|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
II.7 Chú giải chuyện ngạ quỉ GIỮ CỦA ‘Nhà ngươi lỏa lồ và có diện mạo kinh dị.’ Chuyện kể này được thuật lại khi vị đạo sư đang lưu lại tại khu rừng Jeta liên quan đến ngạ quỉ Dhanapāla. Người ta kể lại rằng trước thời Đức Phật xuất hiện trong thành phố Erakaccha trong vương quốc Dasaṇṇas[164] có một thương nhân giàu có tên là Dhanapālaka là nguời không có niềm tin cũng chẳng có tịnh tín và là người keo kiệt lại chấp theo tà kiến natthika[165]. Những hành vi của ông ta cũng được biết đến trong bản văn Kinh Tạng.[166] Khi qua đời ông đă phải tái sanh thành ngạ quỉ sống trong sa mạc hoang địa. Thân h́nh ông ta được sánh với thân cây thốt nốt[167] da của ông nổi u nhọt và thô nháp trông thật khủng khiếp, xấu xí và dị dạng không thể tả được. – một cảnh tượng thật khủng khiếp. Phải chịu đói khát và lưỡi của ông thè ra khỏi cổ họng khô cứng[168]. Ông ta phải đi lang thang khắp nơi này đến nơi khác trong ṿng năm mươi lăm năm không kiếm ra được chút ǵ để ăn, dầu chỉ một hột cơm hay một giọt nước để uống. [100] Thế rồi khi Đức Phật xuất hiện trên cơi đời này và khởi động Chuyển Pháp Luân và đến đúng thời gian qui định ngài đang lưu lại tại thành Sāvatthi, có một số thương gia, là cư dân Sāvatthī, đă chất đầy năm trăm chiếc xe hàng, và di chuyển tới Uttarapatha[169], họ bán số hàng tại đó và lại chất đầy hàng lên số xe đó và quay trở về. Khi quay trở vào buổi tối họ đi tới một con sông cạn nước[170]. Tại đó họ tháo ách ḅ và cắm trại qua đêm. Khi ngạ quỉ đó v́ quá khát liền tới đó t́m xem có thứ ǵ để uống vào bụng. Khi ngạ quỉ không thể kiếm được ngay chỉ một giọt nước tại đó, hắn nằm xấp xuống, thất vọng giống như thân cây thốt nốt khổng lồ bị chặt ngay tại gốc.[171] Khi nh́n thấy ngạ quỉ những người buôn bán liền hỏi với đoạn kệ sau: 1. ‘Nhà ngươi loả lồ và có diện mạo gướm ghiếc, gầy g̣ với những đường gân hiện rơ, chàng là người gầy g̣ ốm yếu, xương sườn hiện ra, giờ đây, ngươi là ai mà đứng trân người ra như vậy. Nhân đó Ngạ Quỉ nói rơ gốc gác danh tánh của ḿnh rằng. 2.‘Thưa ngài, ta là một Ngạ quỉ, ta đă phải tái sanh vào cảnh khốn khổ nơi cơi Diêm Vương; sau khi đă thực hiện ác nghiệp, ta đă phải lang thang từ nơi này tới cơi ngạ quỉ. Họ lại hỏi ngạ quỉ thêm một lần nữa về hành vi chàng đă thực hiện: 3. ‘Giờ đây chàng đă thực hiện ác nghiệp bằng thân khẩu hoặc ư? Do kết quả của hành vi nào chàng đă phải đi lang thang từ đây sang cơi các ngạ quỉ?’ Ngạ quỉ liền thốt lên những đoạn kệ này kể lại những hoàn cảnh quá khứ hiện tại và tương lai từ địa điểm tái sanh đầu tiên trở đi, và cho họ một lời động viên như sau: 1. ‘Có một thành phố thuộc vương quốc Dasanas, là thành phố nổi tiếng Erakaccha, trong quá khứ ta đă là một thương gia giàu có tại đó, và ta được biết đến với cái tên là Dhanapala (người giữ của) 2. Ta có tám mươi xe chất đầy vàng, ta cũng c̣n một số vàng, ngọc trai và đá quí với số lượng rất lớn. 3. Cho dù có số tài sản[172] kếch xù đến vậy, nhưng ta chẳng màng ǵ đến bố thí cả. Ta đóng cửa ngồi ăn trong nhà kẻo những kẻ ăn mày có thể nh́n thấy đang ăn. 4. Ta chẳng có niềm tin và rất keo kiệt bủn xỉn và hay la mắng người khác. Ta lại có thói quen ngăn cản nhiều người khi họ bố thí và thực hiện việc thiện. 