|
CHÚ GIẢI CHUYỆN NGẠ QỦI (Petavatthu-aṭṭhakathā) Nguyên Tác: PARAMATTHADĪPANĪ NĀMA
Tác giả:
DHAMMAPĀLA
Hiệu đính- Giải thích: PETER
MASEFIELD PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
II.11 Chú giải chuyện ngạ quỉ CUỘN CHỈ ‘Trong quá khứ ta đă bố thí cho một vị tỳ khưu, là người đă xuất gia.’ Đây chính là chuỵên kể về Chuyện Ngạ quỉ Cuốn chỉ. Chuyện kể đă khởi sự ra sao? Người ta kể lại rằng hơn bảy trăm năm trước khi Đạo sư của chúng ta xuất hiện tại một ngôi làng nọ không cách xa thành Sāvatthī là bao, có một chàng thanh niên trẻ tuổi đă hỗ trợ Đức phật Độc giác. Khi chàng thanh niên đến tuổi trưởng thành, mẹ cậu đă kiếm cho cậu cô gái nọ thuộc gia đ́nh tốt của bộ tộc rất môn đăng hộ đối với chàng trai. Nhưng chính vào ngày kết hôn, th́ cậu ta đă đi tắm với một số bạn bè đồng trang lứa và đă bị rắn cắn chết. Người ta thường cho là cậu bị yakka nhập.[381] [145] Cho dù chàng trai trẻ đă làm rất nhiều phước báu liên quan đến việc cậu đă hỗ trợ[382] Đức phật độc giác ấy. Vậy do cậu quá luyến ái với cô gái đó thế nên chàng trai đă tái sanh thành một Thiên Cung Ngạ quỉ nhưng lại có nhiều sức mạnh và oai lực, ước ao được đem cô gái vào cung của ḿnh, chàng đă suy tính, ‘Giờ đây bằng cách nào nàng có thể thực hiện được một hành vi để cảm nghiệm chính cuộc sống[383] và hưởng thụ khoái cảm t́nh yêu với ta trong căn nhà này? Đang khi c̣n đang suy tính xem bằng cách nào nàng có thể cảm nghiệm được thù thắng cảm khoái chư thiên th́ chàng trai nh́n thấy một Đức phật độc giác đang may y cà sa. Chàng hiện nguyên h́nh thành người và đảnh lễ trưởng lăo rồi hỏi, ‘ Thưa ngài, ngài có cần chỉ không?’ Hỡi thiện nam, chúng ta đang may y cà sa (ngài đáp lại). Chàng chỉ cho trưởng lăo căn nhà của cô gái, nói rằng, ‘thôi được rồi, ngài hăy đi và xin nàng một ít chỉ ngay tại vị trí như ta đă chỉ cho ngài.’ Vị Độc giác phật đi tới đó và đứng bên ngoài cửa ngôi nhà. Khi nàng nh́n thấy vị Độc giác phật đứng đó, nàng nhận ra ngài là người đáng nhận phước thí có được một chút chỉ nàng biếu tặng. Và với ḷng tịnh tín nàng đă đưa cho ngài một cuộn chỉ. Thế rồi vị Chư Thiên đội lốt người đă đi tới ngôi nhà của người con gái đó, yêu cầu mẹ nàng đồng ư cho chàng lưu lại trong căn nhà đó với nàng trong một ít ngày. Để giúp mẹ nàng chàng đă đổ đầy những b́nh gốm trong nhà với tiền và vàng và rồi ghi trên đó tên chàng nói rằng, ‘Tài sản này do các chư thiên ban tặng chẳng ai có quyền xâm phạm’ và thế rồi chàng đă dẫn cô gái đi theo chàng về nhà ḿnh. Mẹ nàng sau khi đă chiếm được số tài sản dồi dào đó đă phân phát cho họ hàng ruột thịt và cho những người nghèo khổ và những người vô gia cư v.v... [384] và chính bà cũng sử dụng. Khi bà qua đời bà c̣n dặn những người họ hàng thân thuộc rằng, ‘Nếu con gái ta trở về nhà hăy chỉ cho nó số tài sản này; và rồi bà qua đời. Thế rồi bảy trăm năm sau khi Đức Phật đă xuất hiện trên thế gian này và đă khởi động chuyển pháp luân tứ diệu đế và đến đúng thơi hạn ngài đă đến thành Sāvatthī, sự bất măn đă nổi lên với người đàn bà đang phải sinh sống với một chư thiên. Nàng đă nói với chàng rằng, ‘Thưa đức lang quân, xin đưa em về nhà đi’ và rồi thốt lên những đoạn kệ như sau: 1. ‘Trong quá khứ em đă bố thí [385] cho tỳ khưu, là kẻ xuất gia, một cuộn chỉ v́ đó mà ngài đă t́m đến em. [146] do kết quả phước báu đó [386] em đă nhận được phước báu dồi dào và nhiều kotis y phục đă xuất hiện trước ta. 2. Cung điện của chàng được trải hoa, trông vô cùng hấp dẫn và khoái cảm; có vô số bức hoạ và có rất nhiều người đàn ông đàn bà hầu hạ. Em đă sử dụng mọi thứ trong đó và ấy vậy những của cải dồi dào đó chẳng bao giờ cạn kiệt. 3. Do đó, v́ kết quả của chính hành vi thiện đó hạnh phúc và sung sướng em đă nhận được tại đó. Khi một lần nữa em được tái sanh nơi kiếp con người em quyết thực hiện rất nhiều phước thiện. Xin hăy đem em đi theo thưa đức lang quân. 1. Về điểm này cho một tỳ khưu, là người đă xuất gia (pabbajitassa bhikkhuno): điều này muốn ám chỉ đến Đức phật độc giác, ngài đă xuất gia[387] hiểu theo nghĩa tuyệt đối liên quan đến vấn đề ngài đă loại bỏ được các vết nhơ tham dục v.v... trong ḷng ḿnh, loại bỏ không bỏ qua bất kỳ điều ǵ, ngài là người xứng nhận phước báu và được gọi là ‘tỳ khưu’ (bikkhu) do ngài đă triệt phá hết các lậu hoặc (bhinnakilesattā). Cuốn chỉ (suttaṃ): cuốn chỉ bông. Ngài đă tới (upagamma): ngài đă tới nhà em. Yêu cầu em (yācitā): ngài đă xin em bằng cách đi khất thực sử dụng chính dáng điệu thể chất được nhận thấy rơ để gợi ư cho thấy rằng, ‘cách đứng của bậc thánh nhân chỉ rơ[388] – đây chính là cách xin[389] của một vị thánh. Của cải đó (tassa): của thí một cuốn chỉ đó. Do kết quả dồi dào em đă nhận được (vipāko vipulaphal’ ūpalabbhati): do kết quả đă đem lại nhiều kết quả dồi dào tuyệt hảo nhất, giờ đây đă nhận được, giờ đây em đă cảm nghiệm được. Nhiều (bahu): vô số kể. Kotis y phục: vatthakoṭiyo=vatthanaṃ kotiyo ( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) có nghĩa là vô số, hàng trăm, hàng ngàn các loại y phục khác nhau. 2. [147] Có vô số tranh vẽ (anekacittaṃ): có rất nhiều loại tác phẩm vẽ[390] được trang hoàng với vô số châu báu như ngọc, đá quí v.v... có rất nhiều đàn ông, đàn bà hầu hạ. (naranārisevitaṃ): có những người đàn ông và đàn bà hầu hạ.[391] Em đă sử dụng thiên cung đó (sāhaṃ bhuñjāmi): ta đă hưởng ngôi nhà đó. Mặc y phục vào (pārupāmi): mặc quần áo. Của cải phong phú (pahūtavittā): có nhiều của cải cần thiết cho cuộc sống, có tài sản rất lớn và rất nhiều tài sản. Không bị cạn kiệt (na ca tāva khīyati): ấy vậy mọi của cải đó không bị cạn kiệt. Không giảm sút, không cạn kiệt. 3. V́ vậy, do kết quả của chính hành vi đó (tass’eva kammassa vipākaṃ anvayā): v́ vậy, bằng cách, v́ lư do chỉ một ḿnh hành vi công đức đó là bố thí một cuộn chỉ, mà hạnh phúc và hoan hỷ đă nảy sanh bao gồm điều sảng khoái và ngọt ngào tựa như mật ong em đă nhận được trong thiên cung đó. Đă trở lại kiếp người một lần nữa (gantvā puna-m-eva mānusaṃ) đă trở lại kiếp người một lần nữa. Em quyết thực hiện những phước báu (kāhāmi puññāni): Em sẽ thực hiện phước báu hầu đem lại hạnh phúc đặc biệt cho chính ḿnh, hay những ǵ xuất phát từ thù thắng em đă đạt được. – đây là ư nghĩa. Xin hăy đưa em đi, thưa đức lang quân, tới kiếp con người (nay’ayyaputta maṃ) có nghĩa là hăy đưa em trở lại (naya = nehi, một dạng ngữ pháp hoán chuyển) với kiếp con người, hỡi đức lang quân của em ơi. Khi ngài nghe được điều này, do không muốn ra đi do ḷng luyến ái với