưu ấy qua đời ngài phải tái sanh trong hỏa ngục2 ngài đă bị nướng trong hỏa ngục suốt thời gian một Phật kỳ. Đến thời kỳ này vị đó chết đi tại đó, như dự báo[46] chính nghiệp của hành vi đó, và đă sanh làm ngạ quỉ do đói khát khuất phục[47] ngay dưới chân núi Chim Kên Kên (Vulture) gần thành Rājagaha. Thân xác ngài chỉ toàn một màu vàng, nhưng gương mặt lại giống như mặt lợn ḷi. Vào lúc này có trưởng lăo Nārada đang lưu lại trên ngọn núi Kên Kên đó sau khi đă thực hiện thanh tẩy thân thể vào buổi sáng ngài[48] đắp y cà sa, lấy bát khất thực và đi đến thành Rājagaha để kiếm vật thí[49]. Trên đường đi trưởng lăo đă nh́n thấy ngạ quỉ đó và thốt lên đoạn kệ t́m hiểu xem ngạ quỉ đó đă làm ác nghiệp ǵ: 1. Thân xác ngài toàn một màu vàng, toả sáng khắp tứ phương thiên hạ, ấy vậy tại sao mặt ngài thuộc hạng lợn ḷi, ngài quả đă làm ác nghiệp ǵ nên vậy? 1. Về điềm này thân xác ngài toàn màu vàng (kāyo te sabbasovaṇṇo) thân xác nhà ngươi, bản thân nhà ngươi chỉ toàn một màu vàng óng, giống như ánh sáng vàng nóng chảy ra. Đă toả ánh sáng khắp tứ phía (sabbā obhāsate disā): thân xác nhà ngươi chiếu sáng, toả sáng, ra tứ phương bằng những tia sáng chói chang; hay nói cách khác thành ngữ ‘toả ánh sáng ra’ (obhāsate) thể ám chỉ thuộc cách tuy nhiên lại không được diễn tả bằng dạng ngữ pháp[50] có nghĩa là thân xác nhà ngươi chỉ toàn màu vàng óng; toả sáng (obhāseti), nó chiếu sáng khắp tứ phương’ - chính v́ thế ta nên coi đó là chiếu sáng khắp tứ phương’. Ấy vậy mặt ngài giống mặt lợn ḷi. (mukhan te sūkarass ’eva) nhưng gương mặt của ngươi lại giống mặt lọn ḷi. Có nghĩa là bộ mặt nhà ngươi trông giống như bộ mặt con lợn ḷi. Trong quá khứ nhà ngươi đă làm ác nghiệp ǵ vậy? (kiṃ kammam akarī pure): trưởng lăo hỏi nhà ngươi đă thực hiện loại ác nghiệp ǵ trong quá khứ. Trưởng lăo đă đặt câu hỏi như vậy về nghiệp ngạ quỉ đă làm trong quá khứ, ngạ quỉ đó đă trả lời bằng thốt lên đoạn kệ sau: 2.“Ta đă kiềm chế thân xác; nhưng lời nói th́ không. Hỡi ngài Nārada chính v́ thế mà diện mạo ta giống như ngài thấy đó. 2. Về điểm này ta đă kiềm chế thân xác (kāyena saññato āsiṃ): ta đă kiềm chế thân xác rất kỹ, ta đă kiểm soát những ǵ liên quan đến các thân môn giác quan.[51] [11] trong lời nói ta lại bỏ qua không kiềm chế (vācāyāsim asaññato): trong những vấn đề liên quan đến lời nói ta lại không kiềm chế chút nào. V́ lư do đó (tena): v́ lư do ta đă không thực hiện cả hai cách kiềm chế và thiếu kiềm chế[52]. Của ta: me = mayhaṃ): như thế đó, hỡi Nārada, chính ngài có thể thấy đó ta đă có diện mạo như thế đó là thân xác ta có dáng điệu con người và có màu vàng óng nhưng bộ mặt của ta lại giống như bộ mặt con lợn ḷi. Đây quả thực là điều nên được phân tích kỹ lưỡng. Từ “bộ mặt” hay “ diện mạo’(vaṇṇo) ở đây nên được coi như có liên quan đến màu da và h́nh dáng[53]. Khi ngạ quỉ đă trả lời vị trưởng lăo như vậy về những điểm đă hỏi, ngạ quỉ thốt lên đoạn kệ sau, để động viên vị trưởng lăo: 3. Hỡi Nārada ta nói cho nhà ngươi hay chính nhà ngươi đă nh́n thấy như vậy, xin đừng bao giờ phạm phải những ác nghiệp, để không phải kết cục bằng bộ mặt lợn ḷi [54]. 