5. [101] Nói rằng, “Bố thí chẳng đem lại kết quả ǵ cả’[173] ta đă phá bỏ các đầm sen và những nơi cung cấp nước uống khác, những khu công viên giải trí, những đường kênh dẫn nước bên đường và cả những cây cầu là nơi khó ḷng có thể vượt qua được. 6. Ta chẳng thực hiện việc thiện, Ta chỉ làm toàn những việc bất thiện. Khi ta phải rơi từ đây xuống đó và sanh trong cơi ngạ quỉ, ta bị đói khát hành hạ trong ṿng năm mươi lăm năm kể từ khi ta qua đời. 7. Ta chẳng ư thức được ḿnh đă ăn đă uống thứ ǵ và cho rằng những kẻ nào thu thúc chỉ cốt đi đến huỷ hoại. Kẻ nào đi đến huỷ hoại chỉ v́ thu thúc mà thôi. Người ta kể lại rằng ngạ quỉ biết rơ kẻ nào thu thúc chỉ cốt đi đến huỷ hoại. 8. Trong quá khứ ta cũng đă bị cản trở như thế. Ta chẳng bố thí ǵ cả cho dù ta có rất nhiều tài sản dồi dào; cho dù việc cúng dường nằm trong tầm tay. Ta chẳng t́m bất kỳ nơi nương tựa nào cho chính ḿnh. 9. Sau này ta cảm thấy hối hận về chính những hành vi của ḿnh (bắt đầu) cho kết quả.[174] chỉ bốn tháng sau ta đă phải qua đời. 10. Và phải rơi xuống hỏa ngục khủng khiếp và ác liệt, có bốn góc với bốn cổng, được chia thành nhiều phần bằng nhau, vây quanh là những bức tưởng sắt và c̣n có mái sắt che ở trên. 11. Nền hoả ngục nóng rực sáng làm bằng sắt đỏ rực. Hoả ngục trải rộng khắp một trăm du tuần, và tồn tại vững vàng đến như vậy. 12. Ta đă phải trải qua biết bao nhiêu cảm thọ đau khổ trong một thời gian dài do kết quả của những ác nghiệp ta đă thực hiện. - chính v́ lư do này mà ta đă phải vô cùng đau khổ. 13. Chính v́ thế ta nói với các ngài, “Ta xin chúc lành đến tất cả mọi người đă tụ tập lại nơi đây, xin đừng bao giờ phạm phải những hành vi bất thiện cho dù công khai hay kín đáo. 14. V́ nếu như các ngài chỉ thực hiện hay muốn thực hiện những hành vi bất thiện th́ các ngài sẽ không tránh khỏi đau khổ cho chính các ngài, ngay cả các ngài có thể bay lên trời[175] hay trốn xuống chỗ nào đi nữa. 15. Xin hăy hiếu thảo với mẹ, hiếu thảo với cha; kính trọng các vị trưởng lăo cao niên trong gia đ́nh, (hăy kính trọng các vị sa môn và bà la môn. – bằng cách này các vị sẽ được tái sanh trên thiên đàng.’ 4. Về điểm này thành phố thuộc dân Dasannas (Dasaṇṇāṃ): thuộc vương quốc những người Dasaṇṇas hay các vị vua có tên như vậy.[176] Erakaccha (Erakacchaṃ): chính là tên thành phố. Tại đó (tattha): trong thành phố đó. Trong quá khứ (pure): [102] trước kia, nơi kiếp trước. Ta được biết đến với tên gọi là Dhanapala (Dhanapālo ti maṃ vidu): họ biết đến ta như là một thương nhân giàu có tên là Dhanapala. Hắn ta đă thốt lên đoạn kệ bắt đầu với “tám mươi” cho thấy lư do tại sao cái tên đặc bịêt này được đặt cho ta vào thời điểm đó.