nàng và cả ḷng gắn bó với nàng, vị phi nhân ấy đă thốt lên đoạn kệ này: 4. ‘Đă bảy trăm năm, kể từ khi em đến đây, em sẽ già đi và luống tuổi tại đó và toàn bộ họ hàng ruột thịt của em đă qua đời hết cả. Em sẽ làm ǵ được khi em quay lại kiếp người từ chốn này?’ 4. Về điểm này, bảy (satta): đây chỉ là một thuộc từ bỏ qua biến tố, hay là một cách diễn tả đặc biệtt[392] ở thể công cụ. Trăm năm:vassatā = vassasatato (một dạng ngữ pháp hoán chuyển): đă hơn bảy trăm năm trở về trước khi nàng đến đây, khi nàng đến cung thự này, có nghĩa là đă bảy trăm năm từ khi nàng đến đây. [148] Nàng đă trở nên già cả và có tuổi tại đó (jiṇṇa ca vuḍḍhā ca tahiṃ bhavissasi): nàng đă giữ lại vẻ mặt thanh xuân của nàng tại đây trong suốt thời gian đó nhờ oai lực phước báu nàng đă lưu lại nơi đây với vật thực chư thiên và khí hậu[393] trong lành. Nhưng khi nàng từ bỏ nơi đây mà đi, do phước báu đó đă cạn kiệt và do vật thực và nhiệt độ kiếp người, em sẽ già cỗi đi và luống tuổi ngay tại kiếp con người. Và toàn bộ họ hàng thân thuộc của em đă qua đời (sabbe ca te kālakatā ’va ñātakā): trong kiếp đó một khoảng thời gian dài đến như vậy đă trôi qua và do toàn bộ họ hàng thân thuộc của em đă chết hết. Chính v́ thế em sẽ làm ǵ khi đi tới nơi cơi con người, từ nơi đây, từ cơi chư thiên này? Hăy ở lại đây, hăy dành cuộc đời c̣n lại của em tại đây. Đây là ư nghĩa. Khi vị ấy nói như vậy không tin những ǵ chàng đă nói, nàng nói thêm và thốt lên đoạn kệ như sau: 5. Chính v́ đă bảy năm kể từ khi em tới đây đă được hưởng hạnh phúc thần tiên. Khi em đă quay trở lại kiếp sống con người thêm một lần nữa, em nhất quyết sẽ làm rất nhiều phước báu. Hỡi vị lang quân hăy đưa em ra khỏi đây. 5. Về điểm này Chính v́ đă bảy năm em đến đây (satt’ eva vassāni idhāgatāya me): hỡi vị lang quân, h́nh như với em đó mới chỉ có bảy năm đă trôi qua do đă được thưởng thức hạnh phúc chư thiên được bảy trăm năm, khi nàng đă nói như vậy ngạ quỉ thiên cung đă khuyên nàng bằng một số cách, ‘Em sẽ chẳng sống ở đó được bảy ngày nữa kể từ giờ. Có một số tài sản ta đă ban cho em và mẹ em đă bỏ sang một bên. Hăy bố thí cho các sa môn và các vị bà la môn với ước mong là em sẽ được tái sanh trở lại ngay tại đây.[394] Khi chàng đă nói ra điều đó chàng liền nắm tay nàng và đặt nàng ngay giữa ngôi làng.[395] Nói cho nàng biết nàng nên động viên những người khác cũng đến đây để thực hiện các nghiệp phước theo đúng khả năng của họ cho phép, và rồi chàng rời khỏi nàng, v́ lư do đó có lời nói rằng: 6. [149] Chàng đă nắm chặt cánh tay nàng và dẫn nàng trở lại, ra vẻ già nua và yếu đuối, nói rằng, ‘Nàng phải nói cho nhiều người đến đây, “Hăy thực hiện những hành vi công đức và họ sẽ nhận được hạnh phúc.” 6. Về điểm này Chàng (so): là ngạ quỉ thiên cung. Của nàng (tam): người phụ nữ. Nắm chắc lấy cánh tay nàng (gahetvāna pasayha bāhāyaṃ): cầm lấy cánh tay như thể dùng sức mạnh. Dẫn nàng trở lại (paccānayitvāna): dẫn nàng trở lại ngôi làng một lần nữa trong ngôi làng đó nàng đă sanh ra và lớn lên. Yếu đuối (theriṃ): giống như một phụ nữ [396] yếu đuối có nghĩa là yếu đuối v́ cao tuổi và dáng vẻ lụ khụ của nàng. Người ta kể lại rằng ngay sau khi nàng rời khỏi thiên cung đó nàng đă trở thành già cả, cao tuổi, do năm tháng