3. Về điểm này chính v́ thế : tam = tasma (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). ta nói với nhà ngươi : tāhaṃ=te ahaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Nārada (Nārada): ngạ quỉ nói với vị trưởng lăo. Hăy cho biết (brumi): hăy nói cho biết.Chính nhà ngươi (sāmaṃ): chính nhà ngươi. Điều này (idaṃ):ngạ quỉ nói liên quan đến chính thể xác của hắn. Đây chính là ư nghĩa; ‘Hỡi Nārada, v́ ngài đă nh́n thấy bằng chính mắt ḿnh thân xác của ta thực sự có h́nh dáng con người từ cổ trở xuống và có h́nh dáng con lợn ḷi (từ cổ trở lên) chính v́ thế ta nói để động viên nhà ngươi’ Ngạ quỉ [55]đă nói ǵ thể? Xin đừng phạm những ác nghiệp qua khẩu, để khỏi phải kết cục bằng bộ mặt lợn ḷi! Ở đây, no (ma) là một tiểu từ diễn tả việc cấm đoán. Bằng lời nói:mukhā = mukhena (một dạng ngữ pháp khác). Kho (không được dịch) dùng để biểu thị nhấn mạnh. Xin đừng phạm phải, xin đừng thực hiện, bất kỳ hành vi bất thiện nào bằng lời nói, để không phải kết cục bằng gương mặt lợn ḷi (mā kho sūkaramukho ahu)[56] đơn giản là[57] xin đừng kết thúc với gương mặt lợn ḷi như ta đă làm. Nhưng nếu ngài tỏ ra tục tữu lỗ măng và phải thực hiện những hành vi bất thiện trong lời nói th́ chắc chắn nhà ngươi sẽ phải kết cục bằng gương mặt lợn ḷi. Chính v́ thế ngạ quỉ đă cảnh báo trưởng lăo, nói rằng, “Xin đừng phạm phải hành vi bất thiện qua khẩu” để có thể ngăn không cho bộ mặt có kết quả như vậy. Thế rồi Trưởng lăo Nārada tiến vào thành Rājagaha để kiếm vật thực. Sau bữa ăn trưa ngài quay trở về sau cuộc du hành khất thực và ngài đă nêu vấn đề cho Đức Phật biết ngài đang ngồi thiền giữa bốn tăng đoàn. Vị Đạo sư lên tiếng, [12] “Hỡi trưởng lăo Nārada, ta cũng đă nh́n thấy con người đó trong quá khứ’ và rồi ngài diễn giải Phật Pháp bằng vô số cách khác nhau[58] những lợi thế liên quan đến ác hạnh và những lợi thế liên kết với hạnh thiện trong lời nói. Bài diễn giải đem lại lợi cho chúng sanh tụ tập lại ở đó.
-ooOoo-
1. Phật tổ trước Đức Phật Cồ Đàm. 2. niraye. Một số dịch là ‘địa ngục’ nhưng toàn bộ chúng sanh đều là địa ngục do luật nghiệp chướng đem lại. [46]. Chú giải Be Se giải thích là vipākāvasesena c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là vipākavasena. [47]. Chú giải Be Se giải thích là khuppipās ābhibhuto peto c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là khuppipāsāhi puṇūpeto; xin dịch chú giải PED sv guṇa [48]. Sarīrapaṭijagganaṃ, không thấy ghi trong tự điển PED. [49]. Chú giải Se Be giải thích là piṇdāya c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là piṇḍacāratvāya. [50]. Anto-gadha-hetu-atthaṃ, xin đọc CPD sv. [51]. Chú giải Be giải thích là kāyadvārikena ; c̣n bản văn Kinh Tạng và chú giải Se giải thích là kāyañ cārikena. [52]. Chú giải Se Be giải thích là saṃyamena (ca) asaṃyamena ca c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là sađđamena ca. [53]. Chú giải Se Be giải thích là chaviyam saṇthāne ca c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là chavisaṇṭhāne ’va. [54]. Ma kho sūkaramukho ahu. Theo nghĩa đen là ‘xin đừng trở thành mặt lợn ḷi.’ [55]. Chú giải giải thích là kim idan ti peto āha c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là kin idan ti petī āha; chú giải Se giải thích là kim idam peto āha trong khi đó chú giải Be giải thích là kin ti ceti āha. [56]. Bản văn Kinh Tạng nên chữa lại cách chấm câu để có thể giải thích với Se Be; mā karohi. Mā kho sūkaramukho ahū ti ahaṃ viya… [57]. Chú giải Se Be giải thích là māa ahosi, c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là ahosi. [58]. chú giải Se Be giải thích là anekākaravokāraṃ c̣n bản văn Kinh Tạng ghi là anekā kāravo kāraṃ
|
|
![]()