[177] 5. Về điểm này Có tám mươi chiếc xe chất đầy hàng hoá (asiti sakaṭavāhānaṃ)[178] hai mươi khārī[179] lô hàng được coi như bằng một xe hàng. Thực chất Tám mươi xe chất đầy vàng và bằng với kahapanas[180] là của ta. – đây là điều cần được phân tích. Tôi có rất nhiều vàng (pahūtaṃ me jātarūpaṃ): rất nhiều vàng đo bằng vô số các bhārās[181] ở đây cũng có liên quan đến động từ ‘were’ 6. Ta không thích bố thí (na me dātuṃ piyaṃ ahu): ta không thích thực hiện bố thí. Kẻo những tên ăn mày có thể nh́n thấy tôi (ma maṃ yācanakāddasuṃ): ta đóng cửa nhà lại trước khi ăn nghĩ rằng, ‘để bọn ăn mày không thể nh́n thấy ta.” 7. Keo kiệt (kadariyo): vô cùng bần tiện. Lăng mạ (paribhāsako): ông ta nh́n thấy ngươi bố thí ông ta dọa nạt[182] họ khiến họ phải sợ hăi. Trong khi họ thực hiện bố thí và thực hiện những hành vi thiện (dadantānaṃ karontānaṃ): đây là sở hữu cách hiểu theo nghĩa đối cách – khi họ thực hiện bố thí chính là họ thực hiện những phước báu. Rất nhiều người (bahujanaṃ): nhiều chúng sanh, đang khi họ bố thí và thực hiện phước báu ta lại có thói quen ngăn cản họ, cấm đoán nhiều người, một đám đông người không được thực hiện hành vi thiện đó. 8. “Bố thí không đem lại kết quả nào v.v... - đây là một lời khẳng định về những lư do của hắn để cản trở việc bố thí v.v... Về điểm này Bố thí không đem lại kết quả ǵ (vipāko n’atthi dānassa): tuy nhiên không có kết quả nào từ hành vi bố thí. Hắn làm rơ chỉ có phước báu mới đem lại công đức và bố thí chỉ là mất mát tài sản mà thôi. Về việc tự thu thúc. (saṃayamassa): việc thu thúc giới. Kết quả xuất hiện từ đâu? (kuto phalaṃ): tuy nhiên từ đâu ta đạt được kết quả? Nắm giữ luật giới là điều vô ích – đó là ư nghĩa. Những khu công viên giải trí (ārāmāni): những khu công viên giải trí và những cánh rừng. Những làng có nước uống bên đường (papāyo): những làng có nước uống. Tại những địa điểm khó vượt qua. (dugge): tại những địa điểm khó có thể tiến thêm được do có nhiều nước và đầm lầy. Những cây cầu (saṅkamanāni): những con đường đắp cao. 9. Khi ta diệt từ đó (tato cuto): khi ta qua đời khỏi cơi chúng sanh. Năm mươi lăm: pañcapaṇṇāsa = pañcapaññāsa (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Kể từ khi ta qua đời (yato kālaṅkato ahaṃ): kể từ khi ta qua đời trở đi. 10. Ta không ư thức (nābhijānāmi): v́ lúc nào ta cũng không ư thức ḿnh đă ăn ǵ hay uống bất kỳ điều ǵ. Kẻ nào tự ḱm hăm sẽ đi đến chỗ diệt (yo saṃyamo so vināso): keo kiệt v.v... không bố thí cho bất kỳ ai. – [103] quả thật đó chính là diệt đối với những chúng sanh trong hoàn cảnh đó, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến khổ cảnh bi thảm như các ngạ quỉ nơi cơi đó vậy. Kẻ nào bị diệt chính là bị kiềm hăm (yo vināaso so saṃyamo): với điều này hắn noi đến điều chắc chắn sẽ xảy ra thực trạng đă nói đến ở trên. Quả thật người ta nói rằng các ngạ quỉ đều biết rơ ( petā hi kira jānanti): từ ‘quả thật’ ở đây được dùng để nhấn mạnh và các từ ‘người ta nói rằng’ (kira) chỉ rơ chính là lời đồn đại; ngăn