chi phối, nàng đă trải qua tuổi thọ và đă đến lúc kết thúc sanh mệnh[397]. Em phải báo cho: vajjesi = vādeyyāsi (một dạng ngữ pháp hoán chuyển). Để làm rơ những ǵ nàng phải nói, ‘chúng sanh khác cũng phải v.v... được nói cho biết. Đây là ư nghĩa: ‘Em yêu, em nên thực hiện những phước báu và em cũng nên nói cho, em cũng nên động viên người khác cũng đến đây gặp em nói rằng, ‘Thưa các chư huynh đáng kính,[398] ngay cả như dầu và y phục[399] của các bạn đă bị cháy sáng[400] th́ các bạn cũng nên bỏ qua điều này và thực hiện những phước báu như thể các việc giới đức. Bố thí v.v... v́ khi ta thực hiện những phước báu th́ hạnh phúc chính là kết quả của những nghiệp đó chắc chắn bạn sẽ nhận được[401]. Đây là điều không c̣n ǵ phải nghi ngờ!’ Khi chàng đă nói như vậy và rời khỏi đó. Người đàn bà đi tới nơi các họ hàng thân thuộc của nàng cư ngụ và rồi hiện nguyên h́nh trứơc mặt họ. Nàng đem của cải chàng đă giao cho nàng và bố thí cho các sa môn và các vị Ba la môn. Động viên tất cả những người đến gặp nàng với đoạn kệ sau: 7. ‘Ta đều nh́n thấy các ngạ quỉ cũng như chúng sanh, khi họ phải buồn khổ v́ đă không thực hiện phước báu, [150] ta cũng thấy cả các chư thiên và con người nữa, là giống ṇi muốn an trú trong hạnh phúc. Sau khi đă thực hiện phước báu mà quả là sẽ được hưởng hạnh phúc. 7. Về điểm này do không thực hiện (akatena): do không tạo ra được, do tự ḿnh đă không tích luỹ được. Những hành vi thiện (sādhunā): những hành vi thiện. Đây là công cụ cách với dấu chỉ biến tố[402]. Khi họ phải trải qua sầu khổ (vihaññanti): khi họ gặp phải cảnh khốn cùng. Mà kết quả được hưởng phải là hạnh phúc (sukhavedanīyaṃ): những phước báu đem lại kết quả nơi hạnh phúc. Vững vàng trong hạnh phúc (sukhe ṭhitā): được an tịnh nơi hạnh phúc; một cách giải thích khác nữa là “được nuôi dưỡng trong hạnh phúc’ (sukhedhitā),[403] có nghĩa là họ tiến tới và phát triển[404] liên kết với hạnh phúc. Đây là ư nghĩa; cũng giống như các ngạ quỉ, và chúng sanh cũng vậy ta đều nh́n thấy họ lâm vào cảnh khốn khổ, gặp phải cảnh khốn cùng do đói khát v.v... và phải trải qua khốn khổ to lớn do không thực hiện những điều thiện và do đă làm những điều bất thiện (cũng chính v́ thế) ta nhận ra ṇi giống này thuộc hạng chư thiên[405] và con người đă muốn an trú trong hạnh phúc sau khi đă thực hiện những phước báu mà kết quả đem lại là hạnh phúc. – thông qua thực hiện những phước thiện và thông qua không thực hiện những hành vi bất thiện. Chính ta cũng nhận ra điều này bằng chính mắt ḿnh. Chính v́ thế hăy cố gắng thực hiện phước báu, hăy tránh xa việc xấu xa vậy. Sau khi đă động viên họ, nàng đă tổ chức một cuộc bố thí lớn dành cho các sa môn và các vị bà la môn kéo dài trong bảy ngày, vào ngày thứ bảy nàng đă qua đời và được tái sanh nơi cơi Tam Thập Tam. Các tỳ khưu đă nêu vấn đề này cho Đức Phật biết, ngài đă nhân cơ hội này coi vấn đề này như là nhu cầu nổi lên và đă diễn giải Phật Pháp[406] cho đám đông tụ họp lại tại đó. Ngài đă giải thích một cách đặc biệt về lợi ích to lớn và kết quả vĩ đại công cuộc bố thí được bắt đầu liên quan đến Vị Độc giác Phật. Khi họ nghe điều này chúng sanh được giải thoát khỏi mọi vết nhơ ích kỷ và được hoan hỷ nơi những phước báu như bố thí v.v...