cản, thiếu từ tâm hoan hỷ với việc cúng dường chính là nguyên nhân dẫn đến diệt. Người ta kể lại rằng chỉ có ngạ quỉ biết được điều này do chính tự bản thân chúng đă bị kiềm toả. Chẳng phải chúng sanh biết được như vậy, điều đó không thể được[183] v́ ngay cả chúng sanh, giống như các ngạ quỉ, cũng được coi như bị đói và khát v.v... khống chế. Những ngạ quỉ th́ biết rơ hơn về thực trạng này, v́ chúng rất quen với những hành vi chúng đă thực hiện trong kiếp trước. Chính v́ lư do đó chúng thốt lên đoạn kệ bắt đầu với, ‘trong quá khứ cũng đă bị kiềm chế như vậy.’ 11.Về điểm này ta đă bị kiểm tỏa như vậy (saṃyamissaṃ): chính ta cũng đă tự keo kiệt, tự thu lại trong việc thực hiện phước báu như thể bố thí chẳng hạn v.v... cho dù có dồi dào tài sản (bahuke dhane): cho dù tài sản to lớn được biết tới. 16. Chính v́ thế: tam = tasmā (dạng ngữ pháp hoán chuyển). Đối với ta: vo = tumhe (dạng ngữ pháp hoán chuyển). Những lời chúc phước đến cho bạn (bhaddaṃ vo): tôi chúc phước cho bạn, phước lành và may mắn đến cho bạn. - đây là những lời c̣n lại. Từng người các bạn tụ họp lại ở đây (yāvant’ ettha saṃāgatā): từng người các bạn cũng như nhiều người khác đă tụ họp ở đây, nên lắng nghe điều ta nói đây - đây chính là ư nghĩa. Công khai (āvi): công khai, những người khác đều biết cả. Kín đáo (raho) : che đậy, không nh́n thấy được. Đừng phạm vào, đừng thực hiện, bất kỳ hành vi xấu xa, ti tiện, bất thiện hoặc công khai hay kín đáo bằng thân khẩu hay ư, như sát sanh, nói dối v.v... hay nơi chỗ kín đáo như thể tham lam chẳng hạn v.v... [184] 17. V́ nếu... một hành vi xấu xa (sace tam pāpakaṃ kammaṃ): v́ nếu nhà ngươi thực hiện hành vi xấu xa vào lúc này, hay trong tương lai, th́ chắc chắn không có lối thoát, không thể giải thoát khỏi khổ cũng lại chính là kết quả của hành vi đó đem lại. Như thể tái sanh nơi bốn khổ cảnh[185] như là hỏa ngục v.v... hay nếu được tái sanh nơi cơi chúng sanh th́ có sanh mệnh ngắn ngủi. Cho dù bạn có thể bay cao hay chạy trốn đi đâu (upaccā ’pi palāyitaṃ) có nghĩa là đơn giản bạn chẳng trốn đâu khỏi cho dù bạn có chạy đến đâu hay bay lên trời. Một số bản Kinh Phật cũng giải thích là chủ tâm (upecca): v́ kết cục hậu quả đó cứ bám sát bạn cho dù bạn có chạy trốn đến đâu đi chăng nữa; chủ tâm hay cố ư, [104] có nghĩa là điều bạn sẽ phải gặt hái kết quả đó khi có liên quan đến các điều kiện cần thiết khác về nơi chốn địa điểm[186] thời gian v.v... thực chất này cũng được giải thích trong đoạn kệ này: “Chẳng phải trên trời cao hay giữa đại dương hay chui vào khe núi là nơi bạn có thể coi đó là vị trí an toàn, bạn có thể chạy trốn được kết quả của hành vi xấu xa.’[187] 18. Hăy thảo kính mẹ (matteyyā):[188] v́ lợi ích cho mẹ ḿnh. Hăy (hotha): hăy phục dưỡng các ngài v.v... Hăy thảo kính Cha (petteyyā): ta nên hiểu điều ngày giống như trên. Kính trọng người cao niên trong gia đ́nh: kule jeṭṭhāpacāyikā = kule jeṭṭhākanaṃ apacāyantakarā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Các vị sa môn (sāmaṇṇā): hăy kính trọng các vị sa môn. Cũng như vậy hăy kính trọng các vị bà la môn (brahmaṇṇā): có nghĩa là hăy kính trọng các vị đă đoạn tận hết các lậu hoặc[189] bằng cách này bạn sẽ đi đến cơi thiên giới (evaṃ saggaṃ gamissatha) có nghĩa là sau khi thực hiện những phước thiện theo cách thức đă khẳng định ở trên bạn sẽ được tái sanh nơi cơi chư thiên (devaloka) Bất kỳ điều ǵ không có ư nghĩa được giải thích ở đây ta nên hiểu y hệt như những ǵ đă được đưa ra ở trên trong chuỵên kể về Ngốc Đầu Quỉ Sự.[190] v.v... Khi họ nghe được những ǵ phải được nói tới. Những thương nhân đó tâm đầy xúc động và thương xót ngạ quỉ đó. Liền lấy một tô nước, truyền cho ngạ quỉ nằm xuống và rẩy vào miệng hắn. Sau đó việc này được thực hiện nhiều lần nhưng nước bấy lâu nay ngạ quỉ ước ao chờ đợi đă không rơi vào cổ họng hắn.[191] Do kết quả những hành vi xấu xa ngạ quỉ đă làm. Làm thế nào có thể dập tắt được cơn khát của ngạ quỉ? Họ hỏi ngạ quỉ xem hắn có được chút khuây khoả [192] nào chăng? “Cho dù nhiều người đổ nước nhiều lần vào miệng tôi, nhưng vẫn không có lối thoát nào dẫn khỏi cơi ngạ quỉ.’hắn nói vậy. Khi các thương gia nghe thấy vậy họ rất kinh ngạc và nói. ‘Nhưng có nhiều cách để xua tan đi cơn khát chăng?’ [105] hắn lên tiếng, ‘Khi ác nghiệp này bị tàn lụi và bố thí được thực hiện cho vị Như Lai hay cho đồ đệ[193] của vị Như Lai và người ta hồi hướng phước thí đó cho ta, th́ ta mới được giải thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỉ.[194] Khi họ nghe được điều này các thương nhân liền đến thành Sāvatthī đi đến gặp Đức Phật và nêu vấn đề này với ngài. Họ qui y Tam Bảo và thọ tŕ giới và trong ṿng bảy ngày họ tổ chức một cuộc bố thí lớn cho tăng đoàn các vị tỳ khưu có Đức Phật dẫn đầu. Và hồi hướng phước thí này cho ngạ quỉ. Đức Phật coi vấn đề này như là nhu cầu nổi lên, và diễn giải Phật Pháp cho bon tăng đoàn và chúng sanh đă loại bỏ được vết nhơ ích kỷ bủn xỉn và thèm khát v.v... và lấy làm thoải mái thực hiện phước báu bố thí. v.v...
-ooOoo-
[164] Chú giải DPPN i 1064. [165]. Hiểu theo nghĩa đen. Tà kiến “Chẳng có ǵ sau đó”. Một học thuyết được gán cho Ajita Keskambalintrong và một số người trong D i 55 họ chối bỏ rất nhiều giáo lư trung tâm điểm của Phật Giáo. Thí dụ như họ chối bỏ thực hiện bố thí chẳng đem lại lợi ích ǵ ( đây là chủ đề cuốn sách này) thiện nghiệp và ác nghiệp chẳng đem lại bất kỳ quả nghiệp nào.. chẳng có thế giới mai hậu cũng như chẳng có giải thoát. xin đọc A. K Coomaraswany. “một số từ pāli’ Harvard Journal of the Asiatic Studies IV, 2 1939 tr 149tt; xin đọc PvA 215 244tt và đoạn kệ IV 326-27 [166]. Pālito, các đoạn kệ Kinh Tạng dưới đây, xin đọc chú thích xuất hiện trong PvA 260 cũng như xuất hiện ở đây. [167]. Borassus flaelliformis. [168]. PED sv kaṇṭha trích dẫn điều này như đă xuất hiện trong PvA 260 và điều xuất hiện trong PvA 260 như xuất hiện ở đây. [169]. Xin đọc chú thích trong PvA 111 dưới đây. [170]. Chú giải Se Be giải