-ooOoo-
[381] Chú giải Se Be giải thích là yakkhagāhenā ti pi c̣n bản văn ghi là yakkhagāhenāpī ti. [382]. Chú giải Se Be giải thích là upaṭṭhānena bahuṃ c̣n bản văn ghi là upaṭṭhāane na bahuṃ. Ư nghĩa ở đây chính là điều ngược lại với đề xuất của Gehman đă bỏ qua điểm gắn kết với một thành viên khác giới vào lúc qua đời nhằm giảm bớt phần thưởng nghiệp chướng người đó có được ở nơi khác. – chủ đề này thỉnh thoảng cũng lại xảy ra bắt đầu từ chuyện kể đầu tiên; xin đọc PvA 5 ở trên. [383]. Xin đọc chú giải PvA 242. [384]. Chú giải Se Be giải thích là kapaṇaddhidīnañ ca c̣n bản văn ghi là kappaṇi-; xin đọc PvA 78. [385]. Chú giải Se Be giải thích là adāsiṃ c̣n bản văn ghi là adāsi. [386]. Chú giải Se Be giải thích với tassa, là từ đầu tiên trong ḍng thứ ba của đoạn kệ hơn là với bản văn, là từ cuối cùng của ḍng thứ hai. [387]. Có nghĩa là, từ bỏ cơi trần tục. [388]. Chú giải Se Be giải thích là vuttāya kāyaviññatti- c̣n bản văn ghi là vuttakāya viññatti- [389]. Uddissa ariyā tiṭṭhanti esā ariyānaṃ yācanā ti. điều này lại xảy ra trong J iii 354 và Miln 230; cũng được trích trong SnA 318 và đoạn tương tự có thể t́m thấy trong Mvu iii 419. 420. theo tập chú giải Kinh Bản Sanh người ta cho rằng các vị thánh đức đều đứng bất động và không nói một lời, họ không thực hiện bất kỳ cử điệu nào bằng cách thay đổi tư thế thể chất cũng như phá vỡ yên lặng để có thể thu hút chú ư. C̣n nữa họ đứng yên không cử động và không nói lời nào chỉ muốn ám chỉ họ cần của bố thí. Xin đọc chú giải những cuộc thảo luận trong Miln 229tt [390]. Cả hai chú giải Se Be đều thêm vā vào đây. [391]. Chú giải Se Be giải thích là paricārakabhūtehi c̣n bản văn ghi là parivātaka-; xin đọc PvA 205. [392]. paccattavacanaṃ, cư sự thường là ở đối cách. [393]. utu, khí hậu. Một trong bốn nhân duyên (paccaya) thuộc các đại (bhūta) nhân duyên sắc giới, các nhân duyên khác gồm nhân duyên nghiệp chướng, tâm nhân duyên và vật thực nhân duyên (như ở đây, trong trường hợp này) xin đọc CPD sv utu để có nhiều chi tiết hơn. [394]. Đối với chức vụ ước muốn hay chọn lựa có thể ảnh hưởng đến việc định đoạt cảnh tái sanh tiếp theo của chúng ta xin đọc Trung Bộ Kinh (M) I 289tt , iii 99tt. [395]. Chú giải Se Be giải thích là gāmamajjhe ṭhapetvā c̣n bản văn ghi là gāmam ajjhoṭhapetvā. [396]. Chú giải Se Be giải thích là thāvariṃ juṇṇaṃ, thường thường ở thể đối cách. [397]. Đây chính là của cải - xin đọc Trung Bộ Kinh (M) i 82; Vin ii 88, iii 2 v.v… [398]. Chú giải Se Be giải thích là bhadramukhā c̣n bản văn ghi là –mukkha; xin đọc chú giải n 7 trong PvA 95 ở trên. [399]. Chú giải Se Be giải thích là celaṃ c̣n bản văn ghi là colaṃ. [400]. Hinh ảnh này lại xảy ra tương đối thường xuyên – xin đọc chú giải S I 108. iii 143, v 440; Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 93, iii 308. iv 320, v 93 tt v.v… [401]. Chú giải Se Be giải thích là upalabhati c̣n bản văn ghi là upalabhati. [402]. Có nghĩa là với một biến cố công cụ cách. [403]. Chú giải Se Be cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là diṭṭhā. [404]. Chú giải Se Be giải thích là phỵt c̣n bản văn ghi là ṭhitā. [405]. Chú giải Se Be giải thích là devamanussapariyāpannā c̣n bản văn ghi là manussāpariyāpannā. [406]. Chú giải Se Be giải thích là desesi c̣n bản văn ghi là dassesi.
|
|
![]()