thích là sukkhanadiṃ c̣n bản văn ghi là rukkhamūlaṃ. [171]. Chú giải Se Be giải thích là hindumattām pi pānīyaṃ alabhitvā vigatāso chinnamūlo viya tālo chinnapādo pati c̣n bản văn ghi là. Tôi dịch chinnapādo pati bindumattāṃ pi alabhitvā ravi. Tato so chinnamūlo viya tāalo chinno pati“qú lạy xuống” cho dù điều này có nghĩa rơ ràng theo nghĩa đen là “phủ phục xuống dưới chân, giống như cây thốt nốt bị đốn hạ tận gốc. [172]. Chú giải Se Be giải thích là dhanassā’ pi c̣n bản văn ghi là dhanassāmi. [173]. Một phần tà kiến Natthika – xin đọc IV 323dưới đây. [174]. Chú giải Se Be giải thích là attakammaphalūpago c̣n bản văn ghi là –phalupeto. [175]. Chú giải Se Be giải thích là upaccā ‘ pi c̣n bản văn ghi là upacchapi; xin chú giải S I 209; Thig 248 và chú thích trong EV ii 109. [176]. Chú giải Se giải thích là rājūnaṃ c̣n bản văn ghi là vararājūnaṃ; Be giải thích đơn giản là rājūnaṃ và đưa ra tên gọi cả ở đây và trong đoạn kệ là Paṇṇas. [177]. Dhanapāla có nghĩa là ‘Thần giữ của” [178]. chú giải Be Se cũng giải thích giống như vậy; bản văn giải thích đơn giản là sakaṭavāhanaṃ [179]. Một dụng cụ đo lường, thường là để đong hạt ngũ cốc, không biết rơ số lượng là bao nhiêu. Trong Av v 173 = Sn tr. 126 cũng nói tới một dụng cụ đong Kosalan khari và có thay đổi tuỳ theo vùng. [180]. Chú giải Se Be giải thích là asīti hiraññassa tatthā kahāpaṇassa ca c̣n bản văn ghi là asītīhi raññassa kahāpaṇassa. Đồng tiền kahapanas này là đồng tiền cắc, thường là đồng tiền vàng, và cũng có đồng tiền làm bằng đồng và bạc. [181]. Một cách đo lượng vàng: 1bhara=20 tulas=2000palas (SED 753). Y này không thấy liệt kê trong PED [182]. Chú giải Se Be giải thích là santajako c̣n bản văn ghi là santajjito. [183]. Bản văn đă chấm câu sai và nên giải thích với Se Be là: na manussā ti. Na-y-idaṃ yttaṃ manussānaṃ pi. [184]. Xin đọc chú giải đoạn kệ mẹ của Piyakara trong S I 209 [185]. Apāya – tái sanh nơi hoả ngục, làm ngạ quỉ, làm atula và làm súc sanh. [186]. Gati. [187]. Xin đọc chú giải chú thích trong PvA 148 dưới đây. [188]. Bản văn đă ghi sai là mettey ya. [189]. Đó chính là một vị A-la-hán ; xin đọc đặc bịêt Dhp 383-423. [190]. I. 10 ở trên [191]. Chú giải Se Be giải thích là adhogalaṃ c̣n bản văn ghi là udhogalaṃ [192]. Chú giải Be giải thích là kāci c̣n bản văn Se ghi là kā pi. [193]. Đó là vị Nhập lưu, vị bất lai, vị Nhất Lai và vị A-la-hán và những kẻ nào đang theo đuổi chánh đạo tương xứng. Có cả các đạo hữu và các chư thiên nữa cũng như các tỳ khưu. Họ là những người lắng nghe Phật Pháp là những đồ đệ, hiểu theo nghĩa họ chiếm được chánh kiến thông qua Nhăn Pháp thông qua lắng nghe giáo lư về Tứ Diệu Đế, xin đọc Trung Bộ Kinh (M) I 380 và đề tài luận án tiến sĩ của tôi tại Đại học Lancaster) bao gồm Tăng già thánh PvA I 110 và được phân phát trong tằng đoàn các tỳ khưu ngay khi có một số vị tỳ khưu được nhận vào trong tăng đoàn đó. [194]. Chú giải Se Be giải thích là petattato c̣n bản văn ghi là petato.
|
|
![]()